Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19
Câu Lạc Bộ

❊ ❊ ❊

QUỐC HỘI MỸ là một thể chế cổ xưa tụt lại phía sau tất cả các thể chế còn lại của nước Mỹ. So ra ít đa dạng hơn, nhưng giàu có hơn, và trong những quy tắc và tục lệ của nó có một hỗn hợp hai mặt của thủ tục quốc hội kỳ quặc với tính đảng phái tàn bạo đang va nhau ầm ĩ.

Tuy nhiên, có những nét khác biệt quan trọng giữa hai viện quốc hội và trong lòng bản thân Thượng viện, nơi thâm niên thắng thế. Các thượng nghị sĩ, vốn đối mặt với việc tái bầu cử mỗi sáu năm, ra vẻ kẻ cả với những đồng nghiệp ở Hạ viện của mình, những người phải thắng các cuộc tái bầu cử mỗi hai năm. Thượng viện, tức viện bên trên, được cho là có quyền thảo luận hơn rất nhiều – không giống với Hạ viện, với các quy tắc của nó quy định rằng 60 phần trăm số thành viên phải đồng thuận để chấm dứt một cuộc tranh luận – và văn hóa của giới tinh hoa lâu nay vẫn thường khuyến khích tính điềm đạm vốn không thấy ở viện kia. Thượng viện cũng gồm phần lớn là đàn ông; trong suốt nhiệm kỳ của Hillary, lúc nhiều nhất cũng chỉ có mười sáu nữ thượng nghị sĩ.

Nguyên tắc cơ bản mang lại thành công cho Hillary tại Thượng viện là sự kết hợp giữa nét hấp dẫn và tận tụy. “Bà ấy kiên nhẫn và cần cù. Bà ấy nhớ tuyệt vời tên và ngày sinh nhật của bạn; quả là một năng khiếu trời cho,” một phụ tá thượng viện nhớ lại. Một trong những mục tiêu chính của Hillary là Robert C. Byrd, vị thượng nghị sĩ lâu năm nhất và là một người “không dễ gì hấp dẫn được,” người phụ tá thêm vào. Hillary đã chạm mặt Byrd vài năm trước khi bà cố lén đưa những cải cách y tế vào luật bằng cách thêm chúng vào những dự luật khác, và bà đã làm việc cần mẫn để có được sự ủng hộ của ông. “Bà ấy nhận thức rất rõ về các quy tắc của Thượng viện, về tầm quan trọng của thâm niên,” James Varey nói ông là người đứng đầu lực lượng cảnh sát đồi Capitol trong những năm đầu tiên của Hillary ở Thượng viện.

Và hẳn nhiên Hillary không phải là một quan chức dân cử bất kỳ nào đó. Kinh nghiệm của Đệ nhất Phu nhân đã giúp bà làm ảo thuật trong những căn phòng chờ của Thượng viện. “Bà ấy gặp bạn trong phút chốc và khiến cho bạn nghĩ rằng bạn biết bà ấy,” người phụ tá nhớ lại. Theo lời Thượng nghị sĩ Barbara Mikulski từ Maryland, bản chất tốt đẹp, tính hài hước, và khả năng “kể một câu chuyện hay” của bà làm ngạc nhiên một số đồng nghiệp của bà. “Điều gây ấn tượng mạnh với phe Cộng hòa là bà mới cần cù, nghiêm túc, và không định kiến làm sao,” Mikulski nói. “Họ càng tôn trọng bà vì bà không có khuynh hướng tìm tới các thợ săn ảnh.”

Thượng nghị sĩ Cộng hòa John McCain đồng ý. “Bà ấy bước vào Thượng viện dưới sự dò xét kỹ lưỡng nhất của bất kỳ một thượng nghị sĩ nào trong lịch sử gần đây, có khả năng là từ thời Teddy Kennedy,” McCain nói, và “bà ấy đã cư xử rất đáng khâm phục.” McCain còn thêm vào rằng Hillary “luôn luôn chuẩn bị tốt” tại các buổi họp mà cả hai cùng dự ở Ủy ban Quốc phòng Thượng viện.

Sự chuẩn bị đó thường là sản phẩm của một đêm dài nhồi luyện. Khi Hillary về nhà sau sự kiện cuối cùng, bà thường mang theo một xấp các bản tóm tắt dày cộm được nhân viên của mình chuẩn bị. Đôi khi chúng lên tới hai trăm trang hoặc hơn.

“Với bà, một ngày thường sẽ kết thúc rất trễ,” một cựu phụ tá giải thích. “Buổi sáng hôm sau, khi bạn nhận được cuộc gọi báo thức trước cuộc họp đầu tiên của bà, thường là vào khoảng bảy rưỡi hay tám giờ, thì thường là bà đã tiêu hóa mớ tài liệu từ buổi đêm hôm trước, mặc dù cho đến tận mười giờ bà vẫn chưa nhìn thấy nó.” Nghiên cứu “làm bà thư giãn,” một cố vấn Thượng viện nói. “Những khi nghỉ ngơi, bà tiếp thu thông tin và thích thú làm điều đó.”

Một trong những cựu phụ tá đã ngạc nhiên bởi đạo đức công việc của bà đến nỗi ông có “cảm giác là bà ấy không cần ngủ nhiều lắm.” Trên thực tế, khác với Bill, vốn không bao giờ lên giường trước nửa đêm, Hillary lại “cần nhiều thời gian nghỉ ngơi và ngủ,” một cựu phụ tá Nhà Trắng cho biết. Nếu vậy, bà thực sự là một người học rất nhanh.

Những buổi nghiên cứu không phải chỉ bó vào buổi tối. Công việc sáng sớm của Hillary bao gồm đọc và phân tích một bản tóm tắt các bản tin hằng ngày đã được một phụ tá ít thâm niên chuẩn bị sẵn, trong đó không chỉ bao gồm những câu chuyện có đề cập đến bà mà còn cả những bài báo về các vấn đề hay đề tài mà bà quan tâm. Tập tài liệu phải được gửi đến Hillary khá sớm trước khi bà làm bất kỳ việc gì trong ngày, vậy nếu bà có một cuộc gặp điểm tâm vào 7 giờ 30 hay 8 giờ đúng, viên phụ tá ít thâm niên đó phải dậy rất sớm vào buổi sáng để chuẩn bị tập tài liệu các bài điểm báo.

Ngay từ đầu, khối lượng công việc ủy ban của Hillary đã là đáng kể. Theo những quy tắc không chính thức, thượng nghị sĩ chỉ có thể tham gia vào hai ủy ban chính. Nhưng nhờ có sự khước từ của người lãnh đạo đảng của bà, mà Hillary, như một vài đồng nghiệp có nhiều thâm niên hơn, có ghế trong ba ủy ban – Quốc phòng (ủy ban mà bà tham gia hai năm sau khi bắt đầu nhiệm kỳ đầu tiên), Y tế, Giáo dục, Lao động và Hưu trí (HELP), và Môi trường-Công trình Công cộng.

Địa vị chính thức của bà như một trong những thành viên cấp thấp nhất của ủy ban đã gây ấn tượng sai lầm về năng lực thật của bà. “Hầu hết những thành viên mới ngồi ở cuối hàng, bạn hiếm khi nghe thấy họ nói gì,” một phụ tá Thượng viện cho biết, khi nói đến thông lệ xếp chỗ các thành viên theo thâm niên, với người có thâm niên cao nhất ngồi chính giữa. “Nhưng bà ấy lại đóng một vai trò quan trọng hơn nhiều so với những thành viên có thâm niên cao hơn. Mỗi khi bước vào phòng họp của ủy ban HELP, bà đều gây ra một chút xôn xao nhỏ. Bởi vì đó là bà. Tiếng tăm bà quá nổi.”

Nhiều người New York đã kinh ngạc trước việc bà đã đấu tranh kiên trì thế nào vì họ, ngay cả khi đấu tranh cho New York đồng nghĩa với việc khiến cho những đồng minh chính trị xa lánh bà. Ví dụ một cuộc chiến, xảy ra trong Ủy ban HELP vào năm 2006 và liên quan đến một dự luật tài trợ cho các bệnh nhân AIDS có tên gọi “Luật Chăm sóc Ryan White.” Trong công thức tài trợ liên bang của dư luận khoản phân bổ cho New York bị giảm xuống, bất chấp số lượng lớn bệnh nhân của bang, trong khi lại cấp nhiều hơn cho những bang khác. Tuy các thượng nghị sĩ đại diện các bang khác cũng cảm thấy khuất tất, nhưng không từ bỏ chút nào của phần tài trợ của họ vì New York. Hillary kiên quyết đấu tranh cho ra lẽ.

“Một tay bà ta đã ngăn cản dự luật đó chậm được thông qua mất cả mấy tháng và đặt nhiều người của phe Dân chủ vào thế nguy hiểm,” theo lời một viên chức Dân chủ của Ủy ban HELP. Cuối cùng bà dịu xuống và dự luật được thông qua. “Thượng nghị sĩ Kennedy, thành viên xếp cao nhất[1], đã không đồng tình với bà trong việc này. Thậm chí khi gây nguy hiểm cho những bang khác, bà đã không trừ ra bang nhà của chính mình.” Hillary đạt được chiếc ghế quan trọng nhất của mình, một chỗ trong Ủy ban Quốc phòng, sau các cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2002. Hillary là thượng nghị sĩ New York đầu tiên tham gia vào ủy ban, và về phần bà, đó là một quyết định rất có ý thức nhằm đánh bóng lý lịch an ninh quốc gia của mình sau các cuộc tấn công vào ngày 11 tháng 9. “Bà đi thẳng tới việc tham gia vào Ủy ban Quốc phòng Thượng viện vì một lý do – để có thành tích về các vấn đề an ninh quốc gia,” một cựu phụ tá cho biết.

Hillary trước đó đã gây ấn tượng với Phó Tham mưu trưởng quân đội, tướng John Keane, một trong những kiến trúc sư của cuộc xâm lược Iraq, với sự “thấu hiểu phi thường” của bà về văn hóa quân đội. Vì vậy bà quay sang Keane, vốn sắp về hưu, và yêu cầu cho viên sĩ quan phụ tá của ông, Paul Paolozzi, được bổ nhiệm vào văn phòng của bà như một nghiên cứu sinh quân sự. Hillary dựa vào chuyên môn của Paolozzi để chuẩn bị cho các buổi họp của mình, và bà tán dương ông tại buổi lễ nhân dịp ông được thăng chức vào năm 2004 thành trung tá. Hillary nhanh chóng học được cách làm thế nào để hòa vào một cộng đồng vốn đã từ lâu nuôi dưỡng thái độ thù địch đối với chồng bà. “Bà tương tác rất tốt với những người mang quân phục cả đàn ông lẫn đàn bà,” Thượng nghị sĩ McCain nói ông là người biết điều đó.

Việc làm trong Ủy ban Quốc phòng của Hillary cho phép bà vươn tới quân đội, một thành phần cử tri quan trọng của New York, tiểu bang của một số căn cứ quân sự cũng như học viện quân sự West Point danh giá. Nó cũng cho phép bà đi lại theo diện công tác chính thức tới những khu vực chiến sự nơi bà có thể làm quen với một loạt các vấn đề thúc bách vốn sẽ chi phối chiến dịch tranh cử tổng thống của bà.

VÀo ĐẦu năm2003, Hillary đang ở trong thang máy của trụ sở Quốc hội với một nữ thượng nghị sĩ khác, một đồng nghiệp Đảng Dân chủ, thì hai người thoáng thấy Elizabeth Dole, nữ thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa mới trúng cử từ North Carolina và là vợ của cựu thượng nghị sĩ Bod Dole, người mà Bill đã đánh bại trong kỳ tranh cử tổng thống năm 1996.

Hillary và người đồng nghiệp Đảng Dân chủ của bà lặng lẽ trao đổi những cái nhìn và tiếng khẽ cười rúc rích. Sau khi bà Dole đi rồi, Hillary nói, “Bà có nhìn bộ mặt ấy không?” – ám chỉ rằng bà nghi ngờ bà Dole sáu mươi tuổi đã trải qua giải phẫu thẩm mỹ. Hai người phụ nữ mỉm cười một lần nữa, và Hillary thêm vào, “Để thấy sao tất cả bọn họ cứ nói về tóc của tôi,” một nhận xét khiến cả hai cười khúc khích thêm nữa.

Nếu Hillary biết làm thế nào để bí mật chế giễu các thành viên của đảng chính trị đối lập, thì bà cũng biết cách công khai hợp tác với họ. Thực vậy, năm 2006, bà hợp sức với Elizabeth Dole nhằm ủng hộ sự gia nhập của Adom David Magen từ Israel vào Hội Chữ thập Đỏ Quốc tế. (Các quốc gia hồi giáo đã phản đối sự hiện diện của người Israel.) Kể từ khi trúng cử, Hillary đã làm việc với khoảng một nửa số thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa trong việc bảo trợ các dự luật hay nghị quyết. Bill cho rằng Hillary có một khả năng khác thường trong việc “đi tới những thỏa thuận danh dự với những người bất đồng”. Có vẻ như điều đó đã diễn ra tại Thượng viện. Công việc của bà vì lợi ích của những cựu chiến binh chẳng hạn, đã đưa bà vào một liên minh với một trong những người chỉ đạo cuộc buộc tội chồng bà ở Hạ viện, Lindsey Graham, giờ đây là một thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa từ South Carolina. “Bà ấy đã thật sự tìm được Lindsey Graham trong vấn đề về lợi ích của các cựu chiến binh,” cựu phụ tá của Hillary, Jodi Sakol, nói. Những chuyến đi ra nước ngoài cùng với John McCain giải thích làm thế nào, một khi ra khỏi những giới hạn của Thượng viện, những đối thủ chính trị có thể tìm thấy các nền tảng cá nhân chung. Hai người có một “mối quan hệ rất dễ chịu,” một mối quan hệ mà Hillary cảm thấy đủ thoải mái để trò chuyện về Bill và Chelsea, nói đùa vài câu, và uống một vài ly vodka, như bà đã làm trong một buổi ăn tối với McCain ở Estonia vào năm 2004.

Đôi khi những liên minh của bà là những bài tập luyện trong trò lưỡng lự trước một vấn đề chính trị. Năm 2006, Thượng viện dường như đã tiến gần đến việc có được đủ số phiếu để thông qua một điều khoản thay đổi hiến pháp nhằm cấm sự báng bổ lá cờ Mỹ. Một điều khoản tương tự cũng đã được thông qua tại Hạ viện. Hợp sức với Thượng nghị sĩ Bob Bennett, một thành viên Đảng Cộng hòa từ Utah, Hillary và những người khác đã không thành công trong việc đề xuất một điều khoản thay thế, trong đó quy định tội hình sự đối với việc báng bổ lá cờ Mỹ, gắn nó với việc cố gắng để đe dọa người khác hay kích động bạo lực. Cùng khoảng thời điểm đó, tại một hội nghị ở Aspen, người thăm dò ý kiến của Hillary, Mark Penn, được một blogger theo tư tưởng tự do, Arianna Huffington, hỏi liệu điều khoản đốt cờ là dựa trên thăm dò ý kiến hay dựa trên sự kết án của riêng Hillary. Penn xẵng giọng gạt phăng câu hỏi của Huffington, cũng như của những blogger đồng nghiệp khác của cô. “Các vị muốn làm cho người ta tin rằng các vị hiểu niềm tin của bà ấy rõ hơn là bà ấy hiểu,” Penn cáu kỉnh. “Đây là niềm tin của bà ấy. Đây đã là niềm tin của bà trong một thời gian dài. Bà đã lắng nghe những người cựu chiến binh ở New York và đó là điều mà bà ấy tin.” Penn dừng và rồi kết thúc câu trả lời của mình. “Và các vị biết gì không? Bà ấy không quan tâm các vị nghĩ gì đâu.”

Một liên minh với một cựu thù khác của Clinton bắt nguồn từ một buổi điểm tâm cầu nguyện của Thượng viện mà Hillary thỉnh thoảng có tham gia. Khi Hillary mới bắt đầu sự nghiệp Thượng viện của mình, tại một buổi điểm tâm như vậy, Sam Brownback, một Đảng viên Cộng hòa từ Kansas, đã xin lỗi Hillary vì từng căm thù cả hai vợ chồng Clinton. “Tôi bất đồng về mặt chính trị, nhưng không có lý do gì để căm ghét,” Brownback sau đó giải thích, vì vậy “tôi đến chỗ bà ấy và xin lỗi.” Hai vị thượng nghị sĩ, sau khi giải quyết ít nhất là một vài sự khác biệt giữa họ, đã hợp sức với nhau cho một điều khoản nhằm ủng hộ một nghiên cứu liên bang về những tác động của truyền thông đa phương tiện lên sự phát triển của trẻ em.

Hillary thậm chí thỉnh thoảng còn đồng ý với Tổng thống Bush. Trong đề tài nóng bỏng về nhập cư, Hillary đã phát biểu năm 2007 rằng bà nghĩ rằng “tổng thống đúng” khi ông đề xuất một “lộ trình để hợp pháp hóa” cho hàng triệu dân nhập cư không giấy tờ, với điều kiện họ phải chờ tới phiên mình và đóng một khoản phạt. Và tất nhiên có cả vấn đề Iraq, ít nhất là lúc đầu.

MỘt trong nhỮng thành viên quan trỌng nhẤtcủa guồng máy Hillary là Huma Abedin, một phụ nữ trẻ từng sống tại Kalamazoo, Michigan, cho tới khi lên hai và sau đó chuyển sang Saudi Arabia, nơi cô được người mẹ Pakistan và người cha Ấn Độ của mình nuôi nấng. Abedin là người mà theo lối nói của Thượng viện là “cận thần,” người giúp quản lý thời khóa biểu hoạt động dày đặc của một thượng nghị sĩ và thường có mặt bên cạnh khi nghị sĩ ấy đi xa. “Huma giữ cho mọi thứ vận hành – tuyệt đối không thể thiếu được cô ấy,” một cựu phụ tá cho biết. Một đồng nghiệp Thượng viện của Abedin miêu tả hình ảnh cô là “luôn luôn giữ lại một chút, đúng là một người của Hillary, rất im lặng.”

Đang trong độ đầu tuổi ba mươi, Abedin gia nhập thế giới Hillary trong thời kỳ Bill làm tổng thống và tiến dần lên vị trí trợ lý riêng của Hillary trong Nhà Trắng. Trong lời chú thích bên dưới một bức ảnh Abedin trong cuốn tự truyện của mình, Hillary miêu tả Abedin là “phi thường.” Kiến thức của Abedin về Trung Đông và kỹ năng ngôn ngữ của cô – cô theo đạo Hồi và nói tiếng Ả Rập một cách thuần thục – thậm chí còn khiến Tổng thống Clinton bổ sung cô vào đoàn ngoại giao của ông trong thời gian những cuộc thảo luận hòa bình diễn ra tại Trại David năm 2000, nhưng thất bại. “Cô ấy đặc biệt giỏi trong việc làm cho các đại biểu người Israel và Palestine cảm thấy như ở nhà và thoải mái,” Bill nhớ lại.

Những chuyến công du của Hillary tới Trung Đông trong vai trò của một thượng nghị sĩ luôn luôn có Abedin (và cả một đội mật vụ). McCain, người đã đến Iraq cùng với Hillary năm 2005, nhận thấy Abedin “rất, rất thông minh và hiểu biết về các vấn đề Trung Đông”, là một người có “tính cách rất dễ chịu và thoải mái.” Đối với Hillary, Abedin còn hơn thế: cô gái ấy là vô giá. Ngay cả khi Bill và Hillary thoát ra làm một kỳ nghỉ thư giãn ở Caribbean, Adebin cũng góp mặt trong đoàn tùy tùng. Khi Hillary bước đều dọc theo Đại lộ Số 5 ở thành phố New York trong đoàn diễu hành nhân Ngày Columbus năm 2006, Abedin đã ở đó để giữ chiếc áo choàng hoa suôn dài của bà. Tại sự kiện trước công chúng đầu tiên của Hillary sau khi tuyên bố cuộc chạy đua của bà cho chiếc ghế tổng thống vào tháng 1 năm 2007, tổ chức tại một phòng khám sức khỏe ở trung Manhattan, Abedin đã ở cạnh bà. Tại điểm dừng đầu tiên của Hillary cho chiến dịch tranh cử tổng thống, trong một hội trường tại Des Moines, Iowa, Abedin một lần nữa đã ở cùng bà, chụp hình những người ủng hộ và chuyền đi những cuốn sách xin chữ ký. Và từ khi Hillary vào Thượng viện tháng 1 năm 2001, bà đã cùng người phụ tá của mình làm nhiều chuyến xuất ngoại, trong đó có ba chuyến tới Iraq và các chuyến đi khác tới Kuwait, Pakistan, Israel, Ấn Độ, Đức, Ireland, Na Uy, Singapore, và Estonia.

Tuy vậy, Hillary đã có một chuyến ra nước ngoài vào năm 2005 gây khó chịu cho một ít người trong Thượng viện có biết về nó. Chuyến đi, được chủ tịch Ủy ban Quốc phòng thông qua, là đến Singapore, nơi Ủy ban Thế vận hội Quốc tế đang chuẩn bị chọn ra thành phố đăng cai Thế vận hội 2012. Thành phố New York đã là một trong năm ứng cử viên vào vòng chung kết, nhưng cuối cùng để thua về tay Luân Đôn. Hillary ban đầu cho thu một cuốn video với tư cách là người đại diện cho Big Apple (tức New York), và đã dự định sẽ bỏ qua buổi họp. Sau đó, vào phút chót, các kế hoạch của bà thay đổi; bà quyết định hợp sức với các viên chức thành phố và trực tiếp vận động hành lang. Các phụ tá của bà nhanh chóng cố gắng tìm cách sử dụng các nguồn quỹ công để thanh toán cho chuyến đi của bà, nhưng họ biết được rằng chỉ có một ủy ban Thượng viện mới có thể thông qua việc sử dụng tiền công cho các chuyến xuất ngoại.

Lại thêm một vấn đề khác. Các quy tắc Thượng viện quy định rằng, “mục đích chính của chuyến đi về bản chất phải hiển nhiên là có liên quan tới chính quyền, nhằm chứng minh cho việc sử dụng tiền của chính quyền.” Ngay cả người phát ngôn của Hillary cũng xác nhận rằng Hillary đã “làm việc đó cho New York,” chứ không phải cho chính quyền liên bang hay Quốc hội. Càng khó khăn hơn nữa là thực tế vào lúc đó, các thành viên Đảng Dân chủ đã không kiểm soát được bất cứ ủy ban nào bởi vì họ là đảng thiểu số trong Quốc hội.

Tuy vậy, các chủ tịch ủy ban Thượng viện được khá là rộng quyền trong việc xác định đâu là “có liên quan tới chính quyền,” và Hillary có một người bạn phía Cộng hòa là Thượng nghị sĩ John Warner, một người Virginia có dòng dõi quý tộc mà khi đó là chủ tịch ủy ban Quốc phòng. Chứng minh rằng giá trị của những mối quan hệ cá nhân không thể bị đánh giá thấp ở Thượng viện, Warner phê duyệt cho chuyến đi như một chuyến công du. Hillary mang theo Adebin, và cũng có một đội mật vụ đi kèm như thường lệ. Báo cáo của Ủy ban Quốc phòng về chuyến đi, bắt buộc phải có do pháp luật quy định và sau đó được Warner ký, đã nộp cho Thượng viện sau kỳ báo cáo thông thường và bị công chúng bỏ sót. Chuyến lưu lại hai ngày tại Singapore của Hillary và Adebin làm tốn tiền thuế của người dân đến hơn 14.000 đôla, phần lớn là cho tiền vé máy bay.

Do quan hỆ đỒng nghiỆpvới những đối thủ chính trị của bà, nên Hillary có một vài va chạm nhỏ với những người bạn Dân chủ. Có thể hiểu được, một vài vụ trong số đó có liên quan đến những cảm xúc thường của sự khoanh vùng lãnh thổ và sự ghen tị.

Khác với Hạ viện, nơi mỗi thành viên đại diện cho một quận, hai thượng nghị sĩ của mỗi tiểu bang lại đấu tranh cho cùng một mảnh đất. Nếu hai người đến từ hai đảng phái khác nhau, những đường ranh giới sẽ khá rõ ràng; mỗi thượng nghị sĩ sẽ ủng hộ đảng của chính mình. Nhưng khi cả hai cùng thuộc một đảng, sự đua tranh có thể trở nên “không khoan nhượng,” như một phụ tá Thượng viện đã mô tả.

Điều đó giúp lý giải một phần của sự ganh đua nhưng thân thiện giữa Hillary và đồng nghiệp, Thượng nghị sĩ New York Chuck Schumer – một phần đáng kể trong số đó diễn ra vào thời gian sau các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9.

Schumer và Clinton có nhiều điểm tương đồng. Lịch sử bỏ phiếu của họ cùng nghiêng về cánh tả, và họ có những quan điểm gần như là giống hệt nhau trong một loạt các vấn đề. Ví dụ, cả hai cùng ghi điểm tuyệt đối (hay gần tuyệt đối) với những nhóm có tư tưởng tự do – là những người chủ trương ủng hộ quyền lựa chọn, là Quỹ Bảo vệ Trẻ em, là Liên hiệp Lao động và Đại hội các Tổ chức Kỹ nghệ Hoa Kỳ (AFL-CIO) – trong khi, cả hai chỉ được Hiệp hội Súng trường Quốc gia (National Rifle Association) cho điểm liệt. Trong các đề tài quốc phòng, kinh tế, và chính sách đối ngoại năm 2005, Hillary đã có tư tưởng tự do hơn 80 phần trăm các đồng nghiệp của mình, và Schumer bám sát phía sau với 78 phần trăm. Trong các đề tài chính sách xã hội, Hillary đã nghiêng về cánh tả hơn so với 83 phần trăm đồng nghiệp của mình, và Schumer là 77 phần trăm.

Thoạt tiên, Hillary và Schumer, ai cũng tự trọng, thông minh, và hiểu biết, đã không hòa thuận với nhau lắm. Họ hy vọng có được một mối quan hệ bằng việc gặp gỡ thường xuyên tại các bữa ăn, nhưng thời gian ban đầu, những thói quen ăn uống của Schumer, trong đó có thói quen vừa nói vừa ăn, đã làm Hillary mất hứng. “Bà ấy quay về với các nhân viên của mình và nói, ‘Đó là bữa cuối cùng tôi ăn với Chuck’,” một phụ tá kể lại. Nhưng mối quan hệ trở nên chín chắn hơn khi họ có dịp hiểu những tính cách và chương trình của nhau hơn. Hai thượng nghị sĩ giờ đây thỉnh thoảng dùng bữa cùng nhau, thường tại nhà hàng Tàu ưa thích nhất của Schumer gần Trụ sở Quốc hội. Tuy vậy, họ có một “tình bạn không an tâm” – theo lời một phụ tá, như “tình bạn của Mỹ với Ả Rập Saudi.”

Sự ganh đua giữa hai thượng nghị sĩ và đám nhân viên của hai người sau đó lan sang cả việc lãnh đạo của đảng vào tháng 6 năm 2006. Harry Reid, cùng với Schumer và một vài thành viên Dân chủ khác, mà không phải Hillary, đã tổ chức một cuộc họp báo vào phút chót để nhấn mạnh những nỗ lực của đảng nhằm nâng mức lương tối thiểu. Hillary được mời tới buổi họp, nhưng bà không được chia sẻ kế hoạch trước. Reid, trong vai trò như một cảnh sát giao thông cho các thượng nghị sĩ Dân chủ, đã sắp xếp những cuộc họp báo của đảng. Văn phòng của Hillary, cùng với cả đám cố vấn phụ của nó, liên tục chậm trễ trong việc giải đáp các thắc mắc từ nhân viên của Reid cho các sự kiện báo chí sắp diễn ra, làm điên tiết các văn phòng Thượng viện khác đang phải đợi tới lượt để được mời. Trong trường hợp này, hóa ra giờ giấc của buổi họp báo lại không hợp với lịch làm việc của Hillary, và bà phải rời khỏi đó sớm. Trước mặt những phóng viên tại buổi họp, phụ tá lập pháp của Hillary, Laurie Rubiner, nói với người phát ngôn của Reid, “Bà thật tệ hại” và “Sao bà có thể làm thế này cơ chứ?” Một viên chức Thượng viện lâu năm gọi vụ đó là “một trong những vụ việc không chuyên nghiệp nhất trong những năm gần đây,” và Rubiner sau đó đã phải xin lỗi.

MỖi thỨ ba, vào các kỳ họp của Thượng viện, các thượng nghị sĩ Dân chủ thường tụ họp lại ăn trưa tại tầng hai của Trụ sở Quốc hội. Các đối tác Cộng hòa của họ cũng vậy. Đảng thiểu số tập hợp lại trong phòng LBJ, được đặt theo tên của vị cố tổng thống, trong khi đảng đa số gặp nhau trong phòng Mansfield lớn hơn, được đặt theo tên của Mike Mansfield, lãnh đạo phe đa số Thượng viện có thời gian phục vụ lâu nhất, và là người đã giữ vị trí này trong những năm 1960 và 1970.

Tại đây, các đồng nghiệp có thể nói chuyện thẳng thắn, vì chỉ một vài phụ tá có mặt còn phóng viên thì không được phép tham dự. Hillary, vẫn còn là người mới trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, được đối đãi lịch sự, mặc dù một số đồng nghiệp lâu năm hơn của bà thỉnh thoảng lại trợn tròn mắt và cau mày trước một vài ý kiến của bà, họ nghĩ chúng hoặc là quá đảng phái, hoặc là quá bạo động.

“Các thượng nghị sĩ thường cằn nhằn, Bà ta lại vậy nữa rồi,” một người có mặt cho biết. “Đó là vì họ nghĩ bà ấy là một người trẻ quá tự tin, làm những việc mà họ không bao giờ nghĩ tới.” Một người khác có mặt tại các bữa ăn trưa nói rằng sự ganh tị đã lý giải cho những biểu hiện bất mãn thỉnh thoảng có. “Vị thế đáng chú ý của bà ấy khiến những người khác cảm thấy bị đe dọa.”

Khi bữa ăn kết thúc, các thượng nghị sĩ thường rời khỏi theo một trong hai đường: ra một cánh cửa sau đến một phòng tiếp tân Thượng viện hay qua cửa chính đến một đám đông các phóng viên đang chờ đợi để chộp lấy các nhà lập pháp.

Mất một thời gian dài, Hillary thường chọn một lối thứ ba để rời khỏi phòng LBJ. “Bà ấy thường ra bằng cánh cửa bên trái và đi xuống những bậc cấp phía bên ngoài” để ra khỏi Trụ sở Quốc hội. Các phóng viên, do ngần ngại không muốn rời khỏi tòa nhà để rồi sau đó muốn quay trở vào trụ sở Quốc hội thì lại phải đi qua các điểm kiểm soát an ninh rắc rối, nên thường sẽ không đuổi theo bà. Tuy vậy, đến giữa năm 2006, Cảnh sát Quốc hội đã đóng lối ra mà Hillary vẫn đi, và từ đó bà buộc phải chống đỡ các phóng viên như những đồng nghiệp khác của bà.

Việc chống đỡ đó có một chút dễ dàng hơn cho bà so với một số các đồng nghiệp lập pháp khác. Là một thượng nghị sĩ và ứng cử viên tổng thống duy nhất có mật vụ bảo vệ, cử tri và phóng viên khó mà tiếp cận được với Hillary so với hầu hết các chính trị gia ở Washington. “Bà ấy gần như ở trong một cái bong bóng tổng thống, ở đó thì khó mà tự nhiên được,” một chiến lược gia lâu năm nhận xét. Khi bà tham gia đời sống công cộng, đám đông lại làm thêm một vùng đệm nữa giữa bà và giới báo chí.

Vùng đệm đó có thể dẫn tới một sự xa cách, và chắc chắn đã dẫn tới một độ căng thẳng nhất định giữa những phóng viên cố gắng đưa tin về Hillary cùng các nhân viên của bà. Một yếu tố nữa khiến cho quan hệ giữa Hillary với báo chí trở nên gập ghềnh chính là sự thay đổi liên tục các phát ngôn viên làm việc trực tiếp với phóng viên. Đó là một công việc khắc nghiệt vì giới truyền thông tò mò một cách tham lam về Hillary, trong khi bà cực kỳ thận trọng trong việc các nhân viên phát ngôn báo chí của mình nói gì với các phóng viên. Ngay cả trong những tình huống bình thường, có khi vẫn phải mất hàng mấy năm trời để các phóng viên và phụ tá phát ngôn báo chí tin được đối tác. Trong năm năm đầu tiên của mình ở Thượng viện, Hillary đã sử dụng sáu giám đốc truyền thông khác nhau. Xây dựng lòng tin trong những trường hợp như vậy là không thể.

Người phát ngôn phục vụ lâu nhất cho Hillary là thư ký báo chí Thượng viện hiện tại của bà, Philippe Reines. Giờ đây, bước vào những năm cuối của tuổi ba mươi, Reines đã phải tốn một thời gian để tìm được chính mình. Anh lớn lên mà không có cha ở vùng Thượng phía tây thành phố New York và mất cả chục năm ở ba trường đại học để có được một tấm bằng. Làm việc cho chiến dịch tranh cử Tổng thống Gore – Lieberman vào năm 2000, anh mài giũa những kỹ năng của mình trong thăm dò, giao tiếp, và “bới lên những chuyện không tốt” của phe đối lập.

Reines được xem như một thành viên không thể thiếu của Thế giới Hillary. “Hillary yêu cậu ấy vì cậu ấy làm bà cười,” một phóng viên nói. Bên trong nội bộ Hillary, Reines dùng mưu mẹo để giành ưu thế trước Howard Wolfson, người phát ngôn thiếu ý tứ cho chiến dịch tranh cử tổng thống của Hillary. Nhưng ngay cả những thượng nghị sĩ Dân chủ lâu năm nhất thường cũng sẽ không nói về Hillary với báo chí nếu Reines, hay thậm chí một thành viên khác trong guồng máy, yêu cầu họ đừng nói. Năm 2006, tác giả Gail Sheehy, người đã viết một cuốn sách vào năm 1999 về Hillary với tựa đề Chọn lựa của Hillary, cố gắng phỏng vấn các thượng nghị sĩ liên quan đến một bài báo về Hillary Clinton mà bà đang viết cho tờ Vanity Fair. Một số thượng nghị sĩ Dân chủ đã từ chối nói chuyện với Sheehy sau khi Reines gửi một thư điện tử đến tất cả các thư ký báo chí của các thượng nghị sĩ Dân chủ đính kèm một bản sao bài báo của Lloyd Grove trên tờ New York Daily News với câu mở đầu, “Hillary Clinton muốn Gail Sheehy tạm ngừng hoạt động.”

Nhưng một số thượng nghị sĩ tuy tôn kính Hillary một cách lạ thường, lại vẫn không vội gì ủng hộ chiến dịch tranh cử tổng thống của bà. Gần bốn tháng sau khi chiến dịch bắt đầu, chỉ mới có hai thượng nghị sĩ, Charles Schumer – đối thủ không thường xuyên của bà – và Barbara Mikulski, công khai ủng hộ bà. Hillary có thể đã được Thượng viện chấp nhận, nhưng Thượng viện vẫn chưa sẵn sàng để chào đón bà như vị tổng thống kế tiếp của quốc gia. Thực vậy, chính là một vài người trong đám thành viên của Thượng viện sẽ đặt ra những thách thức lớn nhất cho bước đặt chân kế tiếp của bà trên chiếc thang leo – trong số đó, có cả một trong những thành viên mới nhất của Thượng viện, một thượng nghị sĩ ít thâm niên mới vào nghề từ tiểu bang quê hương Illinois của bà.

❀ ❀ ❀

[1] Thành viên xếp cao nhất của Đảng Dân chủ trong Ủy ban HELP - ND

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.