Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Đầu Tư 101

❊ ❊ ❊

ĐỂ HIỂU ĐƯỢC NHỮNG GÌ ĐÃ XẢY RA giữa quỹ tín dụng Madison Guaranty và công ty luật Rose, cần phải quay lại quá trình tiến tới chức thống đốc bang Arkansas của Bill Clinton. Thắng lợi của Bill trong cuộc tuyển chọn ứng viên của Đảng Dân chủ năm 1978 về cơ bản đã bảo đảm rằng ông sẽ trở thành thống đốc trong mùa thu ấy, nhờ Đảng Dân chủ chiếm đa số trong bang. Nhưng tiền lương hàng năm của thống đốc không vượt quá mức 35.000 đôla; điều đó đã đặt Hillary, với tư cách cần câu cơm của gia đình, vào tình trạng mất an toàn liên tục về tài chính.

Vốn là người hết sức cẩn thận về tiền bạc, một đức tính được thừa hưởng từ người cha, Hillary lo củng cố tổ ấm gia đình. Ông Hugh Rodham cũng đã dạy con gái phải tuyệt đối tránh rủi ro trong tất cả những việc liên quan đến tiền bạc, nhưng vào năm đó, Hillary đã quyết định tạm gác lời dạy để tham gia vào hai vụ đầu tư đầy nguy hiểm. Cả hai vụ đầu tư này chỉ cần ít tiền và đều dựa vào chuyên môn của những người bạn thân. Cả hai vụ đều đặt gia đình Clinton vào khả năng mang nợ hàng trăm ngàn đôla vào thời mà tổng thu nhập hàng năm của hai người chỉ là 54.000 đôla.

Mặc dù rất giống nhau, nhưng hai vụ đầu tư này đã sinh ra những kết quả tài chính hết sức khác nhau. Vụ thứ nhất, buôn bán cổ phiếu hàng hóa, là một thành công hết sức ngoạn mục, mang lại khoản lợi nhuận gần bằng 10.000% chỉ trong vòng chín tháng. Để có kết quả đó, Hillary phải cảm ơn một người bạn hết sức khôn ngoan là Jim Blair, lúc ấy đang làm chuyên gia tư vấn bên ngoài của tập đoàn gia cầm khổng lồ Tyson Foods. Vụ thứ hai, một phi vụ kinh doanh bất động sản được biết đến dưới tên dự án Whitewater, là một thảm họa tài chính, tiêu tốn của gia đình Clinton 36.862 đôla. Với vụ thua lỗ trong kinh doanh bất động sản, Hillary đổ thừa cho người bạn thân về chính trị của Bill và cũng là khách hàng của bà, ông Jim McDougal.

Trong thực tế, cả hai vụ đầu tư mạo hiểm này đều tỏ ra phức tạp hơn là chỉ đơn thuần lãi với lỗ. Để chống đỡ cho dự án Whitewater, McDougal đã thực hiện những phi vụ chuyển ngân bất hợp pháp, còn công ty môi giới kinh doanh cổ phiếu hàng hóa mà Hillary tham gia thì phớt lờ các quy định thương mại đã được xác lập từ lâu. Hillary hoàn toàn không biết những hoạt động đầy nghi vấn này, nhưng chúng sẽ ám ảnh bà suốt nhiều năm về sau, cả về mặt chính trị lẫn mặt tài chính và những chi phí pháp lý phát sinh từ vụ Whitewater đã lãi mẹ đẻ lãi con lên tới hàng triệu đôla.

Theo thứ tự thời gian thì vụ đầu tư thất bại xảy ra trước. Mùa xuân năm 1978, McDougal đến gặp vợ chồng Bill và Hillary tại nhà hàng Black-Eyed Pea ở Little Rock và bất ngờ đề nghị họ “một phi vụ chắc ăn”. Nói cụ thể, nó liên quan tới sự hợp tác với McDougal và vợ ông ta, Susan, để mua 230 mẫu đất hoang hóa nằm bên bờ sông White, miền Bắc bang Arkansas.

Kế hoạch của họ là chia khu đất này thành những lô nhỏ, rồi bán lại cho những người về hưu hoặc nghỉ dưỡng. Đối với Hillary, việc này “hiển nhiên là hấp dẫn”, bởi vì những lô đất nông thôn có rừng cây sẽ thu hút những cư dân miền Bắc đang tìm kiếm những khu đất nghỉ dưỡng có mức thuế thấp. Gia đình Clinton chưa bao giờ thực sự đến thăm khu Whitewater, cái tên đặt cho dự án, mà để cho McDougal toàn quyền quản lý nó, và “nếu tất cả mọi việc diễn ra đúng kế hoạch,” như Hillary nói, thì bà và Bill “sẽ thu hồi vốn đầu tư sau vài năm và đúng ra thế là xong.”

Hai cặp vợ chồng đã bước vào một phi vụ liên doanh mà sau này trở thành một doanh nghiệp có tên là công ty phát triển Whitewater. Không cặp vợ chồng nào bỏ tiền túi ra đầu tư: 203.000 đôla mua lô đất đều là tiền vay ngân hàng. Một trong các ngân hàng tham gia tài trợ cho dự án đã kết luận, rủi ro tín dụng ở đây là “tối thiểu” bởi vì McDougal từng có những quan hệ làm ăn với cựu thượng nghị sĩ của bang là ông J. William Fulbright. (Nhiều việc ở Arkansas đã diễn ra theo kiểu đó.)

Trong hai năm đầu, gia đình Clinton viết tất cả các tờ séc – trả tiền cho McDougal để thanh toán tiền lãi vay cho ngân hàng. Nhưng vào mùa hè năm 1980, McDougal nhận ra điều “khá hiển nhiên” rằng gia đình Clinton muốn ông ta xử lý tất cả những công việc tài chính và quản trị của Whitewater.

CuỘc bẦu cỬ tỔng thỐngnăm 1980 là một sự kiện làm đứng tim Đảng Dân chủ. Thắng lợi của Ronald Reagan trước Tổng thống Jimmy Carter đã khởi động cuộc ngự trị kéo dài mười hai năm sau đó của Đảng Cộng hòa tại Washington. Đối với gia đình Clinton, dường như kết quả đó vẫn chưa đủ gây áp lực; Bill còn thất bại trong cuộc tái tranh cử chức thống đốc vào tháng 11 năm đó – một thất bại nhục nhã mà sau này ông diễn tả là một kinh nghiệm chết đi sống lại. Thất bại của chồng đã làm cho Hillary, ba mươi ba tuổi, chìm trong nước mắt. Năm 1992, bà Dorothy Rodham kể lại cho một phóng viên rằng, đó là lần đầu tiên bà nhìn thấy con gái khóc kể từ ngày cô trưởng thành. Thất bại của Bill có vẻ như một tấm rào chắn không thể tưởng tượng nổi, một hàng rào mà cả ông và Hillary đều không hình dung tới khi họ bắt đầu khởi động dự án hai mươi năm của mình. Hillary khóc như mưa không chỉ vì tương lai của Bill, mà cho cả tương lai của chính bà.

Nhiều tháng sau khi thất bại, Bill vẫn rơi vào những cơn trầm cảm và tự thu mình lại. Ở tuổi ba mươi bốn, trông ông bơ phờ và mất phương hướng. Chính hoạt động của Hillary làm ông phấn khởi trở lại và cố gắng nhen nhóm bầu nhiệt huyết chính trị của chính mình. Hillary có “một sở trường kỳ lạ trong việc giúp tôi tập trung vào hiện tại và tương lai,” nhiều năm sau Bill nhận xét như vậy và có lẽ công việc đó của Hillary chưa bao giờ khó khăn như trong những tháng đầu năm 1981. Như McDougal sau này kể lại, chính Hillary đã nói toạc ra rằng: “Bill sẽ chẳng lên tới đâu nếu tôi không đá vào đít anh ấy.” Sau này Bill có biệt danh là “Cậu bé Trở lại” nhưng chính Hillary là người cẩn thận vạch kế hoạch, rồi điều khiển sự phục hồi chính trị của ông.

Sự thất bại gây choáng váng của Bill có thể đã không xảy ra nếu như Hillary có thể dành thêm nhiều thời gian và sự tận tụy cho chiến dịch tranh cử của ông năm đó. Sau khi sinh Chelsea ngày 27 tháng 2 năm 1980, Hillary chủ yếu đứng bên lề cho đến tận những tuần lễ cuối cùng của cuộc vận động.

Các phóng viên ít khi thấy bà xuất hiện trong những sự kiện trên con đường vận động bầu cử năm đó. Cuối cùng, khi tham gia vào cuộc đấu, bà lập tức cố chuyển hướng mọi việc, nhưng khi ấy đã quá muộn. Cử tri ghét Bill vì ông đã tăng thuế đăng ký xe hơi và Arkansas có vẻ như đang trở thành bãi rác cho những người Cuba di cư. Những người Cuba này đã đến Mỹ theo chương trình hải vận Mariel, nhưng sau đó các cuộc gây rối của họ, những vụ trốn ra khỏi trại tạm cư liên bang… đã cung cấp lợi thế cho Frank White, đối thủ của Bill thuộc Đảng Cộng hòa. Trong những tuần lễ cuối cùng của cuộc vận động, White đã đưa lên sóng truyền hình một loạt quảng cáo đầy tính tiêu cực mà lúc đầu Hillary cho là không quan trọng. Mặc dù cuối cùng bà đã cố gắng phòng vệ bằng cách chuyển sang tấn công với hy vọng “đánh trả” và không để cho những cáo buộc của đối thủ “diễn ra suôn sẻ”, nhưng tác hại của chúng là không thể tránh được. Mang đầy thương tích, Hillary nói rằng bà cố gắng hiểu cho được “sức mạnh kinh khủng của những quảng cáo phủ định nhằm biến đổi cử tri thông qua sự xuyên tạc”.

Trong mười ngày cuối cùng của chiến dịch tranh cử, Hillary nỗ lực điều khiển việc đưa tin bài của báo chí về người chồng của bà bằng cách cố gắng nhờ một phóng viên địa phương, ông John Brummett, làm phóng sự về sự xuất hiện của Bill tại một điểm vận động then chốt. Brummett đã đi theo Bill Clinton trong khi một phóng viên khác được cử bám theo con đường tranh cử của Frank White. Nhưng rồi Brummett cảm thấy không thoải mái với “bản chất kiểm soát của bà Hillary.” Anh nói: “Tôi không cần bà vợ ông thống đốc giao nhiệm vụ cho mình,” và trình bày sự khó chịu của mình với ông tổng biên tập; sau đó ông này đã cử một phóng viên khác theo dõi sự kiện. Gần cuối cuộc vận động, cả Hillary và Bill đều “vất vả đến tận cùng để bảo đảm rằng họ có được những phóng viên thân thiện nhất”.

Trong cơn hoảng hốt, vào phút cuối, Hillary đã nài xin Dick Morris, một nhà chiến lược chính trị, người ngồi bên ngoài cuộc vận động này, tiến hành một cuộc khảo sát nhanh về tình hình bi thảm của cuộc vận động. Morris đã từng làm việc cho Bill năm 1978, giúp Bill giành chiến thắng trong cuộc đua vào ghế thống đốc tiểu bang. Nhưng ông ta không quen với đội ngũ nhân viên có phần lý tưởng của Bill. Một trong số những nhân viên đó, cô Nancy Pietrafesa, đối mặt với Hillary trong căn bếp nhà Clinton, đã đòi được biết tại sao bà và Bill phải dựa vào ông Morris. “Ông này là thuốc độc,” cô nói với Hillary.

“Nếu như cô muốn làm việc trong nghề này thì đó là loại người mà cô phải tiếp xúc,” Hillary đáp.

Nhưng Pietrafesa phản đối, “Có phải bà đang giỡn không đấy?” Sau này Pietrafesa nhớ lại: “Thái độ của bà ấy là: Quên chuyện đó đi.”

Hai năm sau đó, chỉ có Hillary và Morris nhận ra được thực sự Bill đã cư xử tồi với cử tri ở Arkansas như thế nào. “Tôi không thể thuyết phục bất cứ ai lờ đi những cuộc thăm dò cho thấy Bill đang thắng,” bà viết lại trong cuốn tự truyện. Kết quả là vẻ u sầu của đêm bầu cử càng trở nên tệ hại hơn đối với nhiều người ủng hộ Bill, những người vẫn ngây thơ một cách sung sướng.

Sau hôm Bill bị đánh bại, Hillary gọi điện thoại mời Dick Morris quay lại để giúp ông chồng của mình hồi tỉnh. Ngoài ra bà cũng liên hệ với Betsey Wright, nhà hoạt động cho Đảng Dân chủ mà bà quen biết từ chiến dịch vận động cho McGovern ở Texas, để yêu cầu cô ấy giúp tổ chức lại hồ sơ của Bill cho sự trở lại về chính trị sau này.

Hillary cũng nhìn thấy rõ ràng hơn Bill rằng, nếu như sự nghiệp chính trị của ông cần được xây dựng lại thì việc đó phải diễn ra tại Arkansas chứ không phải tại thủ đô Washington. Nhận ra cái ưu thế chiến lược này, Bill trở thành nhà tư vấn cho một công ty luật ở Arkansas, một công việc không nặng nề lắm mà lại giúp ông có được sự linh hoạt mà ông cần phải có để quay trở lại trò chơi chính trị.

Không chỉ riêng Bill phải chịu trách nhiệm về những thay đổi đã xảy ra. Việc Hillary vẫn sử dụng cái tên từ thời con gái ngày càng bị coi là một rắc rối cho chiến dịch vận động của Clinton, khi một số người coi đó như một sự ràng buộc về chính trị đối với Bill. Vài tháng sau cuộc bầu cử thống đốc, khi đang ăn điểm tâm với cháo yến mạch trong gian bếp căn nhà họ vừa mua ở Little Rock, sau khi rời dinh thống đốc, Hillary nghe một nhận xét gay gắt của Vernon Jordan, khi ấy là người tin cẩn của gia đình Clinton. Jordan nói với Hillary: “Bà đang ở miền Nam. Ở miền Nam, bà không phải là Hillary Rodham, bà là bà Clinton.” Hillary không tranh cãi với lời nhận xét thẳng thừng đó.

Nhiều năm sau bà nhớ lại: “Tôi đã học bài học khó khăn rằng một số cử tri ở Arkansas cảm thấy bị xúc phạm nghiêm trọng khi tôi vẫn giữ cái tên hồi con gái.” Cuối cùng, bà quyết định đổi tên mình thành Hillary Rodham Clinton. “Tôi quyết định rằng, việc Bill tiếp tục làm thống đốc quan trọng hơn việc tôi cố giữ lại cái tên hồi con gái,” bà viết trong cuốn tự truyện. Bất chấp cảm xúc cá nhân của Hillary với tư cách một người hoạt động cho nữ quyền, trưởng thành vào những năm 1960-1970, sự tận tụy mà bà dành cho những tham vọng chính trị của Bill – cũng là những tham vọng chính trị của chính bà – đã có tác dụng hơn mọi thứ khác. Pietrafesa nhận xét: “Có một điều buồn cười trong tất cả các chuyện này. Hãy nói về một cặp vợ chồng nâng đỡ nhau. Không hề có giây phút nào trong đời mà bà ấy không góp sức cho những nỗ lực của chồng”.

Nỗ lực quay lại chính trường được thực hiện rất xuất sắc vào năm 1983; một lần nữa gia đình Clinton lại dọn vào ở trong dinh thống đốc. Thống đốc Clinton nhanh chóng yêu cầu ngành lập pháp để cho Hillary lãnh đạo một kế hoạch cải thiện chất lượng hệ thống giáo dục công lập – một trong những vấn đề nan giải nhất của bang.

Bill biết rõ rằng, sự lựa chọn này sẽ bảo đảm cho ông “có một người thân cận hơn bất kỳ ai để giám sát một dự án đối với tôi có tầm quan trọng hơn bất cứ chuyện gì khác”. Hillary nói rằng bà coi công việc giáo dục là “rất rủi ro về mặt chính trị” bởi vì nó có nghĩa là phải thúc đẩy việc tăng thuế. Bà viết trong tự truyện rằng bà rất miễn cưỡng khi phải đảm nhận công việc đó, nhưng “cuối cùng tôi đã nhượng bộ” bởi vì “Bill không bao giờ chấp nhận câu trả lời là không”. Đó là theo lời kể của bà. Nhiều năm sau, khi được hỏi bằng cách nào mà Hillary leo được lên vị trí lãnh đạo, Bill đã kể một câu chuyện hoàn toàn trái ngược. Ông nói làm lãnh đạo ủy ban chính là ý tưởng của Hillary. “Cô ấy nói, ‘Em nghĩ em thích làm như vậy’,” Bill nhớ lại và nói thêm rằng ông không tin đó là một ý tưởng khôn ngoan. Ông nhắc cho Hillary rằng bà ấy vừa xin nghỉ việc tám tháng ở công ty luật để giúp ông tái ứng cử. Nhưng Hillary vẫn hết sức cương quyết: “Đúng, nhưng có lẽ đây là công việc quan trọng nhất anh từng làm và anh phải làm việc đó ngay bây giờ”.

“Làm việc đó ngay” đối với Hillary có nghĩa là đề bạt bà.

Hầu như ngay lập tức, Hillary bận tối mắt tối mũi. Trong mọi thước đo của quốc gia về tình trạng kinh tế và xã hội, bang Arkansas gần như đều xếp cuối hoặc gần cuối, về giáo dục cũng vậy. Khi Ủy ban của Hillary trình bày bản báo cáo đầu tiên vào tháng 9 năm 1983, bà thậm chí còn không cố gắng che đậy những vấn đề của bang. “Các trường học của chúng ta đã không làm tốt công việc họ phải làm,” bà nói tại một cuộc họp báo. “Chúng ta, những người Arkansas, phải từ bỏ thói quen tự bào chữa và thay vào đó hãy chấp nhận thách thức để vươn tới sự toàn hảo, một lần và mãi mãi.”

Như một giải pháp, Bill đề nghị tăng thuế tiêu thụ của bang thêm 1%, cùng với một khuyến nghị gây nhiều tranh cãi do Hillary và Ủy ban của bà đưa ra: đánh giá giáo viên. Hillary ra trước một cuộc họp đặc biệt của ngành lập pháp và bảo vệ công việc của ủy ban mình, kể cả đề nghị đánh giá năng lực của giáo viên. Bà đã nhận được sự phê bình rất nhiệt tình. Một trong các đại biểu dân cử, ông Llyod George của hạt Yell, phát biểu vào lúc đó. “Có vẻ như chúng ta đã bầu sai người trong nhà Clinton (làm thống đốc) rồi.” Ít người quan tâm tới sự kiện cái ủy ban về tiêu chuẩn lạ lùng của Hillary đã không thực sự đề xuất việc đánh giá giáo viên, mà “chỉ đề cập vấn đề này bằng những lời lẽ mơ hồ.”

Hiệp hội Giáo dục Arkansas đặc biệt quan tâm và cố gắng ngăn chặn biện pháp của Thượng viện bang Arkansas. Tuy nhiên đến phút cuối, lập pháp đã cho gia đình Clinton những gì họ muốn và nỗ lực của họ được mọi người công nhận là một thành công. Trong suốt tiến trình này, Hillary đã chứng tỏ sự nhạy bén chính trị của mình qua việc tán tỉnh rồi chinh phục được một trong những nhà phê bình chính trên báo chí, ông John Robert Starr, thư ký tòa soạn báo Arkansas Democrat. Năm 1982, Starr còn nói với một nhà báo Arkansas khác rằng, ông đã “đánh giá lại” Bill Clinton sau khi tiếp xúc với Hillary và “rất ấn tượng” với bà. Starr bắt đầu tin, tuy có hơi sơ sài, rằng Hillary là “động lực thường xuyên đằng sau Bill Clinton”.

Hillary đã gắng giành điểm cao trong nỗ lực canh tân giáo dục. “Arkansas đã lên kế hoạch sẵn sàng nâng cao tiêu chuẩn trường học, hàng chục ngàn học sinh sẽ có cơ hội tốt hơn để biến tiềm năng học tập của mình thành hiện thực, và các giáo viên thì đạt được điều hết sức cần là tăng lương.” Ngay cả Dick Morris, trước kia là đồng minh của Hillary, sau trở thành nhà phê bình nghiêm khắc, cũng nhận thấy nỗ lực canh tân giáo dục của bà là rất đáng khen ngợi. Ông nói rằng bà “chưa bao giờ tốt hơn thế” và ôn hòa một cách rõ ràng như vậy. Đích thân Hillary sẽ trình bày công tác giáo dục ở Arkansas của bà trên trang web vận động tranh cử tổng thống năm nay, ít nhất hai lần, và nêu bật vai trò của mình trong việc giúp “chuyển hóa hệ thống trường học” ở quê hương cũ của bà.

Chẳng bao lâu sau đó, Hillary hướng sự chú ý của mình vào những ý tưởng khác, cũng như vào công việc của bà ở hãng luật Rose và như nhận xét của Starr, chẳng có nhiều thay đổi xảy ra sau khi bà ra đi. Nỗ lực cải cách, theo một báo cáo được tìm thấy sau này xác nhận, đã bỏ qua các thầy cô giáo, và việc đánh giá giáo viên được coi như là “sự cải cách ít hiệu quả nhất cho tới lúc ấy”. Tuy vậy, sự lãnh đạo của Hillary tại ủy ban giáo dục sẽ là một trong những lý do khiến Bill chọn bà làm lãnh đạo đội đặc nhiệm về chăm sóc y tế ngay trong những tuần lễ đầu tiên sau khi ông đắc cử tổng thống Hoa Kỳ.

ĐẦU NĂm1981, khi Bill Clinton rời khỏi văn phòng thống đốc bang Arkansas sau thất bại trong lần tái tranh cử đầu tiên, gia đình Clinton đã nêu nhiều câu hỏi với McDougal, nhưng ông cung cấp cho họ rất ít thông tin. Những tin tức ấy, như sau này được biết, toàn là tin dữ: việc kinh doanh đất chia lô diễn ra chậm chạp, lãi suất tiền vay ngân hàng tăng vọt. Vào tháng 8 năm 1980, tấm séc có giá trị lớn cuối cùng mà Hillary phải ký cho vụ Whitewater trị giá 9.000 đôla, là tấm séc khống; trên đó dòng chữ “thanh toán theo lệnh của...” bị bỏ trống. Rõ ràng là McDougal đã dùng nó để trả bớt tiền vốn vay xây dựng Whitewater, nhưng gia đình Clinton trong hồ sơ khai thuế năm ấy đã được giảm thuế 9.000 đôla, ghi chú người được thanh toán là McDougal.

Sau này Hillary nói với các phóng viên: “Chúng tôi trả bất kỳ khoản tiền nào mà ông Jim McDougal yêu cầu chúng tôi thanh toán. Chúng tôi cứ tưởng ông ấy yêu cầu những gì ông ấy cần.” Khi được hỏi liệu bà và chồng có nên quan tâm nhiều hơn tới các món nợ của dự án Whitewater không, bà đáp rằng “Đúng thế, nên thế… Nhưng chúng tôi đã không làm...”

Tháng 1 năm 1982, McDougal vay tiền mua một quỹ tín dụng nhỏ (huy động tiền tiết kiệm và cho vay) tại Arkansas và đổi tên là Madison Guaranty. Ông ta bắt đầu dùng nó như một con heo đất của cá nhân, để thanh toán một cách bất hợp pháp những hóa đơn cho dự án Whitewater, và nhiều phi vụ kinh doanh bất động sản khác. Gia đình Clinton không hề biết đến những hành vi lừa đảo của McDougal, nhưng lại hưởng lợi nhờ việc giảm quy mô món nợ vay của dự án Whitewater, đã làm giảm luôn khoản nợ phải thanh toán của họ.

Khoảng năm 1985, Madison đã nhờ công ty luật Rose và Hillary thực hiện một số công việc pháp lý vào thời điểm mà tình trạng tài chính của một vụ đổ vỡ tín dụng đang xấu dần. Năm 1986, sau khi McDougal bị các điều tra viên liên bang đẩy ra khỏi quỹ tín dụng của ông ta và rơi vào tình trạng hết sức chán nản, thì Hillary đảm nhiệm quyền kiểm soát bộ máy quản lý của dự án Whitewater, bảo đảm rằng các khoản nợ thuế của công ty sẽ được thanh toán đúng hạn. Vào năm đó, McDougal đã thực hiện nỗ lực cuối cùng để đưa gia đình Clinton ra khỏi các rắc rối, bằng cách đề nghị họ, trong một lá thư gửi cho hai vợ chồng này, cho mua lại hết cổ phần của họ trong dự án, “bởi vì khả năng gây phiền toái cho các bạn là rất cao”. Động cơ của McDougal là sẽ dùng khoản thua lỗ để được trừ thuế. Nhưng Hillary từ chối, do tính bảo thủ cố hữu của bà. Bà lập luận rằng, chừng nào gia đình Clinton còn chịu trách nhiệm pháp lý về các món tiền vay ngân hàng cho dự án Whitewater, thì không có lý do gì phải bán cổ phần công ty cho McDougal để ông ta được trừ thuế.

Tuy vậy, Hillary đã yêu cầu McDougal đưa tên của gia đình Clinton ra khỏi hồ sơ thế chấp. Ông ta từ chối. Sau đó Hillary yêu cầu xem các sổ sách ghi chép của công ty vì bà và Bill vẫn chịu trách nhiệm pháp lý về mọi thua lỗ của doanh nghiệp. Bà thấy sổ sách là một mớ lộn xộn. Sau này Hillary cứ tự hỏi tại sao bà và Bill đặt quá nhiều niềm tin vào McDougal và ít giám sát thực sự vào dự án. “Tôi đã không có lý do nào để phải cật vấn McDougal,” bà viết trong tự truyện và nói thêm rằng, “Tôi cứ trả tất cả những gì mà McDougal bảo chúng tôi còn nợ và hướng tới những yêu cầu khác quan trọng hơn của đời tôi.”

Chẳng bao lâu sau khi nắm được sổ sách của công ty, Hillary cố gắng rút ra một ít tiền từ dự án Whitewater, một khoản lợi nhuận khoảng 1.640 đôla cho bà và Bill, bằng cách bán đi một lô đất nhỏ từng được dùng làm nơi xây nhà mẫu. Nhưng chẳng bao lâu sau bà nhận ra rằng, “Whitewater là một thất bại” mà vợ chồng bà cần phải thoát ra.

Phải mất gần năm năm, đến tận năm 1990, để thu thập hết những giấy tờ cần thiết và thanh toán hết những khoản thuế liên quan. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên là cách nhìn mù mờ của Hillary về McDougal chỉ tăng thêm trong thời gian đó. Năm 1990, bà “bảo Bill từ chối” việc ra làm nhân chứng cho McDougal tại một phiên tòa hình sự liên bang, nơi ông ta bị cáo buộc tội lừa đảo tài chính có liên quan tới quỹ tín dụng Madison Guaranty. Sau này, khi thảo luận tới khả năng mua lại cổ phần của McDougal trong dự án liên doanh, Hillary đã phàn nàn một cách cay đắng về việc phải trả thêm tiền cho kẻ đã mang đến cho bà quá nhiều rủi ro như vậy. “Tôi sẽ không trả thêm xu nào cho tay đó,” bà nói với một trợ lý.

Năm 1991, những cuộc điều tra quỹ tín dụng Madison lắng xuống và McDougal được trắng án. Nhưng xét về mọi khía cạnh, dự án Whitewater đã kết thúc như một phi vụ khiến tất cả mọi người đều thua lỗ. Song, cơn giông trên các hoạt động kinh doanh của McDougal sẽ sớm nổ ra.

NẾu Hillary thẤt vỌngvề đối tác kinh doanh bất động sản của mình là McDougal, thì bà không thể làm gì khác hơn là ca ngợi người hướng dẫn bà kinh doanh cổ phiếu hàng hóa, ông Jim Blair. Một người bạn của Hillary sau này nhớ lại, “Bà ấy yêu mến Jim Blair. Ông Blair là người làm ra tiền cho bà ấy.”

Hillary và Blair trở thành đôi bạn tốt từ ngày còn ở Fayetteville. Blair lớn hơn Hillary 12 tuổi; ông là luật sư biện hộ hạng nhất và là một người có sở trường về kiếm tiền. Phần lớn cuộc sống của ông trôi qua ở miền Bắc Arkansas bảo thủ về chính trị, nhưng ông tự coi mình là một “người tự do có đẳng cấp”. Có lần Blair và Hillary đã cùng thắng một giải đấu tennis khi cả hai cùng thi đấu đôi nam nữ tại câu lạc bộ thể thao Fayetteville.

Mặc dù gặt hái nhiều thành công, nhưng có một ngày vào năm 1977, Blair thức dậy và tự nhủ mình, “Đây không phải là cách để tiêu phí cuộc đời mình”. Lúc ấy ông đang làm tư vấn pháp lý cho tập đoàn Tyson Foods, cùng nhiều khách hàng khác và về sau ông trở thành nhà tư vấn bên ngoài của tập đoàn gia cầm khổng lồ này. Ông quyết định thử kinh doanh hàng hóa như một lối thoát chiến lược “làm ra đủ tiền rồi nghỉ”; cái ngưỡng mà ông nhắm tới là 4 triệu đôla. Vào khoảng thời gian đó, một người môi giới hàng hóa màu mè và là khách hàng của Blair, Robert Bone “Đỏ”, gọi điện cho Blair bảo ông ghé văn phòng công ty Refco mà anh ta đang điều hành gần Springdale, để anh ta có thể cung cấp cho Blair một bí quyết.

Theo hướng dẫn của Bone, văn phòng chi nhánh công ty Refco đã trở thành “cỗ máy in tiền cho mọi người”, kể cả những người môi giới là kẻ có thể kiếm ra hàng chục ngàn đôla tiền hoa hồng mỗi tháng. Một nhóm khách hàng, từ nông dân tới luật sư và chuyên viên ngân hàng, thường xuyên lui tới văn phòng này. Giờ đây Bone có một số “tin lành” muốn chia sẻ, liên quan tới thị trường gia súc. Thoạt đầu Bone nói với Blair rằng, trong tất cả “những năm tháng kinh doanh của mình, mà hiện đã tám, chín năm rồi, đây là phi vụ “nóng nhất” mà anh từng thấy.” Và ông Blair bùi tai đã dấn thân vào cuộc chơi, dù bước đầu “rất thận trọng” như sau này ông thổ lộ.

Bone có một tiểu sử cũng khá ly kỳ. Anh ta từng là tay chơi bài poker chuyên nghiệp ở Las Vegas. Anh ta đã làm nhiều công việc khác nhau trong tập đoàn Tyson Foods, kể cả làm vệ sĩ cho chủ tịch tập đoàn. Anh ta là người không ngần ngại ném tiền qua cửa sổ. Có lần Blair kể cho một phóng viên nghe câu chuyện về một buổi tối Bone và vợ anh ta thèm ăn bánh pizza. Khi họ ra tới tiệm bánh thì vừa lúc nhân viên treo tấm bảng “Đóng cửa”. Bone hỏi mua một chiếc bánh pizza nhưng được trả lời là bếp lò đã tắt. Anh ta nài nỉ mãi nhưng cũng chỉ nhận được câu trả lời tương tự. Thế rồi anh ta đề nghị trả 500 đôla cho một cái bánh. Câu trả lời là: “Được. Chúng tôi sẽ mở cửa trở lại.”

Kinh nghiệm đánh bài poker của Bone và cái tính cách cực đoan của anh ta có vẻ là những bài học hay để tham gia trò chơi trên thị trường cổ phiếu hàng hóa. Nhưng với hàng hóa, bạn có thể mất nhiều hơn là những tấm phỉnh xếp chồng trước mặt bạn; bạn có thể mất cả những miếng phỉnh mà bạn chưa có. Đầu tư hàng hóa là đặt cược vào giá cả tương lai, vì thế nó còn được gọi là: thị trường tương lai. Trò chơi bấp bênh này không dành cho những người không ưa mạo hiểm; cứ bốn bốn nhà đầu tư tham gia mua bán trên thị trường hàng hóa thì có ba người bị thua lỗ.

Lý do cho tất cả những rủi ro này là bạn chỉ phải bỏ ra một phần rất nhỏ của giá trị hợp đồng; ví dụ bỏ ra 1.000 đôla cho hợp đồng trị giá 25.000 đôla. Một cú đặt cược khôn ngoan – hoặc may mắn – có thể mang về số tiền kha khá. Nếu đến thời điểm bạn phải đưa hàng hóa ra thị trường mà giá hàng tăng lên 10%, tới 27.500 đôla chẳng hạn, thì bạn sẽ kiếm được 2.500 đôla. So với đồng vốn đầu tư 1.000 đôla, bạn đã lãi 150%. Nhưng ngược lại, nếu giá thị trường sụt giảm với tỷ lệ tương đương ở thời điểm bạn phải đem hàng ra chợ, bạn sẽ mất 1.000 đôla tiền cược đồng thời sẽ nợ thêm một khoản là 1.500 đôla, hay là 150% tiền vốn đầu tư ban đầu của bạn.

Những người môi giới thường buộc khách hàng phải đóng một khoản thế chân, gọi là “tiền dự phòng”, để bảo đảm cho người môi giới không bị thiệt hại vì những khoản thua lỗ có thể xảy ra cho các hợp đồng giao hàng trong tương lai. Nhưng ở văn phòng của Bone vào cuối những năm 1970, công việc tiến triển thuận lợi đến mức họ rất ít quan tâm tới quy định về dự phòng.

Mùa thu năm 1978, bản thân Blair đã tích cóp được khoảng 2 triệu đôla, tiến gần hơn đến mục tiêu 4 triệu đôla mà ông đặt ra từ đầu. “Năm 1978, tôi gặp vận đỏ, rất đỏ và tôi khuyến khích mọi người trong văn phòng luật sư làm theo lời khuyên của tôi; tôi khuyến khích bạn bè mở tài khoản và làm theo chỉ dẫn của tôi. Một trong những người mà tôi khuyến khích mở tài khoản lúc ấy là Hillary Rodham,” sau này Blair nhớ lại.

Lúc ấy, Hillary và Bill có một mối quan hệ cá nhân khá thân thiết với Blair và người vợ tương lai của ông, cô Diane Kincaid. Khi họ làm lễ cưới tại Fayettewille năm 1979, Jim và Diane đã yêu cầu Hillary đại diện cho cả hai người thay vì phải có một phù dâu và một phù rể riêng. Gia đình Blair không thích làm chính trị; họ thường nhắc tới Hillary như một “người tốt nhất”.

Hillary nghe theo lời khuyên của Blair và mở một tài khoản tại văn phòng Refco, gần Sprindale vào tháng 10 năm 1978, với số tiền khiêm tốn là 1.000 đôla. Công việc được quản lý lỏng lẻo tới mức hồ sơ tài khoản của bà đều ghi tên bà là “Hilary Rodham”, thiếu một chữ “L”.

Trong cuốn sách của mình, Hillary giải thích quyết định đầu tư vào thị trường hàng hóa như thế này: “Tôi muốn mạo hiểm 1.000 đôla và để Jim hướng dẫn mọi công việc kinh doanh của tôi thông qua Red Bone”. Nhưng một người bạn thân của Hillary thời ấy, cô Nancy Pietrafesa, cho rằng rất khó mà đo được sự háo hức tham gia trò cá cược của Hillary. “Ở độ tuổi ba mươi, bạn sẽ không ném một mớ tiền vào kinh doanh hàng hóa,” Pietrafesa nói, và cho biết thêm, vụ đầu tư này là “công việc của Blair” và Hillary “luôn vẽ ra một ông Blair như là người có thể làm ra rất nhiều tiền”.

Tháng 4 năm 1994, khi một phóng viên đặt câu hỏi vì sao bà tham gia vào một vụ đầu tư đầy rủi ro như vậy, Hillary không chấp nhận lập luận của người hỏi. “Tôi không nghĩ rằng đó là một rủi ro lớn,” bà nói, bởi vì Blair “và những người mà anh ấy giao thiệp biết rõ những gì họ đang làm.”

Bà cũng lúng túng khi giải thích tại sao bà chỉ ký séc 1.000 đôla cho thương vụ mua bán gia súc đầu tiên của mình, khi quy định về “mức dự phòng” vào thời ấy bắt buộc bà phải đặt nhiều tiền hơn cho người môi giới. Không chỉ mức dự phòng ban đầu của bà là bất bình thường, mà “thỉnh thoảng bà đã giao dịch với mức tiền dự phòng thấp hơn quy định”. Một chuyên gia về kinh doanh hàng hóa có kỳ hạn, khi nhận ra điều này, đã chỉ ra rằng không chỉ Hillary mà cả công ty môi giới của bà, đã vi phạm pháp luật về mức dự phòng trong kinh doanh hàng hóa.

Tuy vậy, ít ai có thể tranh luận về việc đối với một nhà đầu tư tham gia vào một thương vụ đầy rủi ro như vậy, bất chấp tổng thu nhập hàng năm của bà, Hillary lại không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ xã hội và nghề nghiệp. Bà chỉ đơn giản đưa tiền cho Blair và để mặc cho ông ta xoay xở. Luật sư của Hillary khẳng định rằng, “bà ấy vẫn tuân thủ quy định về dự phòng”, nhưng phủ định việc bà nhận được sự đối xử mang tính ưu đãi và lưu ý rằng “dự phòng là nhằm bảo vệ cho người môi giới” mà thôi.

Trong khi không phải chịu nghĩa vụ về xã hội và nghề nghiệp, Hillary lại thành công một cách đáng kể. Cuối cùng, sau chín tháng đầu tư, Hillary đã đánh cược 1.000 đôla thành gần 100.000 đôla, một thắng lợi đáng chú ý tuy không phải là không có tiền lệ. (Khi người đầu tư trúng lớn trong những vụ cá cược hàng hóa, họ có thể trúng rất đậm.) Lợi nhuận kinh doanh của bà trong năm 1978 và 1979 đã được báo cáo đủ trong hồ sơ khai thuế của gia đình Clinton, và không có bất kỳ phát hiện chính thức nào cho thấy Hillary đã làm việc gì sai trái. Tuy vậy, câu chuyện về những hoạt động kinh doanh của bà luôn được nhắc đến trong thời gian gia đình Clinton sống trong Nhà Trắng. Và khi Hillary bước lên vũ đài chính trị quốc gia, bà phải đóng một vai trò tích cực hơn trong nỗ lực tách những thương vụ kinh doanh cá nhân ra khỏi hình ảnh của bà trước công chúng.

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.