Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
Trường Học Của Những Bước Đi Nhỏ

❊ ❊ ❊

NĂM ĐẦU TIÊN CỦA HILLARY trong Nhà Trắng không phải là cuộc sống đáng mơ ước mà bà vẫn hình dung. Khi mùa lễ lạt năm 1993 đến gần, Hillary đã phải ráng sức vượt qua tình trạng khó ở nặng nề; một số bạn bè đã lo ngại rằng bà bị trầm cảm đến mức bệnh thật. Bà có những lý do cả về cá nhân lẫn về chính trị để rơi vào trạng thái u ám như vậy: Ở Hillaryland, họ đang cố gắng “kiểm soát hậu quả” của hàng loạt bài báo viết về tính lăng nhăng của ông Bill. Hillary đã lên kế hoạch cho một cuộc xuất hiện nhân ngày lễ trong chương trình Today của đài truyền hình. Nhưng cuộc phỏng vấn bị hủy bỏ sau khi đài truyền hình không chấp nhận yêu cầu của nhóm nhân viên của bà rằng bà sẽ không bị hỏi về những tố cáo mới đây cho rằng ông Bill đã tán tỉnh lăng nhăng ở Arkansas, kể cả việc dan díu với một người đàn bà có tên là Paula.

Vào một buổi sáng lạnh giá giữa ngày lễ Giáng sinh và Năm mới, Hillary và chánh văn phòng của mình, bà Maggie Williams, ngồi uống cà phê trong phòng đợi phía Tây của Nhà Trắng. Họ ngồi trước khung cửa sổ hình nan quạt – chỗ ngồi ưa thích nhất của họ trong tòa dinh thự này. Hai người đọc lướt qua các tờ báo và cố gắng vui lên trước viễn cảnh một năm mới đang đến. “Hê! Đọc bài này này!” bà Maggie Williams vừa nói vừa đưa cho Hillary tờ báo USA Today. “Nó nói rằng bà và tổng thống là những người đáng kính nhất thế giới.”

Tuy vậy, bất kỳ chỗ nào họ nhìn tới thì tin tức đều rất u ám. Có những bài báo viết về vụ Whitewater và những rắc rối đã nhìn thấy trước đang chờ đợi vị Đệ nhất Phu nhân trong năm mới. Hillary hy vọng rằng người dân Mỹ sẽ giữ được tinh thần khoan khoái nhẹ nhàng cho dù chính bà cũng đang phải cố gắng giữ tinh thần.

Cuộc chiến đấu sẽ hết sức gay go, cho bà và cho cả Bill Clinton.

Chắc chắn rằng các đối thủ chính trị sẽ không thể hiện chút lòng thương nào đối với họ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 1994, người mẹ mà ông Bill rất yêu quý, bà Virginia, qua đời vì bệnh ung thư trong căn nhà của mình ở Hot Springs. Vài giờ sau khi hay tin mẹ mất, Bill và Hillary tình cờ nghe loáng thoáng tin tức trong chương trình truyền hình Today: “Thân mẫu của Tổng thống vừa qua đời sáng sớm hôm nay sau thời gian dài chiến đấu với bệnh ung thư.” Ngay sau bản tin, dân biểu Newt Gingrich và Nghị sĩ Bob Dole xuất hiện trong một chương trình phỏng vấn truyền hình được xếp lịch từ trước. Sáng hôm ấy không có lời chia buồn nào. Thay vì vậy hai ông nghị Đảng Cộng hòa xoay sang vụ Whitewater. “Đối với tôi, vụ này đòi hỏi phải bổ nhiệm một chưởng lý độc lập có quyền điều tra,” ông Dole nói.

Hillary nhận thấy phát biểu của Dole làm Bill Cliton tan nát. “Bill được mẹ dưỡng dục trong niềm tin rằng anh sẽ không đánh những người đã ngã gục, rằng ngay với các đối thủ của mình, trong đời sống hay trên chính trường, anh cũng phải đối xử với lòng tử tế,” bà nhớ lại.

Hai tuần sau đó bà Tổng chưởng lý (còn gọi là Bộ trưởng Tư pháp) Janet Reno bổ nhiệm ông Fiske, một người Cộng hòa ôn hòa và nguyên là chưởng lý liên bang tại Manhattan, làm chưởng lý độc lập và điều hành. Fisker nắm quyền kiểm soát cuộc điều tra vụ Whitewater và Madison Guaranty lúc ấy đã bắt đầu được triển khai ở Bộ Tư pháp. Hillary phản đối mạnh mẽ việc bổ nhiệm một luật sư bên ngoài để điều tra vụ lộn xộn Whitewater, nhưng Bill bỏ qua lời can ngăn ấy – đó là một quyết định đưa ra trong thời gian làm tổng thống mà sau này ông hết sức hối hận. Trong cuốn tự truyện của mình, ông kể lại, “Đó là quyết định tồi tệ nhất của tôi với tư cách tổng thống, một sai lầm về sự kiện, sai lầm về luật pháp, sai lầm về chính trị, sai lầm cả về nhiệm vụ tổng thống và Hiến pháp.”

Về phần mình, bà Hillary ước gì mình đã “chiến đấu quyết liệt hơn và không để mình bị thuyết phục đi theo con đường ít trở ngại nhất.” Tuy nhiên theo thời gian, bà bắt đầu nhìn thấy ông Fiske là một người “công bằng, vô tư và nhanh nhẹn”, một cái nhìn tốt hơn nhiều so với quan điểm của bà đối với người kế nhiệm ông ta là Kenneth Starr.

Starr tiếp quản công việc của ông Fiske tám tháng sau đó. Tuy vậy, không giống như ông Fiske, do sự thay đổi về quy chế nên ông Starr không được bà Reno bổ nhiệm trực tiếp, mà được ủy quyền của một hội đồng thẩm phán do một người Cộng hòa đứng đầu. Đệ nhất Phu nhân coi ông ta là một người Cộng hòa mang nặng tính đảng phái với ý định duy nhất là kéo dài cuộc điều tra bẩn thỉu đó, ít nhất là cho qua kỳ bầu cử tổng thống năm 1996. Nhưng nhiều cuộc điều tra gây tranh cãi của ông Starr thực chất đã được khơi mào từ những hành động của ông Fiske. Chính ông Fiske mới là người tự tay viết lại cái ngôn ngữ mang tính chất quyết định của bản tuyên bố do các luật sư của Bộ Tư pháp dự thảo trước đó. Phần biên tập của ông Fiske bao gồm cả việc chỉnh sửa một điều khoản nhằm mở rộng quyền hạn của ông trong việc thẩm tra bất cứ cáo buộc nào nổi lên trong cuộc điều tra. Fiske nói ông đã tạo ra “một điều khoản hết sức rộng rãi” bởi vì, là một công tố viên lão thành, “điều hết sức quan trọng đối với tôi” là có được sự tự do hành động. Điều khoản mở này cuối cùng đã trở thành “một vấn đề lớn”, như sau này Fiske nhận ra.

Starr, người kế nghiệp Fiske, cũng công nhận rằng cái điều khoản được viết lại đó “chắc chắn đã giúp ích trong việc thiết lập cơ sở” cho văn phòng của ông điều tra quan hệ giữa Bill với cô nhân viên tập sự ở Nhà Trắng Monica Lewinsky sau này. Cả ông Starr và ông Fiske cũng đều sử dụng điều khoản đó để điều tra Webb Hubbell.

Ngay trong buổi đầu nhiệm kỳ công tác của ông Fiske, những vấn đề của Hubbell đã hiện ra khá rõ. Hai tháng sau ngày Fiske được bổ nhiệm, Hubbell phải từ chức trợ lý tổng chưởng lý để đối mặt với một vụ tranh chấp với hãng luật Rose liên quan tới việc thu chi của ông ta. Cuộc tranh chấp đó cuối cùng dẫn tới chuyện ông ta bị bỏ tù sau khi cuộc điều tra do Fiske và Starr tiến hành phát hiện ra rằng trong thời gian làm việc ở Rose, Hubbell đã lừa dối các thân chủ và cộng sự của mình. Ông ta đã sử dụng ngân phiếu của hãng luật Rose để thanh toán các chi phí cá nhân trong hàng trăm trường hợp. Hillary không nghĩ vấn đề lại nghiêm trọng đến thế, phần lớn bởi vì Hubbell luôn trấn an bà rằng nó không nghiêm trọng, đến nỗi bà đã tham gia một nhóm bạn bè và người ủng hộ Hubbell, cố tìm việc làm cho người cộng sự cũ của mình trước khi ông ta bị kết án.

“Vào lúc đó, chúng tôi không có lý do gì để không tin vào lời phủ nhận của ông ấy đối với những việc làm sai trái.” Hillary nói khi phóng viên hỏi về Hubbell. “Ông ấy nhìn vào mắt chúng tôi và nói một cách dứt khoát, ‘Tôi đã không làm gì sai, chuyện này rồi sẽ qua đi, chỉ cần quan tâm thế thôi’.”

Nhưng các công tố viên nhìn vấn đề rất khác và họ băn khoăn tự hỏi liệu công việc tư vấn mà bà Hillary và những người khác cố giúp ông Hubbell giành được sau khi ông ta rời khỏi Bộ Tư pháp, phải chăng là có ý đồ mua chuộc sự im lặng của ông ta về công việc pháp lý của bà Hillary tại ngân hàng Madison thuở trước. Bà Hillary kinh hoàng với cái giả thuyết “tiền mua sự im lặng” của các công tố viên; bà coi đó là cuộc tấn công mới nhất, cường điệu nhất trong “cái âm mưu hoang tưởng không bao giờ kết thúc, mà ơn trời, làm tôi nhớ tới mấy người vẫn bị ám ảnh bởi đĩa bay hoặc sao chổi Hale-Bopp.”

Khi tin tức về vụ Hubbell từ chức trợ lý tổng chưởng lý được loan ra thì Bill đang ở Boston, tham dự một bữa tiệc gây quỹ tại khách sạn Park Plaza. Ông giật mình sửng sốt. Sự từ chức của Hubbell là “khó tin... Ông ấy là một trong những người được nhiều người quý trọng nhất mà tôi từng biết,” ngài Tổng thống buồn bã nói. Sau đó tại buổi tiệc, Bill nói về nhu cầu phải làm mới lại mối quan hệ hợp tác và tin cậy giữa những người Cộng hòa và Dân chủ. Với vụ việc Hubbell vẫn còn in đậm trong tâm trí, ông nói những người Cộng hòa ở Washington chỉ “phấn đấu chống lại tất cả những gì chúng tôi hướng đến, phấn đấu cho một thứ chính trị tiêu diệt cá nhân”. Mặt ông ửng đỏ lên, ông nói rằng lẽ ra những người Cộng hòa nên “thay vì đuổi theo” bà Hillary, thì hãy tranh luận với bà về những ưu điểm của chương trình cải cách y tế. Ông nêu lên một câu hỏi tu từ: “Tại sao... trong guồng máy chính quyền này, chúng ta lại phải đương đầu với một đảng đối lập chỉ biết đứng lên và nói, ‘Không! Không! Không! Không! Không! Không! Không! Không! Không!’?” Với mỗi tiếng “Không!” giọng ông Bill lại vang to hơn, lay động khán giả mạnh mẽ hơn. Toàn thể cử tọa sửng sốt; trước mắt họ dường như ngài Tổng thống đã đánh mất sự tự chủ vốn có.

Liên quan tới các công việc tư vấn, không ai buông ra lời buộc tội nào, nhưng vào cuối năm 1994, Hubbell thừa nhận có tội từng lừa dối các thân chủ và cộng sự của mình – kể cả bà Hillary – ít nhất là 394.000 đôla. Lời thú nhận tội lỗi của ông làm Hillary “bị sốc”; bà “cảm thấy điều đó thật khó chấp nhận.” Bà đã gọi điện cho Hubbell chỉ một tuần trước ngày ông ta thú tội, sau khi được nghe một báo cáo rằng có khả năng ông ta sẽ bị buộc tội. Bà đã bảo ông ta, “Anh phải đấu tranh với vụ này, Webb à”, và “Anh phải cứng rắn lên!” Đó là cuộc trò chuyện cuối cùng giữa Hillary và Hubbell, kết thúc một mối quan hệ đã bắt đầu khoảng hai thập niên về trước, khi xảy ra vụ kiện công ty công ích ACORN.

Thế là bộ ba của công ty luật Rose – Foster, Hubbell và Hillary – giờ chỉ còn một người.

Vài hôm sau ngày Hubbelltừ chức, tờ New York Times chạy một bài dài về việc kinh doanh cổ phiếu hàng hóa của bà Hillary. Cuối cùng thì các phụ tá và luật sư của bà đã cung cấp các bản ghi về tài chính cho tờ Times, nhưng chỉ sau khi tờ báo xác định rõ rằng họ đang chuẩn bị xuất bản một bản kê chi tiết về lợi nhuận kinh doanh của bà.

Ban đầu, các phụ tá cao cấp của vợ chồng Clinton nói vào tháng 3 năm 1994 rằng Hillary “đặt cơ sở cho hoạt động kinh doanh của mình dựa theo thông tin trên tờ Wall Street Journal.” Lời giải thích ấy sau đó đã bị hủy bỏ. Một phụ tá của Hillary khi ấy nói rằng Hillary đã rút lui khỏi thị trường vào mùa thu năm 1979 vì bà nhận thấy kinh doanh là việc phải động não quá nhiều, không thích hợp khi bà đang trong những tháng cuối của thời kỳ thai nghén. Nhưng một phụ tá khác của Nhà Trắng nhanh chóng tuyên bố rằng lời giải thích đó là “không hiệu quả”, khi tháng 4 năm 1994, người ta biết rằng bà Hillary đã kiếm được 6.500 đôla trong một thương vụ kinh doanh cổ phiếu hàng hóa vào năm 1980, nhưng đã không kê khai khoản lợi nhuận đó với sở thuế IRS.

Sau đó không bao lâu bà Hillary đã thừa nhận trách nhiệm – theo cái cung cách tiêu chuẩn của bà là kết hợp giữa sự thừa nhận trách nhiệm cá nhân với việc phê phán người khác – về những câu trả lời lẫn lộn lung tung mà các nhân viên phụ tá của bà đưa ra; bà nói rằng do bà đi vắng và bận tâm vào những vấn đề hệ trọng khác. “Có lẽ tôi đã không dành đủ thời gian để nói rõ ràng chính xác, vì thế tôi nghĩ rằng sự lầm lẫn có phần trách nhiệm của chúng tôi.”

Không bao lâu sau khi bài báo về kinh doanh cổ phiếu hàng hóa được công bố, Bill và Hillary cố gắng tìm cách cải thiện quan hệ với báo chí. Họ giao cho người bạn là Susan Thomases tiếp cận một nhà báo được giải là James Stewart, một cây bút cộng tác với tờ The New Yorker. Thomases nói với Stewart rằng vợ chồng Clinton muốn có ai đó trình bày một cách công bằng câu chuyện về Whitewater và cái chết của Foster, và thẩm vấn những kẻ thù về ý thức hệ của hai vợ chồng này. Tò mò với lời đề nghị này, Stewart đã bay từ New York đến Washington, nơi ông gặp gỡ bà Hillary trong Phòng Bản đồ của Nhà Trắng.

Stewart nhớ lại, sau mấy lời thăm hỏi xã giao, Hillary “đã xỉ vả những chiến thuật của giới báo chí và cơ quan nghiên cứu chính sách của cánh hữu”, và biểu lộ sự kinh ngạc trước việc những phát biểu của bà và của ông Bill về việc này đã “không được cánh báo chí coi là thành thật”.

Hillary nhấn mạnh, bà không có gì phải che giấu, vì thế Stewart tiếp tục dự định của mình. Sau đó ông có những cuộc thảo luận với những phụ tá của Hillary. Tin tưởng rằng Đệ nhất Phu nhân “sẽ hợp tác với tôi”, ông bắt đầu viết cuốn sách về vợ chồng Clinton và những đối thủ của họ.

Nhưng cả Hillary, cả Bill Clinton đều không hợp tác. Thái độ của Hillary đối với báo chí chính thống, từ khi còn ở Little Rock đến sau này ở Washington, vẫn trước sau như một – nghi ngờ và muốn nắm quyền kiểm soát. Vợ chồng Clinton cũng có vẻ hơi ngây thơ khi nghĩ rằng chỉ cần họ chỉ cho Stewart cái hướng mà họ muốn, thì ông ấy sẽ ngoan ngoãn tiến về phía trước. Cuối cùng cuốn sách của Stewart, cuốn Blood Sport, được nhiều người khen ngợi, trừ gia đình Clinton. Cuốn sách đưa ra thêm một lô một lốc những câu chuyện về cuộc đời nghề nghiệp của Hillary ở Arkansas và tiếp tục làm lu mờ thanh danh bà.

Vào giữa tháng 4, mức độ chấp nhận bà Hillary đã sút giảm, từ 56 phần trăm năm trước còn 44 phần trăm, một tỷ lệ thấp chưa từng thấy đối với một Đệ nhất Phu nhân. Các phụ tá biết rằng sự miễn cưỡng đầy ngoan cố không chịu nói chuyện với báo chí của Hillary là một trong những nguyên nhân làm cho công chúng không hài lòng với bà. Trong nhiều tuần lễ, các phụ tá và bạn bè của bà đã thúc giục bà phải đương đầu với những bài tường thuật tiêu cực và những lời ám chỉ bóng gió bằng một thái độ cởi mở và trung thực. Đúng là bà muốn tránh mặt, nhưng nếu không cung cấp cho người dân Mỹ một hình ảnh khác với sự xuất hiện khó chịu lúc ban đầu trước công chúng, thì bà đã để mặc cho các đối thủ chính trị tự vẽ lên hình ảnh của mình.

Vào cuối tháng 4, Hillary bảo chánh văn phòng Maggie Williams rằng, “Tôi muốn làm việc đó. Hãy tổ chức một cuộc họp báo.”

“Bà có biết bà sẽ phải trả lời mọi câu hỏi, bất kể họ nêu cho bà vấn đề gì không?” Williams trả lời.

“Tôi biết. Tôi đã sẵn sàng.”

Cuộc họp báo diễn ra trong Phòng Đại yến (State Dining Room), bài trí ít trang trọng hơn Phòng Đông (East Room) nhưng bầu không khí thì đầy kịch tính và kỳ vọng. Vào phút cuối cùng, Hillary quyết định mặc chiếc áo ấm màu hồng và chiếc váy đen, khiến cho cuộc họp báo dài sáu mươi tám phút này được gán cho cái tên là “cuộc họp báo màu hồng.” (Một vài phóng viên đồn rằng, cách chọn trang phục của bà Hillary là một cố gắng “làm mềm hình ảnh,” một kiểu phân tích thời trang mà một chính trị gia nam giới không bao giờ vướng phải.)

Ngay đầu cuộc họp, Hillary công nhận bà đã không làm cho mình gần gũi với báo chí. Bà giải thích, mong muốn của bà là muốn “khoanh vùng cho sự riêng tư” của gia đình, và thói quen làm việc theo kiểu riêng của mình “có lẽ đã đưa đến việc tôi ít nhận được sự thông cảm như đáng ra tôi cần phải có từ báo chí và công chúng, trong khi họ vẫn có quyền được biết những chuyện về tôi và chồng tôi.”

Bà quy cái tính ít trò chuyện với nhà báo của bà cho những bài học mà bà học được từ khi còn là một đứa trẻ. Chẳng hạn, cha mẹ bà đã nhiều lần bảo bà rằng, “Đừng nghe những gì người khác nói. Đừng theo quan niệm của người khác. Con biết đấy, con phải sống với chính bản thân mình.” Lúc ấy, đó có thể là lời khuyên tốt và bà chắc chắn đã tuân theo lời khuyên đó từ khi chuyển vào sống trong Nhà Trắng, nhưng giờ đây, Hillary giải thích, đã đến lúc bà bắt đầu mở lòng mình ra và “tái khoanh vùng”, như bà nói. Các phóng viên cười vang.

Một phóng viên hỏi liệu sự phê phán của bà đối với thời đại Reagan như là một thập niên của thói tham lam không đáy có phải là đạo đức giả không, khi so với khoản lợi nhuận trời cho mà bà có được từ việc kinh doanh cổ phiếu hàng hóa mới được phơi bày gần đây.

“Tôi nghĩ rằng có quá lời nếu nói rằng những quyết định của chúng tôi trong việc tạo ra một sự an toàn tài chính cho gia đình và thực hiện một vài cuộc đầu tư là giống với sự thái quá của thập niên 1980,” bà đáp. Xoay ngược lại thực tế, bà cho rằng chính đức tính tằn tiện cố hữu của cha bà và cuộc tìm kiếm an toàn tài chính đã giúp bà thành công trong việc kinh doanh cổ phiếu hàng hóa.

Bà cũng thừa nhận việc bà từ chối công bố hồ sơ hoàn thuế năm 1979 và việc bà liên tục chống đối sự bổ nhiệm một luật sư bên ngoài điều tra vụ Whitewater đã tạo ra cái cảm giác rằng bà đang cố giấu giếm một điều gì đó. “Tôi nghĩ, có lẽ đó là một trong những việc làm tôi áy náy nhất và một trong những lý do tại sao tôi muốn tổ chức cuộc họp báo này,” bà nói.

Sau cuộc họp, các phụ tá và bạn bè của Hillry trấn an bà rằng bà đã làm rất tốt. Nhưng bà không tin như vậy. Bà bảo một người bạn thân rằng cuộc họp báo dài có hơn tiếng đồng hồ sẽ không thể chấm dứt được tình cảnh khó khăn hiện thời của bà. “Họ sẽ không để chúng ta ngóc đầu lên đâu. Họ chỉ tiếp tục soi mói chúng ta, bất kể chúng ta có làm gì đi chăng nữa,” bà nói.

MẤt nhiỀu buỔi sángmùa xuân năm 1994, Hillary thức giấc cảm thấy buồn và cô đơn. Bà nhắc lại “nỗi đau vì tất cả những bạn bè thân thiết, những đồng sự và họ hàng đã đi khỏi cuộc đời chúng tôi hoặc đã bị tấn công một cách không công bằng.” Danh sách này bao gồm cả cha bà, mẹ của Bill – bà Virginia, và Vince Foster. Bà cảm thấy “hết sức thất vọng” và cô đơn không sao chịu nổi.

Một phần nỗi buồn của bà dựa trên câu chuyện dài Whitewater. (Một buổi sáng tháng ba, chỉ số chứng khoán Dow Jones giảm hai mươi ba điểm do những “tin đồn” về vụ tai tiếng này.) Một phần lớn hơn nữa của nỗi bực bội bắt nguồn từ việc ý thức rất rõ rằng nước cờ cải cách hệ thống y tế đã bị đánh bại. Nhưng còn một khía cạnh khác liên quan tới sự suy giảm vai trò mà bà đang đảm nhiệm ở Cánh Tây. Cái vị trí chính sách chưa từng có tiền lệ trước đây mà Hillary được giao phó trong ngày lễ đăng quang đang bị suy giảm từng chút từng chút một. Bà đã dịch chuyển từ một đồng-tổng thống đầy quyền năng sang một đồng sự cấp thấp, cho dù bà vẫn có ảnh hưởng cũng như quyền tiếp cận với ông chủ hết sức lớn lao. Sự dịch chuyển vị trí này là một phần trong cuộc vận động liên tục không ngừng nghỉ của Nhà Trắng. Đa số người dân Mỹ – 62 phần trăm trong một cuộc thăm dò ý kiến – nói rằng họ không muốn Hillary dính dáng vào việc hoạch định chính sách, dù họ vẫn chấp nhận hoạt động của bà với tư cách Đệ nhất Phu nhân. Điều này cho thấy, rõ ràng đa số người dân Mỹ muốn Hillary nên ở yên bên trong ranh giới của vai trò truyền thống của một Đệ nhất Phu nhân và đừng can thiệp vào công việc chính thức của đất nước. Điều đó không thể xảy ra – bà quá thông minh, quá mạnh mẽ, quá tự hào về điều đó, và chồng bà lại tin cậy vào sự phán đoán của bà trong hầu hết mọi chuyện – nhưng đã có một sự điều chỉnh và bà Hillary phát hiện ra mình đang dần dần bị gạt sang bên lề.

Mùa hè năm ấy, Hillary kết luận rằng toàn bộ vụ náo loạn Whitewater chẳng qua chỉ là một cố gắng “bằng mọi cách làm xói mòn chương trình hành động đang tiến triển... Nếu bạn tin vào tất cả những điều bạn nghe được trên sóng phát thanh truyền hình năm 1994, bạn sẽ đi tới kết luận rằng tổng thống của bạn là một người Cộng sản, rằng Đệ nhất Phu nhân là một kẻ sát nhân, rằng cùng với nhau, cả hai người này ấp ủ một âm mưu tước đoạt súng ống của bạn, cưỡng ép bạn phải từ bỏ ông bác sĩ gia đình của mình (nếu bạn có) vì một hệ thống chăm sóc sức khỏe theo kiểu xã hội chủ nghĩa,” bà đã viết như vậy.

Cảm giác của bà về sự bức hại tỏ ra ngày càng tệ hơn. Hillary nhận ra quyết định bổ nhiệm ông Kenneth Starr vào cương vị chưởng lý độc lập là điều phiền toái và càng khẳng định những nỗi sợ hãi của bà về một cuộc điều tra có ý hướng chính trị. Đổi lại, các luật sư và điều tra viên làm việc cho ông Fiske, kể cả các chuyên viên từ Cục Điều tra Liên bang (FBI) và Sở Thuế (IRS), lại lo ngại rằng sự ra đi của ông Fiske có thể làm giảm sức mạnh của cuộc điều tra. Kết quả là, chẳng bao lâu sau khi Starr được bổ nhiệm thay thế Fiske, ông Fisker đã triệu tập một cuộc họp ở Little Rock.

Fisker giải thích: “Trong FBI và IRS, có nhiều người quan tâm tới những gì sẽ xảy ra cho cuộc điều tra. Vì thế tôi tổ chức cuộc họp với khoảng bốn mươi người của FBI và IRS. Tôi nói với họ, ‘Đừng lo về chuyện này’. Ken Starr là một người rất tốt. Vào mùa thu năm 1994 và mùa xuân năm 1995, chúng tôi đã đưa ra tám cáo trạng chống lại mười hai người. Tôi nói rằng, tôi tin thế nào cũng sẽ diễn ra những cáo trạng này. Và tất cả các cáo trạng đó sẽ được đưa ra và dẫn tới bản án. Những gì mà lẽ ra tôi phải làm thì ông ấy đã làm.”

Starr cũng có chung quan niệm như vậy. Ông ta tuyên bố: “Mọi việc ở Little Rock chúng tôi đều thừa hưởng từ ông Bob Fiske tuyệt diệu.” Tất nhiên, Starr sẽ tiếp tục mở rộng cuộc điều tra của Fiske theo những cách thức mà không ai có thể đoán trước được. Một thời gian ngắn sau khi nhậm chức, Starr được Fiske khuyên rằng, “chuẩn bị đưa gia đình đến Little Rock đi; anh sẽ ở đây một thời gian dài đấy.” Đây lại là cách nói nhẹ đi của Fiske. Cuộc điều tra độc lập của văn phòng chưởng lý đối với vợ chồng Clinton đã kéo dài nhiều năm sau đó, tiêu tốn hơn 50 triệu đôla và gây thiệt hại khủng khiếp cho tổng thống, phu nhân và – tùy thuộc vào việc bạn hỏi ý kiến của ai – cho cả đất nước nữa.

Bất kể người phụ trách cuộc điều tra vào mùa hè năm ấy là ai, nỗi giận dữ đối với gia đình Clinton trên khắp đất Mỹ đã quá rõ ràng. Vào cuối tháng 7, ở Seatle, trong một chuyến du lịch dọc theo bờ Tây để vận động sự ủng hộ cho dự luật về cải cách y tế, Hillary giật mình kinh hoảng khi thấy một đám đông dân chúng hàng trăm người giận dữ hô vang những khẩu hiệu cay độc phản đối bà về cải cách y tế, kiểm soát súng đạn và quyền phá thai. Đa số người phản đối là những người đàn ông bị kích động bởi người dẫn chương trình trò chuyện trên đài phát thanh địa phương. Hillary mặc chiếc áo chống đạn, sau này bà nhớ lại đó là một trong những lần đầu tiên bà cảm thấy cuộc sống của mình thật sự bị đe dọa. Sau khi trở về thủ đô Washington, bà kể lại với bạn bè, “Tôi chưa từng thấy những khuôn mặt nào như vậy kể từ sau những cuộc xung đột chủng tộc vào thập niên 1960. Trên mặt họ cũng có những nỗi căm giận y như vậy.”

Khi Hillary trở lại Washington, nghị sĩ Cộng hòa cuối cùng đã từng ủng hộ dự luật cải cách y tế, ông John Chafee của bang Rhodes Island, cũng rút lại sự ủng hộ của mình. Cuộc trường chinh hào hiệp của Hillary kết thúc chỉ sau hai mươi hai tháng kể từ ngày bắt đầu. Thậm chí dự luật của bà còn không được các nghị sĩ dân biểu Dân chủ đưa ra xem xét bỏ phiếu ở Hạ viện hoặc Thượng viện – một sự coi thường đáng nguyền rủa – dù rằng vào lúc ấy nó cũng chẳng có gì gây sốc. Mặc dù một số cố vấn của Hillary thúc giục bà nên cố gắng đi tới một sự thỏa hiệp với những người Cộng hòa, bà vẫn cho rằng mọi sự thỏa hiệp đều chỉ có nghĩa là tiền phí bảo hiểm sẽ tăng lên. Và rồi chính bà và ông Bill sẽ bị chê trách – một hệ quả không thể chấp nhận được khi họ đang tiến tới những cuộc bầu cử giữa kỳ vào mùa thu năm ấy. Kết quả là Hillary kiên quyết phản đối những lời khuyên thỏa hiệp về biện pháp.

Hillary gần như sup sụp. Bill cố gắng an ủi bà bằng cách nói rằng trong đời vẫn còn có những lỗi lầm lớn hơn là “bị bắt quả tang” cố gắng mang lại bảo hiểm y tế cho 40 triệu người Mỹ hiện đang không được bảo hiểm. Ông quy sự thất bại này cho khoản tiền 300 triệu đôla mà ngành bảo hiểm y tế và những phe nhóm vận động hành lang khác bỏ ra với mục tiêu cay độc là bóp chết dự luật cải cách y tế. Và ông nuôi giấu một nỗi căm ghét sâu xa với những người Cộng hòa, đặc biệt là họ đã thành công trong việc biến bà vợ ông thành mục tiêu nhắm bắn.

Sau này Hillary viết lại: “Một ngày nào đó chúng ta sẽ sửa chữa hệ thống này. Khi chúng ta làm được việc đó, nó sẽ là kết quả từ những nỗ lực hơn năm mươi năm qua của Harry Truman, Richard Nixon, Jimmy Carter, của Bill, và của tôi. Vâng, tôi vẫn vui vì chúng tôi đã cố gắng.” Nhưng giờ đây, bà Hillary, con người mà tham vọng luôn luôn là động lực của cuộc sống, đành phải gạt cái kế hoạch lớn sang một bên và hạ thấp những kỳ vọng mà bà đã dành cho bản thân mình. Bà diễn tả vai trò mới của mình như thế này: “Giờ đây tôi bước ra từ trường học của những bước đi nhỏ.”

* * *

MẶc dù có nhỮng bưỚc thỤt lùi, nhiệm kỳ tổng thống của ông Clinton cũng gặt hái được nhiều thành công đáng kể trong hai năm đầu tiên. Luật ngân sách của ông Bill đã đặt được nền tảng về tài chính để giải quyết tận gốc nạn thâm thủng ngân sách. Điều đó lại giúp đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo ra hơn mười triệu việc làm mới. Năm 1994, Bắc Triều Tiên đồng ý ngưng và cuối cùng sẽ giải thể chương trình vũ khí hạt nhân, Jordan ký với Israel một hiệp ước hòa bình chưa từng có trước đây, còn Haiti thì khôi phục quyền lực của vị tổng thống dân cử. Hillary nhìn nhận đây là những “cột mốc lịch sử của Bill” và sau này, khi đến lượt bà ra ứng cử tổng thống, bà đề cập những thành tựu này như là những điều “chúng tôi đã làm”.

Nhưng năm 1994 cũng chứng kiến lần “mất điểm” nhất trong những năm Bill làm việc ở Nhà Trắng – vụ thảm sát ở Rwanda mà hậu quả là trong vài tuần đã tổn thất đến khoảng 800.000 nhân mạng. Mặc dù biết rõ những gì đang xảy ra ở Rwanda, hầu như ông Bill đã không làm gì – cũng giống như những người cùng cương vị với ông ở các quốc gia khác. Trong lúc họ trì hoãn hành động và giả vờ như không biết rằng nạn diệt chủng đang được tiến hành, hàng trăm ngàn đàn ông, đàn bà và trẻ em đã bị giết.

Đúng như dự đoán, Hillary đã không chê trách việc ông Bill không hành động, mà thay vào đó là “sự thất bại của thế giới, kể cả chính quyền của chồng tôi.” Sau này ông Bill công nhận rằng ông và các lãnh tụ khác trên thế giới “đã không hiểu đầy đủ” những gì đang diễn ra ở Rwanda khi ấy. Trên thực tế, các cơ quan tình báo của ông và vô số phóng viên báo in, phát thanh, truyền hình đã miêu tả tình hình hết sức rõ ràng cho cả thế giới biết. Có thể trong nhiều tuần lễ, Hillary đã sao nhãng tin tức, cũng như những lời cầu xin thống thiết của các nhà hoạt động nhân quyền, thậm chí của một vài dân biểu Quốc hội, nên không biết chuyện gì đang diễn ra. Không có bằng chứng nào cho thấy bà đã làm gì quan trọng để giúp đỡ họ.

Chuyện tốt đẹp mà xảy ra thì là nhờ có Bill và Hillary. Còn khi chuyện xấu xảy ra, Hillary thường tìm thấy lỗi lầm ở những người khác.

Khi mùa xuân Washington dần dần nhường chỗ cho một mùa hè ẩm ướt bất thường năm 1994, Stan Greenberg, chuyên gia thăm dò dư luận của Nhà Trắng, tổ chức một nhóm đặc biệt. Ông đưa cho mỗi người trong nhóm một danh sách những cụm từ và yêu cầu họ chọn ra cụm từ nào thích hợp nhất để miêu tả Tổng thống Clinton. “Thiếu tầm” là cụm từ được chọn nhiều nhất để miêu tả ông Bill. Cụm từ được nhiều người chọn thứ hai là “thiếu quyết đoán” và sau đó là “chưa chín chắn”.

Không có cách nào thăm dò được cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào mùa thu năm đó. Greenberg bèn thông báo trực tiếp những tin tức xấu cho Bill và Hillary trong một bản báo cáo nội bộ viết riêng cho hai người. “Hành pháp, những người Dân chủ trong Quốc hội và toàn đảng sẽ phải đối mặt với một thảm họa vào tháng 11 trừ phi chúng ta khẩn trương hành động để thay đổi tâm trạng của đất nước,” ông Greenberg nói. Đối với công chúng, vợ chồng Clinton đã bị Washington qua mặt và áp đảo. Theo Greenberg, hình ảnh một Nhà Trắng hỗn loạn, với sự rò rỉ đều đặn những thông tin bất lợi ra báo chí, những giải pháp vụng về chung quanh hàng loạt vấn đề, từ nạn đồng tính luyến ái trong quân đội, cho tới việc bổ nhiệm một tổng chưởng lý (trong lần bổ nhiệm đầu tiên của ông Bill, bà Zoe Baird đã bị buộc phải rút lui sau khi người ta phát hiện rằng bà đã không nộp thuế cho khoản giúp việc nhà.) đã trì kéo cử tri cả nước. Greenberg viết, “Đây là do tuổi còn trẻ, thiếu kinh nghiệm, lại đến từ một tiểu bang nhỏ và lạc hậu mà lại không làm chủ được những thế lực xấu đang hoạt động ở Washington. Một vài tháng trước đây, vụ Whitewater được giải thích là một vụ mắc kẹt, nhưng nay nó đã là bằng cớ hiển nhiên của tình trạng thiếu tầm. Với cá nhân ông Bill Clinton, việc này có một tác động hủy hoại.” Ông Bill Clinton và Đảng Dân chủ còn bị tổn thương bởi một quan niệm đang lan rộng rằng Hillary đã bị gạt ra khỏi tập thể của họ trong vấn đề cải cách y tế.

Hillary cảm nhận được những cảm xúc tệ hại về nhiệm kỳ tổng thống của ông chồng khi bà đi khắp đất nước để xúc tiến dự luật cải cách y tế của Chính phủ, và giờ đây bà đang cố gắng làm một điều gì đó. Vào tháng 9, bà gọi điện cho Dick Morris, chiến lược gia về chính trị, khi ấy đại diện cho quyền lợi của Cộng hòa nhiều hơn là cho Dân chủ. “Tổng thống cần anh,” bà bảo ông ta.

Kế hoạch của họ là Morris sẽ “cứu” ông Bill một lần nữa; giống như ông ta đã từng làm hồi còn ở Arkansas. Nhưng mặc dù Morris đã cố hàn gắn – chẳng hạn như làm cho Bill Clinton hành động như một tổng thống nhiều hơn là như một ứng cử viên đang nỗ lực một cách tuyệt vọng – kết quả thăm dò cũng không được cải thiện. Bốn ngày trước khi diễn ra cuộc bầu cử giữa kỳ, ông Morris thông báo tin xấu cho Bill qua điện thoại: “Ông sẽ mất cả Thượng viện và Hạ viện.”

“Không phải Hạ viện. Không thể được,” ông Bill đáp.

“Cả Hạ viện, với chênh lệch đáng kể đấy,” Morris nói.

“Không thể được. Không thể được. Không phải Hạ viện,” Clinton trả lời. “Không phải Hạ viện. Anh nhầm rồi. Anh nghĩ thế thật à? Anh nhầm rồi đấy.”

Morris đã đúng. Đó là một thất bại thảm hại cho Đảng Dân chủ; là thắng lợi to lớn nhất của Đảng Cộng hòa trong cuộc đua vào Quốc hội suốt bốn thập niên qua. Cộng hòa nắm quyền kiểm soát Hạ viện với chênh lệch 26 ghế, Dân chủ mất tổng cộng 54 ghế. Cộng hòa cũng nắm quyền kiểm soát Thượng viện với tỷ lệ 52-48. Và Cộng hòa không bị mất ghế trầm trọng nào trong các cuộc tái bầu cử vào Hạ viện, Thượng viện hoặc thống đốc các tiểu bang.

Dân biểu Newt Gingrich thuộc Đảng Cộng hòa bang Georgia trở thành Chủ tịch Hạ viện và là người thực hiện chiến lược “Hợp đồng với nước Mỹ” của Đảng Cộng hòa – một loạt các tờ trình ý kiến mà họ hy vọng sẽ chuyển thành một nghị trình lập pháp. Gần như ngay lập tức, Gingrich được dự báo sẽ là ứng cử viên tổng thống trong cuộc bầu cử năm 1996. (Phu nhân của ông ta, bà Marianne Gingrich, nói rằng bà không hứng thú với công việc của Đệ nhất Phu nhân. “Cứ nhìn Hillary đã thấy đó là một kinh nghiệm đáng sợ,” bà nói với nhà báo Gail Sheehy.).

Vào một buổi sáng sau cuộc bầu cử giữa kỳ, không ai nhìn thấy Hillary đâu cả. Ông Bill đối diện với báo chí nhưng ông từ chối quy trách nhiệm cho bất kỳ ai vì sự thất bại thảm hại. “Tôi nghĩ cử tri muốn nói với tôi hai điều. Cũng có thể là ba điều... hay là ba trăm điều,” ông tổng thống nói một cách ngượng ngập.

Vài ngày sau đó Dick Morris trò chuyện với Hillary. “Ông biết đấy, ông Dick. Tôi thật hết sức bối rối. Tôi không biết phải làm gì nữa. Tôi không còn tin vào sự phán đoán của chính mình,” bà nói.

“Ồ, bà biết rồi đấy, bà đã đi quá xa về cánh tả,” ông Morris trả lời bà.

Vào cuối cuộc chuyện trò, Hillary thú nhận với Morris rằng mình cảm thấy lạc lõng. “Tôi không biết làm sao với tình trạng này. Mọi việc tôi làm có vẻ như không hiệu quả. Không có việc gì đi đúng cả. Tôi thật không biết mình phải làm gì.”

Một buổi tối mùa thu năm 1996, trong một cuộc chơi bài giải trí trên chiếc máy bay Air Force One, Tổng thống Bill Clinton bị Leon Panetta, chánh văn phòng của ông, hỏi rằng tại sao ông lại phải chịu đựng Dick Morris trong từng ấy năm trời. Ngài tổng thống, lúc đó đang nghỉ ngơi thư giãn sau một ngày mệt nhoài trên đường đi vận động tranh cử, cảm thấy “giật mình” bởi câu hỏi đó. Ông dừng một phút, nghĩ ngợi rồi bảo Panetta rằng trong chính trị, “bạn cần phải nghe từ phía đen tối, và Morris đại diện cho điều đó.” Nói cách khác, như sau này Panetta giải thích, “để chiến thắng, họ cần có một người nào đó như Morris dẫn dắt họ để họ hiểu được những Gingrich trên thế giới này.” Và Morris là một phần của một kế hoạch mang tính chiến lược rộng lớn hơn, mà theo ông Bill, Hillary và ông đã nghĩ ra hơn hai thập niên về trước – “dự án hai mươi năm” của họ. Panetta nói tiếp, dự án ấy “đã bắt đầu ở Arkansas với mục đích thiết lập một sự thay đổi dài hạn cái nơi mà Đảng Dân chủ hướng tới”, và “bao hàm cả việc nắm giữ quyền tổng thống.” Chiến thắng là cứu cánh còn những chính sách thu hút phiếu bầu chỉ là phương tiện.

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.