Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9
“Chào Mừng Đến Với Thủ Đô Washington”

❊ ❊ ❊

ĐẾN LỄ ĐĂNG QUANG ngày 20 tháng 1 năm 1993, “dự án hai mươi năm” của Bill Clinton và Hillary đã thành hiện thực đúng như tính toán. Theo lịch sử của dự án, chắc chắn Hillary sẽ giữ một vai trò cốt yếu đằng sau hậu trường trong nhiệm kỳ tổng thống của đức ông chồng. Câu hỏi còn lơ lửng ở thủ đô Washington là, bà sẽ đảm nhiệm vai trò chính thức gì, nếu có? Chỉ năm ngày sau khi tuyên thệ, ông Bill đã chấm dứt mọi lời đồn đoán bằng việc công bố thành lập Đội đặc nhiệm của Tổng thống về Cải tổ hệ thống y tế quốc gia, do Đệ nhất Phu nhân phụ trách.

Cuộc khủng hoảng về chăm sóc sức khỏe mà nước Mỹ đang phải đối mặt là một thực tế: 37 triệu người Mỹ không có bảo hiểm y tế và không có khả năng thanh toán phí chữa bệnh tăng nhanh theo hình xoáy ốc. Ngay từ lúc khởi đầu, ai cũng thấy rõ rằng, sẽ không dễ gì tìm ra giải pháp cho cuộc khủng hoảng ấy. Trong bữa ăn trưa một ngày trước khi công bố thành lập Đội đặc nhiệm, Bill, Hillary và Ira Magaziner – người giúp quản lý công tác này, đã thảo luận về những trở ngại có thể có. Ông Magaziner là một nhà tư vấn, một người bạn của gia đình Clinton và có con đường sự nghiệp gần giống như của Hillary: từ hoạt động trong phong trào sinh viên đến làm việc cho các tập đoàn công ty và vẫn luôn ở trong hệ thống. Ông đã từng nghiên cứu sâu về chính sách công, đã phát triển một kế hoạch kinh tế đầy tham vọng cho bang Rhodes Island. Kế hoạch đó đã bị cử tri trong bang dứt khoát bác bỏ – một bài học mà gia đình Clinton không hề để ý tới. Cũng giống như Magaziner đã làm ở bang Rhodes Island, Bill và Hillary, với sự đồng tình của Magaziner, đặt ra hai mục tiêu đầy tham vọng: viết lại những quy luật phức tạp đang điều hành 14 phần trăm nền kinh tế Mỹ và cam kết thời điểm cuối cùng để trình đề nghị ra Quốc hội là trong vòng một trăm ngày đầu tiên giữ quyền của tổng thống.

Từ lúc Hillary được bổ nhiệm, dân chúng thủ đô Washington cứ băn khoăn không biết bà có đúng là người thích hợp cho công việc ấy hay không. “Tôi quyết định Hillary sẽ lãnh đạo nỗ lực cải cách y tế bởi vì bà ấy quan tâm và hiểu biết nhiều về vấn đề này,” sau này Bill Clinton kể lại và nói thêm rằng, Hillary vừa có thời gian vừa có tài năng để trở thành một người “mối lái” chân thành cho nhân dân Mỹ. Nhưng vào tháng 6 năm 1993, Hillary thừa nhận mình không phải là một bậc thầy trong lĩnh vực này. “Tôi không phải là một chuyên gia y tế. Tôi không phải là người nghiên cứu lĩnh vực đó,” bà nói với nhà báo Katie Curic. Lúc ấy, bà công nhận rằng, khi làm công việc này bà chỉ có lòng nhiệt thành dấn thân vào tất cả các quyết định khó khăn,” và tầm nhìn của bà chỉ như của một người tiêu dùng, của “người sử dụng hệ thống chăm sóc sức khỏe”.

Cho dù phẩm chất của bà như thế nào đi nữa thì phần lớn dân số Mỹ sống ở nông thôn, bên ngoài các xa lộ vành đai, đã rất quý trọng cái vai trò hào hiệp của bà. Đất nước có vẻ như thoải mái với cái quyết định lịch sử là đưa một Đệ nhất Phu nhân phụ trách một mảng chính sách đầy thách thức. Một cuộc thăm dò ý kiến tiến hành ngay hôm sau ngày quyết định của tổng thống được công bố cho thấy 64 phần trăm những người được hỏi ủng hộ việc bổ nhiệm bà Hillary và chỉ 26 phần trăm không tán thành.

Nhưng đã có rất nhiều lời cảnh báo về tính chất khó khăn trong công tác của bà. Ira Magaziner dự đoán đội đặc nhiệm cần ít nhất bốn năm để thuyết phục Quốc hội cải tổ toàn diện hệ thống y tế. “Tôi cũng nghe nói như vậy. Nhưng chúng tôi phải thử sức. Chúng tôi phải làm cho nó hoạt động,” Bill nói.

Có những người khác nhìn thấy đây là nhiệm vụ bất khả thi, một mục tiêu ngu ngốc. “Bà đã làm gì để ông chồng của bà tức giận bà ghê vậy?” ông Mario Cuomi, khi ấy là thống đốc bang New York, hỏi Hillary trong một chuyến viếng thăm Nhà Trắng.

“Ông hỏi thế nghĩa là sao?”

“Ồ, chắc ông ấy phải điên tiết ghê lắm về một chuyện gì đó nên mới giao cho bà phụ trách một nhiệm vụ bạc bẽo như vậy.”

Bất chấp những lời cảnh báo và những dự đoán rằng đội đặc nhiệm dứt khoát sẽ thất bại, Hillary vẫn lao vào trung tâm sự chú ý của công chúng, quyết làm nên lịch sử. Chỉ vài ngày sau khi đội đặc nhiệm được thành lập, một người bạn cũ của bà từ Arkansas ghé thăm khu ở của gia đình Clinton trong Nhà Trắng để chào mừng. Người bạn ấy nhận ra Hillary trông rất “phấn khởi” và sung sướng với ngôi nhà mới, công việc mới, đến mức luôn nở “nụ cười mãn nguyện.” Bà ấy có vẻ hoàn toàn không bận tâm tới cái nhiệm vụ vừa đặt dưới chân mình.

Bà thuê một đội ngũ nhân viên khoảng hai mươi người, chẳng bao lâu sau một phụ tá đặt biệt danh cho nhóm này là “Hillaryland” (Thế giới Hillary). Bà lập một văn phòng trong cái khu nhiều người thèm muốn của Nhà Trắng, khu Cánh Tây – một việc chưa từng có đệ nhất phu nhân nào làm. Và bà đòi hỏi, chánh văn phòng của bà phải được bổ nhiệm làm trợ lý của tổng thống, cũng là việc xưa nay chưa từng có.

Nhưng không phải tất cả mọi người đều hài lòng. Trong một cuộc thăm dò ý kiến, có 36 phần trăm những người được hỏi cho rằng Hillary đã đảm nhiệm “một vai trò quá lớn”. Tầm bao quát rộng lớn của bà cũng làm cho một số cố vấn thân cận của bà lo ngại. Vernon Jordan, người mà năm 1982 đã từng thuyết phục bà đổi tên, cũng là người đưa ra những lời khuyên được cả bà Hillary và ông Bill coi trọng, đã khuyên bà không nên lập văn phòng trong khu vực Cánh Tây vốn dành cho các cơ quan hoạch định chính sách. Ông Jordan cho rằng, việc đó có tính biểu tượng quá rõ. Thay vì vậy, ông bảo bà nên dọn sang khu vực Cánh Đông là nơi mang tính chất lễ nghi nhiều hơn.

Nhưng Hillary nhìn sự việc theo cách khác. Bà viết rằng, “Những thay đổi về địa điểm văn phòng và nhân viên là điều quan trọng nếu như tôi tham gia làm việc theo lịch trình của Bill, đặc biệt là trong những hoạt động liên quan đến các vấn đề ảnh hưởng tới phụ nữ, trẻ em và gia đình.”

Tuần trăng mật của bà không cần nhiều thời gian để đi tới kết thúc.

“Chào mừng đến với thủ đô Washington,” một “luật sư liên bang” không nói tên nào đó đã kể một cách khôi hài cho phóng viên tờ Washington Times chỉ vài ngày sau khi đội đặc nhiệm được thành lập, trong một bài báo nhan đề “Đội đặc nhiệm của Đệ nhất Phu nhân Phá vỡ luật về Bí mật”. Tờ báo này, thường công khai bày tỏ lập trường bảo thủ trong các bài tường thuật và các bài xã luận, than phiền rằng các phóng viên báo chí đã bị ngăn cản, không cho tham dự buổi họp đầu tiên của đội đặc nhiệm – và như vậy là vi phạm rõ ràng một điều luật năm 1972 bởi vì Hillary không phải là một công chức liên bang và luật này chỉ cấm người ngoài tham dự những cuộc họp của các ủy ban cố vấn nếu như tất cả những thành viên dự họp đều là công chức liên bang. Nhân vật “luật sư liên bang” không nói tên là vị chuyên gia chủ chốt được trích dẫn trong bài báo.

Chưởng lý của Nhà Trắng, Bernie Nussbaum, một người bạn của Hillary từ ngày cả hai còn làm việc chung trong đội ngũ nhân viên của Ủy ban Tư pháp Hạ viện trong vụ luận tội cựu Tổng thống R. Nixon, lập tức chống chế rằng điều luật đó không có ý định bao hàm trường hợp Đệ nhất Phu nhân. Nhưng có ba nhóm hoạt động tư nhân, hai nhóm trong đó liên quan tới lĩnh vực y tế và một nhóm hướng tới những chính sách bảo thủ, đã phát đơn kiện, đòi quyền tiếp cận những cuộc thảo luận và những hồ sơ ghi chép của đội đặc nhiệm. Nhiều năm về sau, Hillary miêu tả vụ kiện đó là “một hành động chính trị khéo léo nhằm làm gián đoạn công việc của chúng tôi.” Thật vậy, báo chí dòng chính thống bắt đầu đề cập tới đội đặc nhiệm như một cơ quan bí mật hay là một cơ quan thường giấu giếm, một hành động chiến lược mà vài tháng sau đó được một trong các kiến trúc sư bảo thủ đã dựng nên vụ kiện nhắc lại với niềm tự hào. Vince Foster được ủy quyền xử lý vụ kiện này, giờ là phó chưởng lý Nhà Trắng, gánh thêm vào một khối lượng công việc đã hết sức nặng nề. Vụ kiện tụng đã không được giải quyết cho đến tận mùa hè năm 1994, sau khi đội đặc nhiệm đã hoàn thành công tác của mình. Đến khi đó, thắng lợi một phần mà tòa phúc thẩm ban cho chính quyền của ông Clinton đã có vị chua.

Trong sự nhận thức muộn màng sau này, Hillary rút ra kết luận rằng bà đã đi “quá nhanh” trong vấn đề y tế. Bà cũng thừa nhận mình đã bỏ sót một “lá cờ cấm khổng lồ” trên đồi Capitol, chỉ rõ rằng Quốc hội muốn làm chậm quá trình cải tổ. Trong một nỗ lực làm cho sáng kiến về cải cách y tế có được bước nhảy vọt ban đầu, Hillary đã thử một mánh nhỏ ở Quốc hội, cố gắng đưa nó vào luật điều hòa ngân sách. Nhưng chủ tịch Ủy ban phân bổ ngân sách Thượng viện, nghị sĩ Robert C. Byrd, là một người kiên trì tuân thủ luật lệ. Ông không muốn các dự luật về ngân sách của mình vướng víu vào những thứ không liên quan, vì thế đưa vấn đề y tế vào diện xét duyệt nhanh đòi hỏi phải có một sự đặc cách. Cuối cùng ông Byrd quyết định rằng, bất cứ cuộc thảo luận nào về vấn đề y tế cũng sẽ không thể diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn ngủi dành cho việc xem xét phân bổ ngân sách – là hai mươi tiếng đồng hồ – và ông từ chối ban hành một sự đặc cách. Đối với một số người, nỗ lực của Hillary muốn tuồn dự luật vào Quốc hội bằng cách luồn lách là cách làm sai lầm. Chính trị ở thủ đô Washington, theo một người trong cuộc lâu năm, là phải biết thận trọng, phân tích và thỏa hiệp. “Bạn phải có khả năng ngồi yên và nhìn tất cả các tay chơi để xem trong suốt hành trình chỗ nào bạn có thể đột phá,” Leon Panetta – cựu dân biểu Quốc hội, sau này trở thành giám đốc ngân sách đầu tiên của Tổng thống Bill Clinton và chánh văn phòng thứ hai của Nhà Trắng, nhận xét.

“Một phần của tình trạng này là do họ đến đây từ Arkansas; ở nơi mà họ kiểm soát được rất nhiều thứ,” Panetta nói tiếp. “Trong một bang nhỏ ở miền nam như Arkansas, bạn không chỉ biết các tay chơi – bạn có thể kiểm soát các tay chơi. Nhưng ở Washington, có quá nhiều trung tâm quyền lực và bạn không thể nào kiểm soát hết tất cả.” Ở Little Rock, cho đến đầu thập niên 1990 chỉ mới có một tờ nhật báo và vài nhóm chính sách công. Nhưng Washington là quê hương của hàng ngàn tổ chức thông tin địa phương, quốc gia và quốc tế, hàng ngàn tổ chức thương mại, tổ chức giám sát đủ các loại, nhiều tổ chức có những nhu cầu rất khác nhau, những lợi ích xung đột với nhau. Vào cái ngày Bill đăng quang tổng thống, Hillary đã bảo James A. Baker III, một người tin cẩn của gia đình cựu Tổng thống Bush, rằng chính quyền Clinton quyết định sẽ làm việc với Đảng Cộng hòa. Nhưng chìa tay ra “là một chuyện khó học tập đối với vợ chồng Clinton”, đặc biệt là trong chính sách y tế. Sau này Hillary công nhận rằng, lỗi lầm lớn nhất của bà là đã không hiểu được “cung cách mà Washington làm việc. Nhà Trắng làm việc và không có ý thức rõ ràng ngay từ đầu về những gì có thể và những gì không thể”. Đó là một sự thừa nhận chỉ chịu trách nhiệm một phần và chỉ ngón tay về phía người khác. Lỗi lầm của Hillary, như bà nhìn thấy, là ở chỗ bà có nhiều tham vọng hơn, can đảm hơn những người cố trì kéo bà lại.

Ý thỨc ĐƯỢC viỆC CẦN THIẾTphải làm mềm hình ảnh của mình, để chuẩn bị cho lần trả lời phỏng vấn báo chí đầu tiên sau ngày đăng quang, tân Đệ nhất Phu nhân đã chọn một cây bút nổi tiếng chuyên viết về ẩm thực trên tờ New York Times, bà Marian Burros, một người cũng tốt nghiệp trường Đại học Wellesley như bà. Đội ngũ nhân viên của Đệ nhất Phu nhân lập ra những quy tắc căn bản rất nghiêm ngặt: Burros không được phép hỏi Hillary bất kỳ câu hỏi nào về chính trị hoặc về các chi tiết trong công tác của đội đặc nhiệm y tế. Thay vì vậy, cuộc phỏng vấn sẽ giới thiệu Hillary trong vai trò truyền thống của một Đệ nhất Phu nhân, tập trung vào những kế hoạch tổ chức những sự kiện xã hội của Nhà Trắng và những thay đổi mà bà đã bắt đầu triển khai trong thực đơn của nhà bếp Nhà Trắng.

Trong mối quan hệ giao hảo với báo chí, Hillary đặt ra quy tắc đầu tiên: tôn trọng sự riêng tư của Chelsea, giờ đây đã là một thiếu nữ. Chelsea đã theo học trường trung học Sidwell Friends, một ngôi trường tư kín đáo chỉ cách Nhà Trắng vài dặm về phía bắc, không xa Thánh đường Quốc gia. Hillary và Bill thường tham dự những sự kiện tại trường Sidwell, cũng như các buổi biểu diễn múa ba-lê của Chelsea tại một ngôi trường lân cận.

Vài tháng sau đó, Hillary mời một nhà báo truyền hình, bà Katie Couric, phỏng vấn mình, lần này rồi lần khác. Hai người phụ nữ này nói đùa với nhau một cách thoải mái và có vẻ như đã hình thành một mối ràng buộc dễ chịu. Về phần mình, bà Couric nhìn thấy ở Hillary một con người “cực kỳ kỷ luật” và “một người khó mà thừa nhận bất kỳ điểm yếu nào của mình hoặc của đức ông chồng”.

Trong những tháng đầu năm 1993 ấy, có đôi lần Hillary liên hệ với báo chí nhưng chỉ là bề ngoài, có thể nói như vậy, và những cuộc tiếp xúc ấy làm được rất ít trong việc trấn an khối công chúng quan trọng nhất – 535 vị nghị sĩ và dân biểu Quốc hội. Mặc dù đã nhiều lần gặp gỡ Quốc hội vì công việc cải cách y tế, bà vẫn phải dựa nhiều vào các bạn bè thân cận như Nussbaum và Vince Foster, sử dụng họ như những đặc phái viên liên lạc với Đồi Capitol. Trong lúc tiếp tục làm việc với đội đặc nhiệm, bà đã nhiều lần từ chối yêu cầu phỏng vấn của báo chí. Thậm chí bà còn lùi sâu hơn khỏi sự chú ý của công chúng vào tháng 4 năm 1993, sau cái chết của cha bà.

Nhưng nếu như Hillary có một thời gian “nghỉ phép” với báo chí thì ngược lại, báo chí không nghỉ với bà. Và thời gian nghỉ đó không kéo dài lâu thì xảy ra vụ tai tiếng đầu tiên của vợ chồng Clinton – vụ tai tiếng có thực hay chỉ do tưởng tượng.

Một cuộc kiểm toán đã phát hiện vài vấn đề rắc rối về kế toán tại Văn phòng Lữ hành Nhà Trắng. Bộ phận kiểm toán văn phòng lữ hành than phiền với Hillary rằng văn phòng đã không tổ chức đấu thầu cạnh tranh khi thuê máy bay đưa các nhà báo tháp tùng tổng thống đi công cán. Hậu quả là vào ngày 19 tháng 5, đội ngũ nhân viên bảy người của văn phòng bị sa thải. Đã có khoảng sáu cuộc điều tra riêng rẽ tìm hiểu xem việc sa thải đã được xử lý như thế nào. Cuối cùng, người phụ trách văn phòng lữ hành bị buộc tội nhưng được tha bổng và không có ai liên quan tới vụ việc này bị kết tội hình sự. Đổi lại, bốn viên chức hành chính bị khiển trách vì đã đưa ra phán đoán sai; trong đó có cả William Kennedy, nguyên là một cộng sự của hãng luật Rose, đã tham gia văn phòng chưởng lý của Nhà Trắng và là người đã quyết định đưa FBI vào cuộc sau khi những vấn đề kế toán bị lộ ra ánh sáng.

Theo những tài liệu chưa từng công bố trước đây, kể cả một báo cáo nội bộ dài 347 trang gửi đến nhà tư vấn độc lập Kenneth Starr năm 1996, Hillary biện hộ rằng sự dính dáng của bà trong vấn đề này là rất nhỏ bé, “nhiều lắm là chỉ mười lăm phút trò chuyện”. Nhưng bản báo cáo đó cũng phát hiện ra rằng, đối với một số người khác, kể cả Vince Foster, vấn đề đó dường như đủ quan trọng để họ phải rất thận trọng chung quanh cái bản chất chính xác của vai trò mà bà Hillary đảm nhiệm khi vấn đề này bị thổi bùng lên. David Watkins, người lãnh đạo phòng hành chính của Nhà Trắng và người giúp đỡ trong việc sa thải các nhân viên phòng lữ hành, sau này bảo các công tố viên rằng “ông và Foster đồng ý bảo vệ bà Clinton trong các cuộc phỏng vấn của Nhóm Xem xét Nhà Trắng”. Khi được các phụ tá Nhà Trắng đang xem xét vụ việc này thẩm vấn sơ bộ vào ngày 3 tháng 6, Foster từ chối việc xác định bất kỳ ai có liên quan trong vụ sa thải này. Các ghi chú của chính ông về một cuộc đàm luận với Hillary nói rằng bà “muốn biết những gì người ta đã làm về những sai trái có thể có ở văn phòng lữ hành”. Trong cuộc phỏng vấn thứ hai, vào ngày 30 tháng 6, Foster công nhận rằng, Đệ nhất Phu nhân “biểu thị sự quan tâm”.

Giữa hai cuộc phỏng vấn đó, vào ngày 17 tháng 6, báo Wall Street Journal xuất bản một bài xã luận nhan đề “Vince Foster là ai?” Các biên tập viên công khai chống lại Clinton của tờ báo phê phán chính quyền về “sự bất cẩn trong việc tuân thủ luật pháp.”

Những ghi chú của chính Foster rất rời rạc nhưng chúng trình bày rõ ràng khát vọng của ông muốn bảo vệ cái quyết định sa thải các nhân viên, bảo vệ vai trò của Đệ nhất Phu nhân, cho dù hậu quả có như thế nào đi nữa: “Bảo vệ quyết định của ban quản lý, từ đó bảo vệ vai trò của HRC cho dù trong thực tế điều đó có bị hiểu lầm đến thế nào đi chăng nữa.” Sự hiểu lầm đó có vẻ là vấn đề lớn nhất. Trong suốt cuộc trò chuyện lần thứ hai với đội xem xét của Nhà Trắng, Foster và người phỏng vấn ông “trao đổi qua lại các quan điểm rằng HRC bị coi như có dính dáng tới các quyết định và sự kiện mà trong đó bà ấy không có can dự gì.” Sự dính dáng đó, các công tố viên kết luận, “là chứng cứ gây thiệt hại đáng kể cho bất kỳ cuộc điều tra nào đối với bà Clinton.”

Đối với Hillary, vụ văn phòng lữ hành và bản chất đảng phái của nó, “trở thành cuộc hiện hình đầu tiên của một nỗi ám ảnh về điều tra cứ dai dẳng bám theo sang tận thiên niên kỷ mới.” Nhưng nó cũng bộc lộ một nỗi ám ảnh khác nữa: tính chất nhạy cảm quá mức của gia đình Clinton đối với phản ứng thái quá của giới truyền thông. Họ tin chắc rằng báo chí luôn khai thác những cái xấu xa nhất; và niềm tin đó đã dẫn hai vợ chồng này, trong một số trường hợp, đến thái độ cố thủ mà không trưng ra hết tất cả các dữ kiện.

Gia đình Clinton ngại tiết lộ bất kỳ điều gì liên quan tới công việc nội bộ của Nhà Trắng, một phần vì tân Đệ nhất Phu nhân đứng gần trên đỉnh hệ thống thang bậc của nền hành pháp – chuyện này thì công chúng chưa hề biết tới. Thang bậc đó đã được làm rõ từ rất sớm cho người đầu tiên từ bên ngoài tham gia vào đội ngũ của Nhà Trắng là ông David Gergen, một nhà chiến lược chính trị cho các Tổng thống Nixon và Reagan. Trong những giờ làm việc đầu tiên, vào cuối tháng Năm, ông Gergen đã yêu cầu chánh văn phòng Nhà Trắng, Thomas “Mack” McLarty, miêu tả sơ đồ tổ chức của Nhà Trắng.

Trên đỉnh là một hình chữ nhật duy nhất. McLarty giải thích rằng có “ba người trong chiếc hộp đó: Tổng thống, Phó Tổng thống và Đệ nhất Phu nhân. Cả ba người này phê duyệt những quyết định quan trọng. Ông phải tập làm quen với điều đó.”

Hillary cũng đã quen với điều đó; bà không bao giờ phải tranh giành sự quan tâm của chồng về những vấn đề chính sách. Ông Gore chia sẻ với bà nỗi đam mê về chính sách mặc dù các mối quan tâm của ông – công nghệ, môi trường và tính hiệu quả của Chính phủ – là rất khác với bà. Nhưng, một quan chức cao cấp trong bộ máy hành chính của Clinton nhớ lại, “về một số phương diện, hai người này giống nhau” trước công chúng, “đều quá cứng rắn và không muốn bị thách thức.”

Hai người này “không bao giờ có một mối quan hệ tốt” và ganh tị với nhau trong việc tiếp cận ông Bill. Bà Hillary tức giận vì ông Gore có ảnh hưởng quá nhiều đối với chồng bà. Về phần mình, ông Gore thấy bà Hillary “can thiệp quá nhiều” vào việc ban hành quyết định của tổng thống. Mối tương tác không mấy tốt đẹp giữa hai người tỏ ra quá hiển nhiên đối với nhân viên trong Nhà Trắng: “Bạn có thể đến gần họ và cảm nhận được điều đó.” Chẳng bao lâu nữa, ông Gore sẽ là một đối thủ bổ sung: nhà chính trị bang Tennessee này từ lâu đã nhắm tới ghế tổng thống, đã ôm mộng làm tổng thống cũng lâu bằng (nếu không nói là còn lâu hơn) Bill Clinton. Ông ấy có những kế hoạch của riêng mình và chắc chắn rằng các kế hoạch đó không bao gồm việc chờ đợi bà Clinton ra tranh cử.

Hillary không bao giờ trở nên thân thiết với Gore nhưng bà tin rằng Gergen có thể giúp bà hàn gắn mối quan hệ với báo chí. Bà bảo ông: “Ngay từ đầu, họ đã ác cảm với chúng tôi; nhưng chúng tôi cần sửa chữa mối quan hệ. Ông thực sự có thể giúp chúng tôi trong chuyện đó.” Lúc đầu ông giúp thật. Lối tiếp cận của phóng viên báo chí đã bị bít lại khi một cánh cửa được dựng lên giữa phòng báo chí và các văn phòng trong Cánh Tây gần đó. (Gergen nói rằng lúc đầu Hillary và Susan Thomases muốn chuyển khu vực dành cho báo chí ra khỏi Cánh Tây, sang một tòa dinh thự lân cận.) Trong cuốn hồi ký của mình, Gergen kể lại: “Trong cuộc trò chuyện đầu tiên của chúng tôi, tôi yêu cầu Hillary cho tháo dỡ cánh cửa ấy đi và bà ấy đồng ý ngay lập tức. Thậm chí bà ấy còn ngạc nhiên tự hỏi tại sao việc đó đã không được thực hiện sớm hơn nữa.”

Từ lâu, Hillary đã là một chiến sĩ dày dạn trong các cuộc chiến chính trị và thường chiến thắng, ít ra là trong cái ao nhỏ là bang Arkansas. Và sự dâng hiến trước sau như một cho đức ông chồng và cái dự án hai mươi năm của họ vẫn tiếp tục diễn ra một cách chắc chắn, phần lớn vì bà và ông Bill có khả năng chống đỡ các cuộc tấn công của một số đối thủ ở Arkansas và giành được kết quả tốt. Bà cảm thấy rằng, chừng nào bà còn làm được đôi điều gì đó tốt đẹp thì bà có thể bỏ qua những lời phê phán. Cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi cái mục tiêu tham vọng nhất của Hillary – sự khăng khăng của bà rằng dự luật về cải cách y tế phải được đưa ra Quốc hội xem xét trong vòng một trăm ngày – đã biến thành cái mục tiêu phi thực tế nhất, bị bác bỏ bởi nghị sĩ Byrd, một người cùng Đảng Dân chủ. Có lẽ điều đó xảy ra vì bà đã không còn suy nghĩ như một luật sư cẩn trọng; giờ đây bà là thân chủ, và trong chuyện này bà đúng là một thân chủ với yêu cầu cao. (Trong một số tài liệu của văn phòng lữ hành, các phụ tá của Nhà Trắng đề cập tới Hillary như là “TC”, viết tắt của chữ “The Client”. Đồng nghiệp cũ của bà, ông Webb Hubbell, miêu tả bà là “một khách hàng thực sự có yêu cầu rất cao”.)

Người đàn ông ở đầu bên kia, tiếp nhận những yêu cầu đó thường là Vince Foster, người đã chiến đấu quyết liệt để đương đầu với môi trường mới và cao cấp này. Ông cũng đang trải qua một sự đảo lộn ngoạn mục về vai trò trong quan hệ với bà Hillary. Ông Vince không còn là người bạn đồng sự gần gũi hoặc người thầy thông minh và nhẫn nại, như quan hệ họ từng có thời cùng làm việc tại hãng luật Rose. Giờ đây Hillary là chủ, còn ông Vince thường là cái bao cát để tập quyền Anh của bà.

Theo Hubbell, “bà Hillary thường cáu gắt với ông Vince về đội đặc nhiệm y tế. Giải quyết chuyện đó đi, Vince! Bà rít lên. Việc đó làm ông tổn thương sâu sắc.” Trước kia có lần Foster bảo Hubbell rằng, “Hillary và những người khác thường thẩm vấn ông về khả năng và lòng trung thành của những luật sư trong Bộ Tư pháp – những người đang xử lý vụ đó.”

Hubbell miêu tả bước thăng trầm mà Foster trải qua là rất tế nhị. Các bạn bè của Foster thì thấy sự thay đổi của ông có vẻ ngoạn mục hơn: ông đã rất tức giận khi phải sắm vai “phụ thuộc” vào Hillary. Nhưng nỗi thống khổ của Foster vừa có tính chất cá nhân vừa có tính nghề nghiệp. Cuốn sổ ghi theo kiểu nhật ký của ông, mà nhiều chi tiết trong đó cho đến nay vẫn chưa tiết lộ cho công chúng biết, có một đoạn ghi chép kể lại sự tổn thương sâu sắc mà ông cảm thấy bởi vì Hillary trở nên lạnh nhạt khi ông chuyển tới Washington. Hubbell nói rằng, cả ông và ông Vince Foster đều yêu Hillary theo kiểu tình yêu thuần khiết, cái mà ông miêu tả là một dạng “tình thân nơi làm việc” thường thấy. Nhưng ở thủ đô Washington, Hillary không có dư thừa tình yêu mến. Mặc dù văn phòng làm việc của ông ở Cánh Tây chỉ cách văn phòng bà có vài bước chân, nhưng theo hồi tưởng của chính Hillary, bà đã không hề nói với ông Foster tiếng nào trong suốt ba mươi mốt ngày cuối cùng của cuộc đời ông. Và cuộc nói chuyện cuối cùng giữa họ với nhau trước khoảng thời gian ba mươi mốt ngày ấy là một thất vọng cho Foster, thậm chí có thể là một vụ tan nát cõi lòng. Vào buổi chiều thứ bảy ngày 14 tháng 6, một cuộc hẹn ăn tối được sắp xếp ở Nhà Trắng, khi Hubbell, Foster và Hillary nắm tay nhau trong dịp tổng thống công bố việc chọn ông Ruth Bader Ginsburg kế nghiệp thẩm phán Byron White ở Tối cao Pháp viện.

“Các ông ơi, giờ chúng mình đi đâu nhỉ?” Hillary hỏi và lập tức tự trả lời câu hỏi của chính mình. “Đi ăn nhà hàng Ý thôi,” – gợi nhắc những bữa trưa họ thường ăn với nhau trong nhà hàng ưa thích ở Little Rock. Hubbell đề nghị trước tiên họ nên ghé thăm nhà mình để uống chút gì trước khi đi ăn; gia đình ông vừa mới chuyển đến một ngôi nhà oai nghiêm trong khu Cleveland Park xanh tươi cây cối ở Washington. Hillary đồng ý, và hai người đàn ông to béo ôm chầm lấy bà mừng rỡ.

Cho đến lúc mặt trời lặn thì Hubbell đã sẵn sàng: ông trữ cả một thùng Diet Coke – loại thức uống mà Hillary ưa thích. Nhưng rồi Đệ nhất Phu nhân gọi điện bảo ông rằng tờ Washington Post đang chuẩn bị đăng một bài báo về người cha ruột của ông Bill và chuyện ông Bill có một người anh trai cùng cha khác mẹ “vừa mới xuất hiện”. Hillary biết bài báo sẽ phơi bày chuyện ông Bill Blythe, cha ruột của Bill Clinton, đã từng kết hôn ít nhất hai lần trước khi ông ấy gặp bà Virginia, mẹ của Bill Clinton. Nhiều năm sau Hillary viết lại, sự kiện này là “một điều mà không ai trong gia đình biết rõ”.

Điều đó không đúng. Trong thực tế, những tháng đầu năm 1992, một trong số các thám tử tư của ban vận động tranh cử của Bill Clinton đã lặng lẽ xây dựng lại gia phả của ông Bill và trực tiếp thông tin cho ông về lịch sử rối rắm của người cha ruột của ông cũng như sự tồn tại của một người anh cùng cha khác mẹ. Hubbell là người kế thừa các tài liệu về cây gia hệ của gia đình Bill. Lúc ấy ông Bill không có mặt ở thủ đô nên Hillary phải xử lý những gì mà bà cho là một nỗi ám ảnh tiềm tàng nữa của báo chí.

Hillary bảo Foster, “Tôi phải tìm Bill. Rồi chúng ta cũng phải tìm mẹ anh ấy nữa.” Thế là cuộc liên hoan đã lên kế hoạch của nhóm ba người, dự định diễn ra tại nhà hàng I Matti sang trọng ở trung tâm Washington, đành phải hoãn lại.

“Ồ, tôi rất tiếc,” Hillary nhớ lại rằng ông Foster đã trả lời như vậy.

“Tôi cũng vậy,” bà đáp lời ông. “Anh biết đấy, tôi đã quá mệt mỏi với những chuyện này”. Đó là lần cuối cùng Hillary Clinton nói chuyện với Vince Foster.

Tối thứ bảy hôm ấy, với sự giúp đỡ của Foster, Hubbell đã lục tung mấy cái hộp dưới tầng hầm nhà mình, vì hai người không xác định được tập tài liệu đó nằm ở đâu. Hubbell gọi điện báo tin xấu cho Hillary. Bà bảo, bà có thể đợi và yêu cầu ông mang tài liệu đến cho bà vào thứ hai. Ông hứa ngày hôm sau sẽ tìm được nó.

Phản ứng của Foster đối với việc Hillary hủy bỏ bữa ăn tối là rất lộ liễu.

“Vince không nói một lời suốt thời gian còn lại của buổi tối hôm ấy,” ông ấy mặt sưng mày sỉa và kéo ghế ra xa khỏi cái bàn, Hubbell nhớ lại như vậy. Vợ của Hubbell thì nói Vince cư xử như “một đứa con nít được cha mẹ hứa dẫn đi chơi nhưng rồi cha mẹ bội ước khi công việc đòi hỏi họ phải đi ra ngoài”.

Ngày hôm sau, Foster giãi bày tâm sự. Ông nói với Hubbell rằng, lý do khiến ông và Đệ nhất Phu nhân gần đây ít khi trò chuyện là do “bà ấy bận quá”. Khi họ trò chuyện, cũng không có gì giống với những ngày xưa thân ái ở Little Rock nữa, Foster nói. Tại Nhà Trắng, Hillary chỉ có thời gian thét la những mệnh lệnh cho người từng dẫn dắt mình, “Xử lý việc đó đi, Vince!”.

Thế mà cả điều đó cũng chấm hết. Hillary nhớ lại một cách đau khổ về những ngày cuối cùng lặng im của họ, chủ yếu không chỉ vì bà không có khả năng gặp ông ấy mà cả ông ấy cũng không tìm được thời gian để đến gặp bà. Dù rằng văn phòng của họ nằm cạnh nhau trong khu Cánh Tây, “Vince bận lắm,” bà nhớ lại như vậy.

NỖi thẤt vỌng cỦa Vince Fostercàng trầm trọng trong vài tuần lễ cuối cùng của cuộc đời ông. Sau khi Quốc hội phê chuẩn một cuộc điều tra sâu thêm về vụ sa thải nhân viên của văn phòng lữ hành, Foster đã đi tìm lời khuyên từ một vài luật sư tư nhân. Ông viết nguệch ngoạc một mẩu ghi chú hết sức chua chát, rồi xé bỏ, nhưng sau này cảnh sát đã tìm thấy nó vương vãi dưới đáy chiếc cặp da của ông. Trong mẩu ghi chú này, ông tự lên án mình đã “phạm sai lầm do ngu dốt, thiếu kinh nghiệm và làm việc quá sức”. Ông chửi rủa những biên tập viên của tờ Wall Street Journal vì đã nói dối “không lường hậu quả” trong bài xã luận mà họ đã viết về ông. Và ông đã bảo vệ “sự trong trắng của gia đình Clinton cùng những nhân viên trung thành của họ.” Đoạn văn thường được trích dẫn nhất trong mẩu ghi chú này đã tóm tắt tình thế khó khăn của ông: “Tôi không sinh ra để làm việc dưới ánh sáng đèn pha trong cuộc sống công cộng ở thủ đô Washington. Nơi đây, hủy diệt con người được coi như một môn thể thao,” ông viết.

Ngày 20 tháng 7, khoảng sau sáu giờ chiều, một sĩ quan cảnh sát tuần tra công viên của Mỹ phát hiện thi thể của Foster trong công viên Fort Marcy, một công viên liên bang ở bang Virginia. Ông vẫn nắm trong tay khẩu súng Colt của cha ông, và trong tay kia là phần còn lại của băng đạn. Khám nghiệm tử thi xác định rằng ông đã bắn một phát duy nhất vào miệng. Trong một ghi chú viết tay để lại, Foster gọi vấn đề thuế má trong vụ Whitewater là “một hộp dòi bọ không nên mở nắp ra”. Cái chết của Foster được các công tố viên tiến hành điều tra theo hai dịp riêng rẽ và lần nào họ cũng đi tới kết luận rằng ông đã tự tử. Hillary nói, các báo cáo chính thức lẽ ra nên chấm dứt nỗ lực của “cái nghề mọn của bọn dựng chuyện và bọn thám tử lúc nào cũng muốn chứng minh rằng Vince bị ám sát để che giấu những gì ông ấy biết về vụ Whitewater.” Và thật vậy, báo cáo đầu tiên, do nhà tư vấn độc lập Robert Fiske thực hiện, đã không tìm thấy chứng cớ nào cho thấy Foster bị ám sát hoặc vấn đề cuộc điều tra Whitewater là một yếu tố gây nên sự trầm cảm của ông. Nhưng Fiske đưa ra sự cả quyết đó mà không tận dụng tài liệu, đặc biệt là những tài liệu bị Nhà Trắng giữ lại, cho thấy rằng trong những tuần lễ cuối cùng, Foster đang làm việc về vấn đề thuế liên quan tới vụ Whitewater. Tâm điểm của Fisker là nhanh chóng giải quyết vấn đề Foster đã chết như thế nào chứ không phải vấn đề tại sao ông ấy chết. “Có một mối quan tâm trong công chúng đòi chúng ta phải trả lời càng nhanh càng tốt câu hỏi ban đầu là đây là một vụ giết người hay một vụ tự tử,” ông Fiske nói trong một cuộc phỏng vấn. Và không có những tài liệu này, ông không có cách nào biết được ông Foster đã dính líu sâu đến mức nào với dự án Whitewater, mối dây liên kết hai bên đã có gốc rễ từ việc kết thúc phi vụ ở Little Rock hồi tháng 12 năm 1992, khi Foster sắm vai “người đưa tin” quan trọng cho vợ chồng Hillary và Bill.

Những tài liệu Whitewater của Foster bị giữ lại đã bị người kế tục của Fiske là Kenneth Starr nắm lấy – các công tố viên của Starr đã tiến hành một cuộc điều tra lâu dài hơn, mệt mỏi hơn rất nhiều. Trong báo cáo của mình, Starr liệt kê nhiều sức ép lên cuộc sống của Vince Foster, lưu ý việc ông ấy làm việc cho “thân chủ”, việc được cử vào đội đặc nhiệm y tế, vụ sa thải các nhân viên phòng lữ hành, và những vấn đề thuế má liên quan tới Whitewater đều là những tác nhân có thể đóng góp vào sự trầm cảm đã dẫn ông tới chỗ tự kết liễu đời mình.

Giờ đây Starr nói rằng, đáng ra bản báo cáo của ông về cái chết của Foster có thể mang tính phê phán mạnh mẽ hơn đối với những vấn đề có liên quan tới Hillary mà Foster đã phải mang trong lòng trước khi chết. “Tôi có thể đã hạ gục bà ấy,” Starr nói. Nhưng bởi vì sự liên can của Foster vào các vấn đề Madison và Whitewater vẫn đang còn trong giai đoạn điều tra nênbản báo cáo Starr năm 1997 nói rằng, đó “không phải là một diễn đàn thích hợp” để nói rõ về sự can dự của Foster vào những sự kiện này.

CuỐi cùng, không thể nào nói chắc được tại sao Foster quyết định kết liễu đời mình. Một chuyên gia về tự tử do Starr thuê, bác sĩ Alan Berman, kết luận rằng Foster bận tâm với “những chủ đề về tội lỗi, tức giận và nhu cầu phải bảo vệ người khác của ông ấy”. Một manh mối nữa có thể tìm thấy trong cuộc đàm luận mà trước đó chưa bao giờ công bố.

Trong những tuần lễ cuối cùng của đời mình, Foster đã đưa ra lời khuyên nhủ cho Loretta Lynch, một thành viên trong Đội bảo vệ thuộc ban vận động bầu cử của Clinton. Lynch đã đến thủ đô Washington để thảo luận về một công việc làm có thể dành cho cô trong văn phòng chưởng lý của Nhà Trắng, nơi Vince Foster làm phó phòng.

Sau khi chuyện trò tán gẫu với một luật sư Nhà Trắng khác, Lynch có mặt trong căn phòng nhỏ của Foster tại khu Cánh Tây. Cuộc đàm luận giữa hai người chuyển sang đề tài đạo đức và đạo lý. Foster và Lynch đã từng làm việc cùng nhau trong những vấn đề có liên quan tới vụ Madison và Whitewater năm 1992 và Lynch biết rằng Foster “luôn cố gắng làm những việc hợp đạo lý”. Khi nổi lên chủ đề nhận một công việc trong Nhà Trắng, Foster thúc giục Lynch hãy từ chối. Ông cảnh báo cô sẽ đánh mất phương hướng đạo đức của mình, “Đừng đến Washington. Cô sẽ đánh mất linh hồn,” ông nói.

Foster được an táng ở quê nhà, thị trấn Hope thuộc bang Arkansas. Sau lễ tang, tại nhà bà mẹ của mình ở Little Rock, Hillary thổ lộ với Webb Hubbell, “Lẽ ra chúng tôi không nên yêu cầu anh ấy tới Washington.”

Có lẽ Foster đã tìm thấy niềm hy vọng trong một câu thơ mà ông đánh dấu trước khi tự sát. Câu thơ đó là, “Từ tất cả những gì chết đi, một cuộc sống mới trào dâng vĩnh viễn”. Dòng thơ này, trích trong một cuốn sách danh ngôn, viên chưởng lý độc lập tìm được vài năm sau khi Foster mất, có kèm theo lời bình “Một tư tưởng đẹp” bằng chữ viết tay của Foster ngay bên cạnh.

Vào mùa hè năm 1993, lối sống của Washington, đôi khi được gọi là bệnh xốt Potomac, vẫn không làm cho Hillary và Bill nản chí. Theo một trong những người bạn thân nhất của họ, Taylor Branch, họ vẫn lên kế hoạch cho việc ông Bill đi hai nhiệm kỳ trong Nhà Trắng, và sau đó đến lượt bà Hillary cũng đi thêm hai nhiệm kỳ.

Branch đã miêu tả kế hoạch này cho hai người bạn tại Washington, ông John Henry và bà Ann Crittenden, trong một bữa ăn tối có thịt nướng tại một trại chăn nuôi ở Aspen, bang Colorado, vào mùa hè năm ấy. Tổng thống thường xuyên trò chuyện với Branch – một sử gia, một tác gia được kính nể – về vị trí của ông trong lịch sử; và chẳng bao lâu sau khi lên làm tổng thống, Bill đã yêu cầu ông Branch bắt đầu ghi lại “những phiên nhật ký” như là một phần của dự án lịch sử bằng tiếng nói.

Branch vừa đến Colorado từ một trong các phiên ghi âm như vậy, một cuộc trò chuyện đêm khuya với Bill ở Nhà Trắng, nơi hai người đàn ông đứng trên ban-công phía hiên sau, nhìn ra Đài tưởng niệm Washington, và trò chuyện. Nay thì trong vùng núi mát mẻ của bang Colorado, Branch kể lại cho các bạn mình nghe kế hoạch làm tổng thống của vợ chồng Clinton. Cái mục tiêu dũng cảm mười sáu năm trong Nhà Trắng đã làm Henry phải nín thở. “Tôi bị sốc,” ông nói.

Khi mùa hè chuyỂn dẦnsang thu, Hillary tiếp tục lối làm việc của bà là không dành cuộc phỏng vấn quan trọng nào cho cánh nhà báo. Sau này bà nhận ra rằng, lẽ ra bà nên áp dụng “chiến lược kết thân không chính thức” với báo chí, vẫn tiếp tục thông tin cho phóng viên nhưng làm ra vẻ như là mình không cần báo chí quảng bá một việc nào đó. Hillary ra điều trần trước Quốc hội về chương trình y tế năm lần trong ba ngày vào tháng 9 năm 1993, một cuộc trình diễn ngoạn mục và “thắng lợi”, được báo chí gần như ca ngợi một cách nhất quán.

“Trong những tháng qua, tôi đã làm việc để giáo dục chính mình về những vấn đề chăm sóc sức khỏe mà đất nước chúng ta đang phải đương đầu, mà người Mỹ chúng ta đang phải đối diện; tôi đã học được rất nhiều điều,” bà nói như vậy với Ủy ban Tài chính và Ngân sách Hạ viện trong ngày điều trần đầu tiên. “Lý do chính thức mà tôi có mặt ở đây ngày hôm nay là vì tôi đã nhận trách nhiệm ấy. Nhưng điều quan trọng hơn đối với tôi là, tôi có mặt ở đây với tư cách một người mẹ, một người vợ, một người con gái, một người chị, một phụ nữ. Tôi đứng đây với tư cách một công dân Hoa Kỳ quan tâm lo lắng cho sức khỏe của gia đình mình, và cho sức khỏe của dân tộc mình.”

Cách tiếp cận của vợ chồng Clinton với vấn đề y tế – một quan niệm gọi là cạnh tranh có quản lý – phù hợp hoàn toàn với thông điệp của Đảng Dân chủ mới, hoặc là Con đường thứ Ba mà Bill đã trình bày trong chiến dịch tranh cử. (Một vài nhà bình luận đưa ra một cái nhãn ít lý tưởng hơn bằng cách gọi triết lý của Bill là “phương pháp tam giác đồng dạng.”) Kế hoạch của họ là kêu gọi Chính phủ thúc đẩy những người sử dụng lao động cung cấp bảo hiểm y tế cho tất cả mọi người và sử dụng sự cạnh tranh giữa những nhà cung cấp dịch vụ y tế để hạ mức phí bảo hiểm. Về mặt ý thức hệ, nó phù hợp với điểm trung dung giữa hai dự luật chính được đề nghị lên Quốc hội. Nó không thiên tả như đề nghị chỉ một người đóng phí được cánh tự do hậu thuẫn dựa theo mô hình hệ thống y tế của Canada. Nhưng nó nhiều tham vọng hơn và dựa vào Chính phủ nhiều hơn so với một giải pháp lưỡng đảng được các doanh nghiệp lớn hậu thuẫn.

Nếu như ông Bill và bà Hillary cảm thấy thoải mái với chủ nghĩa thực dụng thì họ đã đi theo những con đường hết sức khác nhau để đến được đó. Ông Bill đã tham gia tích cực vào chính trị trước khi trở thành một con mọt về chính sách. Bà thì trước tiên bị hút vào chính sách xã hội, đến Washington như một người tương đối non nớt về chính trị và có một chuyên môn không nhiều lắm về chăm sóc y tế. Dù vậy, bà đã nắm lấy quyền lãnh đạo một nhiệm vụ chính trị mà suy cho cùng sẽ là một cuộc thử thách khó khăn ngay cả đối với những chính trị gia dày dạn nhất.

Và bà đã làm cho các bình luận viên sửng sốt. Bà nói rất nhiệt tình, hầu như không bao giờ đụng đến tập ghi chú, rõ ràng là bà nắm rất vững chủ đề. Đây lại là một Hillary kinh điển: cực kỳ thông minh theo kiểu sách vở – khi đụng tới vấn đề chính sách thì học tập nhanh kỳ lạ, nhưng đôi khi đụng đến thực tế thì lại kém. Những bài báo có nội dung tích cực tường thuật cuộc điều trần đã cho Hillary và các cộng sự của bà một “cảm giác sai lầm về đà tiến và sự ủng hộ,” theo nhận xét của Mickey Kantor, lúc ấy đã là một thành viên trong nội các của Tổng thống Clinton. Kết quả là “bà bị cô lập”, và tiếp tục làm việc với “một nhóm người, tất cả họ đều cùng đi về một hướng,” ông Kantor nhớ lại. Thay vì vươn ra, các phụ tá của Hillary lại bảo bà rằng, “họ cần giữ sự kiểm soát căn bản đối với công việc dự thảo” đạo luật về cải cách hệ thống y tế, dù rằng cái dự luật đang được thảo ra đó cần có “hàng ngàn sự điều chỉnh, sửa chữa và làm cho phù hợp với các tu chính án”. (Dự thảo luật được trình lên Quốc hội đúng một tháng sau thành công của Hillary trong các cuộc điều trần dài tới 1.342 trang). Ngay cả những thành viên lão thành trong guồng máy Chính phủ cũng không được quan tâm một cách nghiêm túc khi họ bày tỏ đôi chút hoài nghi về kế hoạch của bà. Trong khi đó, cuộc điều trần của bà đã tiếp thêm năng lực cho các đối thủ của bà – một nhóm hùng mạnh gồm ngành dịch vụ bảo hiểm, các công ty dược và các tổ chức của giới bác sĩ.

Và cung cách lãnh đạo của Hillary cũng làm cho nhiều người Mỹ cảm thấy khó chịu khi nỗ lực cải cách cứ bị trì hoãn. Khi một nhân viên đại lý bảo hiểm sốt ruột hỏi Hillary rằng kế hoạch của bà, nếu được thông qua, sẽ ảnh hưởng như thế nào đến công việc của một đại lý bảo hiểm. Bà trả lời một cách lạnh lùng: “Ra chợ mà tìm việc khác!”. Phản ứng phũ phàng này khiến người đại lý kia kinh hoàng và nhanh chóng trở thành đầu đề trên các bản tin toàn quốc. Quen với các biểu đồ, các tập hồ sơ, các con số, Hillary mất phương hướng khi phải tiếp xúc với con người – một điều có vẻ như không quan trọng nhưng tuyệt đối cần thiết cho chính sách cải tổ hệ thống y tế. Các dữ liệu thăm dò ý kiến của Nhà Trắng cho thấy công chúng coi cải cách y tế là vấn đề cá nhân và “cóc thèm để ý đến mối quan tâm này của quốc gia,” phụ tá của Nhà Trắng Harold Icles nhớ lại. “Yếu tố cốt tử để tiếp tục công việc này” là “niềm tin ở vợ chồng Clinton”. Và niềm tin đó lại thiếu hụt, một phần do Hillary không có khả năng tỏa ra sự ấm áp về cảm xúc, một phần do những chỉ trích đang nhắm về bà.

Những cuộc tấn công nhắm vào Hillary đều hết sức cá nhân. Một số cuộc tấn công đó có cơ sở về chính trị và chính sách, nhưng những cuộc khác thuộc loại hạ cấp. Lúc đầu Hillary chấp nhận các cuộc tấn công đó như là một phần đương nhiên, nhưng trước giờ chưa từng có những cuộc tấn công kiểu đó, một phần vì cái hiện tượng tương đối mới mẻ là công nghệ truyền tin trên mạng hoạt động hai mươi bốn giờ mỗi ngày đã tạo ra một đấu trường mới cho các hành vi vu khống chính trị, và một phần vì trước đây trong Nhà Trắng chưa bao giờ có người nào như Hillary. “Sức nóng đến từ mọi thứ,” bà nói. Bà cũng dõi theo một số lời phê phán đối với mối “quan hệ đối tác” của bà với Tổng thống Clinton và một số người Mỹ nghĩ rằng nó là một “mối đe dọa”. “Nhưng,” bà giải thích, “tôi chỉ có thể chân thật với chính mình thôi.” Bà nói thêm rằng, “Tốt hơn là chịu đựng để cố gắng làm một điều gì đó quan trọng cho nhân dân.” Một lần nữa, bà chọn cách hoàn thành công việc theo kiểu của bà mà bà tin là cách thức đúng đắn nhất. Sự chịu đựng ngoan cường như vậy có thể là điều rất đáng phục khi phải chống chọi với những cuộc tấn công tàn ác từ bên ngoài, nhưng nó cũng gây ra một sự cứng nhắc và một não trạng chỉ-mình-tôi-biết-đâu-là-điều-tốt-nhất trong nội bộ. Và khi nỗ lực cải cách hệ thống y tế bắt đầu khởi động, sự tham gia của Hillary đã trở thành một bộ phận tai hại.

Nhiều năm sau, Hillary thú nhận trong cuốn tự truyện của mình rằng bà đã “đánh giá thấp phản ứng mà tôi sẽ gặp phải với tư cách một Đệ nhất Phu nhân đảm đương việc hoạch định chính sách.” Bà cũng thừa nhận rằng thất bại một phần được sinh ra từ “những bước đi sai lầm của chính bà” trong việc “cố gắng làm quá nhiều, quá nhanh.” Nhưng nhiều lời giải thích duy lý này cuối cùng cũng chỉ dẫn tới trách nhiệm của người khác: những người đã chống đối bà, và những người không có khả năng theo kịp bà. Trong những năm tháng sẽ đến, hai thế lực này sẽ nhiều lần nữa bị Hillary lên án mỗi khi sự việc không diễn ra theo cách thức của bà.

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.