Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
Mất Mát Nhiều Nhất

❊ ❊ ❊

BUỔI SÁNG NGÀY 14 THÁNG 1 NĂM 1998, trong Phòng Hiệp ước của Nhà Trắng, Hillary bị các công tố viên của văn phòng Keneth Starr buộc phải tuyên thệ lần thứ năm. Starr nhận thấy Hillary “có thái độ lạnh nhạt” và trái ngược một cách “rõ ràng và sinh động” với tính phóng khoáng mà tổng thống biểu lộ. Nhưng mặc cho sự lạnh nhạt này, cuộc thẩm vấn diễn ra khá suôn sẻ và kỳ lạ là không gây đau đớn; điều tốt đẹp nhất là nó chỉ kéo dài khoảng mười phút. Ba vị công tố viên, cả ba đều là nam giới, lịch sự nêu cho bà Hillary vài câu hỏi cuối cùng và qua loa về trường hợp mới nhất mà văn phòng chưởng lý Starr theo đuổi chống lại vợ chồng Clinton. Cuộc điều tra mới nhất liên quan tới những cáo buộc rằng Nhà Trắng của ông Bill Clinton đã thủ đắc một cách bất hợp lý các tài liệu mật của Cục Điều tra Liên bang (FBI), nhiều tài liệu trong số đó là hồ sơ các nhân vật nổi bật của Đảng Cộng hòa. Khi cuộc thẩm vấn kết thúc, Đệ nhất Phu nhân cảm thấy nhẹ nhõm đến mức bà không muốn trả lời những câu hỏi bổ sung về những vụ “không phải là tai tiếng”, như bà miêu tả và bà cũng không phát hiện được vẻ tự mãn khoái chí xuất hiện trên mặt những người của Starr.

Nhưng luật sư của bà, ông David Kendall, nhận ra một điều gì đó lạ lùng, thậm chí khó chịu, trong thái độ của các công tố viên. Thay vì có dáng vẻ tiu nghỉu quen thuộc của các luật sư đang tuyệt vọng nhìn cuộc điều tra rối rắm như một mê cung đang được tháo gỡ dần dần, những công tố viên này có vẻ như hào hứng với một kỳ vọng lớn lao nào đó. “Giống như chú mèo đã nuốt chửng được con chim én nhỏ,” đó là cách Kendall miêu tả thái độ của các công tố viên đối với Hillary sau khi họ ra về. Có gì đó trong thái độ của họ, trong cách họ xúc tiến điều tra. Họ hành động cứ như là họ đang nắm trong tay con bài tẩy bí mật nào đó.

Họ nắm được. Điều mà cả Bill và Hillary đều không biết là chỉ mới hai ngày trước đó, một nhân viên bốn mươi tám tuổi thuộc bộ phận quan hệ công chúng của Bộ Quốc phòng tên là Linda Tripp đã đem đến văn phòng Starr một loạt những tố cáo mới. Những cáo buộc của bà ta là một câu chuyện gây bối rối và mê hoặc về tình dục và những lời dối trá, tất cả được ghi lại trong những cuốn băng được ghi âm một cách bí mật, ám chỉ tổng thống có liên can tới một thực tập sinh ở Nhà Trắng, nêu lên những tố giác về việc khai man sau khi tuyên thệ và hành vi cản trở công lý. Ngay từ đầu Tripp đã tự nguyện trình bày câu chuyện của mình với các luật sư đại diện cho bà Paula Jones trong vụ kiện của bà chống lại tổng thống. Jones nguyên là một nữ nhân viên nhà nước ở tiểu bang Arkansas, năm 1994 đã phát đơn kiện ông Bill Clinton về tội quấy rối tình dục trong một lần hẹn hò tại một khách sạn ở Little Rock vào tháng 5 năm 1991.

Bà Tripp bảo các công tố viên của Starr rằng từ cuối năm 1995, Tổng thống Bill Clinton đã có quan hệ tình dục lúc ẩn lúc hiện với cô Monica Lewinsky, khi ấy là một thực tập sinh hai mươi mốt tuổi tại Nhà Trắng. Tripp cũng nói với các công tố viên rằng, tổng thống đã giúp Lewinsky tìm được một công việc làm trong lĩnh vực doanh nghiệp ở New York. Và bà ta nói tiếp, tổng thống đã khuyến khích Lewinsky nói dối sau khi tuyên thệ về bản chất mối quan hệ của họ trong một bản khai có tuyên thệ được trình cho các luật sư đại diện cho bà Paula Jones.

Đến đây thì việc viết lại bản tuyên bố của ông Robert Fiske bắt đầu phát huy tác dụng theo một cách có thể làm cho tổng thống bị thương tổn nghiêm trọng. Lúc này Starr và nhiều nhân viên của ông ta đã tin chắc rằng Bill và Hillary đang giấu giếm sự thật, và họ đặt mục tiêu phải chứng minh điều đó. Trong cuốn băng ghi âm bí mật của Linda Tripp ghi lại những cuộc trò chuyện giữa bà ta với cô Lewinsky, họ đã tìm thấy chiếc chìa khóa của cánh cửa mà họ thiết tha mong muốn được mở ra.

Chính vào cuối tuần lễ ấy, vào ngày thứ bảy, 17 tháng 1, tổng thống có kế hoạch thẩm vấn với các luật sư vụ Paula Jones. Trong suốt cuộc phỏng vấn này, tất nhiên ông sẽ bị chất vấn (sau khi đã tuyên thệ) về bản chất mối quan hệ của ông với cô Lewinsky.

Cuộc thẩm vấn do các luật sư của Paula Jones thực hiện, diễn ra chỉ vài ngày sau khi văn phòng Starr bắt đầu điều tra vụ Lewinsky, góp phần đáng kể vào việc giương ra một cái bẫy để cài tổng thống vào hành vi khai man sau khi đã tuyên thệ nhằm đạt được các mục tiêu chính trị nào đó. Cái bẫy mà các luật sư của Jones giương ra có ý định gây thiệt hại cho ông Bill về mặt chính trị và có khả năng đẩy ông ra khỏi cương vị tổng thống.

Vụ kiện đó, đến lúc ấy đã được bốn năm, vẫn tiếp tục kéo dài tới cái kết cục đầy rủi ro và rối rắm này bởi vì cả bà Hillary và ông Bill đều không muốn dàn xếp bên ngoài tòa án với Paula Jones ngay cả sau khi Tối cao Pháp viện phán quyết rằng tổng thống Hoa Kỳ không được miễn trừ trách nhiệm trong các vụ kiện dân sự. Các luật sư của Bill Cliton – và bản thân ông nữa – có hướng muốn dàn xếp. Nhưng cuối cùng Hillary đã lấn át quan điểm của họ. Bà nói rằng “công chúng sẽ coi việc dàn xếp là một sự khẳng định”. Bà tuyên bố rằng nếu họ đồng ý trả cho bà Jones dù chỉ một đôla thôi, thì “vụ kiện sẽ không bao giờ kết thúc.” Dường như Hillary muốn ám chỉ rằng bên ngoài kia còn nhiều phụ nữ khác nữa sẽ được khích lệ mà nộp đơn kiện chồng bà. Nhận định này có vẻ sát với sự thực, nhưng về mặt chiến thuật nó đã trở thành một lời khuyên tai họa.

Nhiều năm sau này Hillary nhận ra, “với sự khôn ngoan có được sau khi sự việc đã trôi qua, việc không dàn xếp sớm vụ kiện của Paula Jones là sai lầm chiến thuật lớn thứ hai mà chúng tôi vấp phải trong việc phòng vệ trước những cuộc tấn công và những vụ điều tra. Sai lầm lớn thứ nhất là yêu cầu một chưởng lý điều tra độc lập.”

Vào cuối tuần lễ ấy, sự chây ì của Bill Cliton và Hillary trong vụ kiện Paula Jones và quyết định của ông bổ nhiệm một chưởng lý độc lập để điều tra vụ Whitewater đã hòa vào nhau tạo thành một mối đe dọa không dự đoán được, gây nguy hiểm cho những điều mà cả hai người lo ngại nhất – di sản của ông và tương lai của bà.

* * *

ĐưỢc vũ trang bẰng câu chuyỆnđầy tính phô trương và những cuộn băng ghi âm của Linda Tripp, Kenneth Starr tìm cách xin phép mở rộng vụ điều tra Whitewater sang các cáo buộc của bà Tripp. Starr đã từng điều tra xem có phải bạn bè của vợ chồng Clinton đã trả “tiền mua sự im lặng” cho Webb Hubbell – một cuộc điều tra chẳng đi tới đâu – nhưng trong văn phòng của Starr, người ta nghĩ rằng, chính cái nỗ lực của tổng thống bị tố cáo là nhằm “mua” sự im lặng của Monica Lewinsky thông qua một công việc béo bở ở New York có giá trị tương đương với một hành vi cản trở công lý. Thế là không có trở ngại lớn nào ngăn cản viên chưởng lý độc lập tiến hành một cuộc điều tra mới. Starr đã thực hiện một số cuộc thẩm vấn không có liên quan, tất cả những cuộc dò xét này tiêu tốn rất nhiều thời gian và nguồn lực nhưng không bao giờ dẫn tới được bất kỳ bản án nào chống lại Bill hoặc Hillary. Dù sao đi nữa, theo tinh thần văn bản về quy chế hoạt động của chưởng lý độc lập, ông có đủ thẩm quyền để theo đuổi gần như bất kỳ manh mối nào. Do đó, khi vấn đề Lewinsky bắt đầu vào tháng 1 năm 1998, không ai ngạc nhiên khi thấy rằng Tổng chưởng lý Janet Reno đã chấp nhận yêu cầu của Starr được điều tra vụ này. Bà đã chấp nhận yêu cầu này vào thứ tư, ngày 14 tháng 1, đúng cái ngày mà Hillary phải ngồi tại phòng Hiệp ước trong phiên thẩm vấn cuối cùng của bà với các công tố viên của Kenneth Starr.

Vào lúc 1 giờ chiều ngày thứ sáu, 16 tháng 1, Monica Lewinsky đến trung tâm thương mại Pentagon City ở vùng ngoại ô bang Virgina để ăn trưa với người bạn của cô là Linda Tripp. Lewinsky không hề hay biết về sự phản bội của Tripp. Cũng chính buổi chiều hôm đó, tổng thống làm việc rất muộn với đội ngũ tư vấn pháp lý của mình, tập dượt những câu trả lời mà ông chuẩn bị cho cuộc thẩm vấn dài sáu tiếng đồng hồ trong vụ Paula Jones sẽ diễn ra vào ngày hôm sau. Trong danh sách nhân chứng do các luật sư của nguyên đơn cung cấp có tên của bảy người phụ nữ. Một trong bảy người đó, cô Monica Lewinsky, đã ký một bản khai ngày 7 tháng 1, trong đó cô cam kết với lời thề rằng cô không hề có “quan hệ tình dục” với tổng thống. Ông Bill biết rằng ông sẽ bị hỏi hàng loạt câu hỏi, không chỉ về Paula Jones mà còn về bảy người phụ nữ trong danh sách nhân chứng, kể cả cô Lewinsky. Và cũng như Monica đã làm với bản khai của mình, tổng thống đã chuẩn bị để nói dối.

Thứ Bảy ngày 17 tháng 1 năm1998 là một ngày u ám trái mùa ở thủ đô. Trước lúc ông Bill rời Nhà Trắng để đi đến buổi thẩm vấn sáng hôm ấy, Hillary trao cho ông một cái ôm nồng thắm và chúc ông may mắn. Sau đó tổng thống đi một chặng xe ngắn, chỉ hai phút, từ Nhà Trắng đến văn phòng luật Skadden Arps của luật sư Robert Bennett – một luật sư cộc cằn, thô lỗ và có cách tranh biện gây ấn tượng mạnh.

Sau khi tuyên thệ, tổng thống được các luật sư của bà Jones trao cho một tập hồ sơ pháp lý, trong đó có một định nghĩa đã được tòa án phê chuẩn về “quan hệ tình dục”. Định nghĩa này xác định – rõ ràng một cách đau đớn – “tiếp xúc với bộ phận sinh dục, hậu môn, ngực, đùi non, hoặc mông của bất kỳ người nào với ý định kích thích hoặc thỏa mãn dục vọng của bất kỳ người nào.”

Mặc dù cuộc thẩm vấn dự định chỉ liên quan tới sự kiện bị tố cáo ở khách sạn Excelsior vào tháng 5 năm 1991 giữa ông Clinton, khi ấy là thống đốc, và bà Paula Jones, nhưng luật sư của bà Jones, ông James Fisher, đã bắt đầu bằng hàng loạt câu hỏi về một người phụ nữ có tên là Kathleen Willey, nguyên là tình nguyện viên ở Nhà Trắng, và một cuộc qua lại mà cô ta tuyên bố là đã có với ngài tổng thống chỉ cách Phòng Bầu dục vài bước chân. Rồi Fisher chuyển sang Monica Lewinsky.

“Ngài đã có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân với cô Monica Lewinsky hay không?” Fisher hỏi tổng thống.

“Không”, Bill đáp.

“Nếu như cô ấy nói với ai đó rằng cô ấy đã quan hệ tình dục với ngài, bắt đầu từ tháng 11 năm 1995, liệu đó có phải là lời nói dối không?”

“Chắc chắn đó không phải là sự thật. Đó không thể là sự thật,” tổng thống đáp.

James Fisher căn vặn tổng thống gần chín mươi phút về Monica Lewinsky, hỏi đi hỏi lại nhiều lần có phải ông đã có “quan hệ tình dục” với cô hay không – quan hệ như được định nghĩa trong tài liệu pháp lý. Mỗi lần Bill đều trả lời “không”. Gần cuối cuộc thẩm vấn về Lewinsky, tổng thống hỏi Fisher có phải ông ta có điều gì “đặc biệt hơn” khiến ông ta phải hỏi tổng thống về quan hệ với cô thực tập sinh cũ hay không.

Fisher từ chối giải thích. Ông ta nói, “Thưa ngài, tôi nghĩ chuyện này sắp được sáng tỏ, và rồi ngài sẽ hiểu thôi”.

Sau này Bob Benneth, luật sư của Clinton, nhắc nhở các luật sư của Jones rằng mười ngày trước Monica Lewinsky đã ký một bản khai sau khi tuyên thệ rằng cô ta không hề có quan hệ tình dục với tổng thống. Các luật sư của Jones không trả lời sự khẳng định của Benneth nhưng họ biết, nhờ các băng ghi âm của Linda Tripp, rằng Lewinsky đã nói dối trong bản khai có tuyên thệ của cô ta.

Vào cuối buổi chiều hôm ấy, sau cuộc thẩm vấn dài sáu tiếng đồng hồ, ông Bill rời văn phòng luật sư của Benneth và trở về Nhà Trắng. Hillary nhận thấy ông có vẻ mệt mỏi và tức giận. Khi bà hỏi thăm ông vụ thẩm vấn diễn ra như thế nào, Bill trả lời dấm dẳng rằng toàn bộ sự việc là “một chuyện tiếu lâm” và cho biết ông căm ghét sâu sắc vì phải chịu đựng một cực hình như vậy. Tối hôm đó vợ chồng Clinton dự định ra ngoài ăn tối với Eskrine Bowles, chánh văn phòng của ông Bill, và vợ của anh ta, nhưng Bill nói rằng ông không cảm thấy hứng thú. Thay vì vậy, tổng thống ở nhà, trò chuyện với vài người bạn qua điện thoại và đi ngủ vào lúc gần sáng. Ông đã cảm nhận được rằng sự nghiệp tổng thống và cả cuộc hôn nhân của mình đều đang gặp rắc rối.

Ngay trưỚc bình minhngày thứ tư 21 tháng 1 năm 1998, Hillary bị Bill Clinton đánh thức trong phòng ngủ của họ tại tư dinh trong Nhà Trắng. Ông tổng thống ngồi trên mép giường và nói với bà, “Em sẽ không tin chuyện này nhưng…”

“Anh đang nói chuyện gì thế?” bà hỏi bằng giọng ngái ngủ.

“Hôm nay trên báo có chuyện mà em nên biết trước.”

Ông Bill giải thích rằng tờ Washington Post sáng hôm ấy có đăng một bài miêu tả cuộc tình vụng trộm của ông với cô gái trước đây thực tập ở Nhà Trắng, và rằng Kenneth Starr giờ đây đang điều tra xem có phải ông đã nói dối sau khi tuyên thệ hoặc yêu cầu cô gái thực tập kia nói dối về chuyện đó trong khi thẩm vấn về vụ Paula Jones hay không. Bài báo cũng tường thuật rằng các công tố viên của Starr đã tích cực điều tra xem có phải tổng thống và bạn của ông là Vernon Jordan đã ngăn cản công lý khi họ giúp Lewinsky tìm việc làm ở New York hay không.

Hillary ngồi đó, chết sững; bà lắng nghe mà không nói lời nào.

Về lời cáo buộc rằng mình đã dan díu vụng trộm với một cô gái trẻ đáng tuổi con gái mình, ông Bill giải thích cho vợ như sau: Ông đã trở thành bạn bè với Monica khoảng hai năm trước, trong lúc cô ta còn làm thực tập sinh dưới quyền chánh văn phòng Leon Panetta ở khu Cánh Tây trong thời gian Chính phủ tạm thời ngưng hoạt động vào tháng 11 năm 1995. Bill nói rằng ông có giúp đỡ để cô gái tìm một công việc làm. Cô ấy chắc đã nhầm lẫn tình bạn của ông với điều gì đó nghiêm túc hơn, ông Bill suy luận.

Không ai biết được, liệu Hillary có xem câu chuyện của ông Bill, dù chỉ trong khoảnh khắc, chỉ là một gói những lời dối trá hay không. Vài tháng sau đó, hai người bạn thân của Hillary nói rằng, họ tin bà nghi ngờ ngay lập tức rằng có thể ông Bill đã có chuyện vụng trộm với cô gái trẻ kia; bởi vì, như một người tiết lộ, “có rất nhiều những chuyện vụng trộm như vậy. Vì thế câu chuyện này không phải tự dưng mà có.” Một viên chức cao cấp trong bộ máy hành pháp nói thêm: “Bạn không bao giờ biết rõ tổng thống nói ra sự thực nào. Tôi ngờ rằng có gì đó khuất tất trong chuyện này và tôi tin bà Hillary cũng cảm thấy như vậy.”

Viên chức này cho biết thêm, ngay sau khi nghe chuyện về cuộc tình vụng trộm bị vỡ lở và cuộc điều tra của Kenneth Starr, Hillary rất sửng sốt và giận dữ. Viên chức này nói, một biểu hiện giận dữ của Hillary là bà đã ném vào ông Bill một câu hỏi khó chịu: “Tại sao anh ngu ngốc đến nỗi đem vũ khí trang bị cho kẻ thù?” Thật vậy, ông Bill đã trao cho ông Kenneth Starr một vũ khí hùng mạnh. Viên chức này còn nói, ông tin rằng bà Hillary “biết có chuyện gì đó đã xảy ra” giữa ông Bill và cô Monica. Ông này nói thêm, “Tôi chắc rằng ông ấy đã để lộ bí mật rằng có chút sự thật trong chuyện này.” Tuy nhiên, viên chức này nhấn mạnh rằng Hillary “không biết tất cả các chi tiết bẩn thỉu… bà ấy không biết các chi tiết đó cho đến tận tháng 8. Vì thế đối với bà sự phản bội thuộc về các chi tiết và độ dài thời gian mà sự việc diễn ra.”

Một người bạn khác và cũng là cố vấn của Hillary, người đã nói chuyện với bà trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ sau khi vụ tai tiếng bị phơi bày trước công luận, nói rằng Hillary đã hành động “như thể bà ấy đã biết được ông Bill từng có quan hệ luyến ái với Monica… và bà ấy vẫn kiên quyết dập tắt nó và giành chiến thắng.” Người bạn này tiếp tục cho biết rằng Hillary cảm thấy dễ chịu hơn khi gạt bỏ sang một bên cái cảm giác bị phản bội, bởi vì bà nhìn thấy cuộc điều tra mới của Starr “như một cuộc tấn công tổng lực vào cương vị tổng thống… Cho dù vụ ngoại tình là có thật đi nữa, bà vẫn sẽ đấu tranh đến cùng để bảo vệ cương vị tổng thống của ông Bill.” Bởi vì tổng thống đã “bị làm mờ mắt” bởi chiếc bẫy khai man mà các luật sư của Paula Jones dựng lên, cùng với sự tiếp tay của Linda Tripp và sự bày mưu tính kế của văn phòng Kenneth Starr, Hillary cho rằng mình bị xúc phạm nặng nề bởi “sự bất công của toàn bộ câu chuyện”. Chính quan niệm về sự bất công này đã thuyết phục Hillary “trở nên kiên quyết đứng bên cạnh tổng thống để chiến đấu chống lại mọi lời cáo buộc.”

Nhiều năm sau, Hillary nhấn mạnh rằng ngay từ đầu bà đã tin tưởng vào câu chuyện giấu đầu lòi đuôi của ông chồng. Trong cuốn tự truyện của mình, bà giải thích, mặc dù trước đó ông Bill đã dính vào nhiều vụ lăng nhăng, câu chuyện của ông vẫn có ý nghĩa đối với bà, bởi vì tư vấn, giúp đỡ một cô gái trẻ “hoàn toàn là một nét tính cách của Bill.”

“Ông ấy nói rằng cô ta đã hiểu sai ý định của ông, là chuyện mà trước đây tôi đã từng thấy hàng chục lần. Đó là một kịch bản quen thuộc đến nỗi tôi không băn khoăn gì mà tin ngay rằng những lời tố cáo ông ấy là không có cơ sở,” bà nói.

Nhưng Hillary biết, hàng triệu người Mỹ – đặc biệt là hàng triệu phụ nữ Mỹ – không tin ông Bill Clinton một cách dễ dàng như bà. Trong cuốn hồi ký của mình, bà công nhận, nhiều người cảm thấy khó hiểu cái quyết tâm sắt đá của bà chấp nhận lời giải thích của Bill, cam chịu mà không rời bỏ ông chồng. Hillary biết rằng nhiều người đã băn khoăn tự hỏi, “Làm sao bà ấy có thể thức dậy mỗi buổi sáng, nói gì đến chuyện xuất hiện trước công chúng? Cho dù bà ấy không tin vào những lời tố cáo thì chỉ cần nghe những lời đó cũng đủ tan nát cõi lòng rồi.” Hillary thừa nhận, vụ này vừa phá hoại vừa “cô lập”. Một người bạn của bà cho biết, những cáo buộc trong vụ Monica Lewinsky đã khởi đầu một năm khó khăn nhất và cô đơn nhất trong cuộc đời của Hillary.” Tuy nhiên ngay từ đầu, Hillary đã kiên quyết giành lấy sự lựa chọn cách ứng xử. Bà quyết định làm “những gì phù hợp với mình, bất chấp người khác nói gì, nghĩ gì.” Đối với Hillary, bảo vệ Bill cũng là một hành động tự phòng vệ, tự bảo vệ mình theo một cách thức rất thực tiễn. Và như thế, cũng như bà đã làm nhiều lần trong quá khứ, bà quyết định lao vào, bảo vệ chồng. Một người bạn của bà nói rằng, Hillary cảm thấy dễ chịu hơn khi nghĩ rằng ông Bill phải chịu tai tiếng là do một cuộc tấn công chính trị được thiết kế khéo léo hơn là một sự phản bội cuộc hôn nhân mà họ đã nguyện thề. Ngay từ khi còn theo học đại học, Hillary từng lập lại sự cân bằng bằng cách không nhìn vào nội tâm mình mà hướng sự chú ý vào việc giúp đỡ những người khác xử lý những vấn đề của chính họ. Giờ đây, gặp khó khăn trong đời, bà cũng làm giống như vậy.

Trong cuốn tự truyện của mình, Hillary viết rất ngắn gọn về nỗi đau và sự choáng váng khi lần đầu được biết về vụ lăng nhăng vụng trộm này. Bà nói, “Từ một hành vi dân sự phiền toái, ông Kenneth Starr đã biến thành một vụ điều tra hình sự. Không nghi ngờ gì nữa, ông ấy sẽ đẩy nó đi hết cỡ. Những thông tin rò rỉ từ vụ Paula Jones và từ Văn phòng chưởng lý độc lập ra báo chí đều ám chỉ rằng, lời khai của Bill trong cuộc thẩm vấn có tuyên thệ có thể xung đột với lời khai của các nhân chứng khác về mối quan hệ của ông với cô Lewinsky. Rõ ràng những câu hỏi trong buổi thẩm vấn về Jones được thiết kế chỉ để gài bẫy tổng thống vào cáo buộc khai man, cáo buộc này lại có thể biện minh cho một yêu cầu đòi tổng thống phải từ chức hoặc bị đưa ra luận tội.”

Trong chốn riêng tư, Hillary hy vọng rằng “mọi người sẽ bắt đầu hiểu” cái lý lẽ mà bà đã theo đuổi suốt mấy năm qua: Bà tin rằng các công tố viên đang cố gắng xói mòn quyền lực của tổng thống và chương trình hành động của chồng bà thông qua việc lạm dụng quyền lực được ban cho họ. Bà chỉ không tính tới chuyện công nhận một mối hiểm nguy đang đe dọa sự nghiệp chính trị của chính bà. Người bạn và cũng là cố vấn của bà là Sidney Blumenthal nhận xét, “Đối với bà ấy, bà đã đặt cược nhiều hơn tất thảy mọi người. Sự đánh cược này bao gồm không chỉ mọi điều bà đã làm trong cả một đời người về mặt chính trị, mà cả cuộc hôn nhân của bà nữa. Bà phải bảo vệ cả hai.”

Tương lai chính trị không bao giờ là một giả thuyết mơ hồ. Hillary đã gần như xác định chắc chắn từ đầu năm 1998 rằng bà sẽ tìm một ghế trong Thượng viện, có lẽ là đại diện cho bang New York. Và vụ tai tiếng này, như nó thể hiện trong những ngày đầu tiên ấy, trực tiếp đe dọa cái triển vọng đó. Trực tiếp hơn, kế hoạch đã được thông báo của vợ chồng Clinton bao gồm tám năm ông Bill làm việc trong Nhà Trắng, tiếp theo là tám năm lãnh đạo của bà, giờ đây đang gặp nguy hiểm. Hillary chỉ điên tiết rằng một lỗi lầm ngu ngốc và buồn bã như vậy do ông chồng gây ra giờ đây đã gây nguy hại cho tất cả kế hoạch của họ – không, tất cả kế hoạch của bà.

Khắp thế giới, cánh phóng viên nói về rủi ro trong gia tài chính trị của Bill Clinton. Nhưng quan điểm từ Hillaryland thật đơn giản: chính bà ấy mới là người mất mát nhiều nhất.

Vài giỜ sau lẦn đẦu tiênnghe đức ông chồng thốt ra cái tên “Monica Lewinsky”, Hillary phải rời Nhà Trắng đi nói chuyện tại Baltimore theo lời mời của Taylor Branch, một nhà sử học. Đây là một hoạt động đã được lên lịch từ trước và bà quyết định phải hoàn thành lời cam kết của mình.

Ngoài ra, bà còn có lựa chọn nào khác nữa? Bà phải cam chịu thôi. Một lần nữa Hillary lại nghĩ tới những lời nói thông minh của bà Eleanor Roosevelt, người từng nhận xét rằng một người phụ nữ trong cuộc sống chính trị phải “trang bị lớp da dày như da tê giác”. Và cũng như bà đã từng làm trong quá khứ, Hillary kết luận rằng “điều quan trọng là trấn an các nhân viên của Nhà Trắng rằng chúng tôi sẽ xử lý vụ khủng hoảng này và hãy chuẩn bị sẵn sàng để phản công… Điều tốt nhất tôi có thể làm cho chính mình và cho những người chung quanh mình là tiến lên phía trước.”

Vì thế chiều hôm ấy, Hillary lên con tàu lửa Amtrak trực chỉ về hướng bắc, tới ngôi trường đại học nhỏ tên là Goucher College ở Baltimore. Sau bài diễn văn dài ba mươi phút tại trường Goucher, ra đến ga tàu lửa Baltimore, Hillary chạm trán với một đám rất đông phóng viên báo chí và truyền hình. Đây là đám phóng viên đông đảo nhất mà bà thấy trong nhiều năm qua, đông hơn cả đám phóng viên chờ đợi bà cái ngày bà phải ra điều trần trước đại bồi thẩm đoàn về vụ Whitewater. “Bà có nghĩ rằng lời tố cáo là sai không?” một phóng viên gào lên.

Hillary đang ngồi trên một chiếc ghế dài giữa nhà ga tàu lửa. Bà dừng lại, đứng lên, tiến đến gần rừng micro và máy quay phim rồi nói: “Tất nhiên tôi tin rằng những cáo buộc ấy là sai – tuyệt đối sai.”

Sau đó Hillary được hỏi bằng cách nào bà có thể chịu đựng được những vấn đề như vậy. Bà đáp: “Các bạn biết đấy, tôi sẽ không nói rằng điều đó không khó khăn, bởi vì thực sự khó khăn và đau đớn khi người mà bạn quan tâm nhất, bạn yêu thương, kính phục nhất bị tấn công và phải chịu đựng những lời tố cáo vô căn cứ như chồng tôi đang bị hiện nay. Nhưng đến giờ này tôi đã sống với những chuyện đó hơn sáu năm rồi, tôi đã từng thấy những lời cáo buộc, những tố cáo như thế này bị bốc hơi và biến mất như thế nào sau khi chúng bị phơi bày dưới ánh sáng mặt trời. Vì thế tôi cũng cảm thấy giống như vậy về tất cả những chuyện này.”

Cuối cùng, bà nói rằng cuộc điều tra của Starr là điều xấu xa cho nước Mỹ. “Tất cả những chuyện này… điều mà tôi mong muốn là cả chồng tôi, cả những người cộng tác với ông đều sẽ không khuất phục, bởi vì tôi cảm thấy hối tiếc sâu sắc; đó là điều mà tôi không cho là sẽ tốt cho đất nước. Sẽ không phải là điều tốt cho đất nước khi những tố cáo, những xung đột chính trị lại biến thành những vấn đề phải quan tâm về mặt pháp lý,” bà nói. “Họ phải chiến đấu trên vũ đài chính trị, nhưng bởi vì chồng tôi đã thành công mỹ mãn trong công cuộc chuyển hướng đất nước và đạt được nhiều thành tựu cho đất nước này, tôi nghĩ rằng những đối thủ của ông rất khó mà chấp nhận ông.”

Trong lúc Hillary đang ở Baltimore, thì tổng thống tham dự ba cuộc phỏng vấn đã được xếp lịch từ trước với chương trình Roll Call, đài Phát thanh Quốc gia và đài truyền hình PBS. Nhà báo Jum Lehrer của đài PBS hỏi ông: “Ngài đã không có quan hệ tình dục với cô gái trẻ ấy chứ?”

Ông đáp: “Không phải là quan hệ tình dục. Chính xác là như thế.”

Tại tất cả các tòa soạn ở thủ đô, việc tổng thống chọn động từ to be (khẳng định) đang gióng lên hồi chuông báo động. Đối với ông Bill, người mà kỹ năng chính trị đã trở thành huyền thoại bao gồm cả kỹ năng phân tích ngôn ngữ một cách điệu nghệ, sự lựa chọn này là hoàn toàn không khôn ngoan, thậm chí vụng về.

Và như vậy, với giới báo chí và các nhà chiến lược ở khắp thủ đô, chuyện tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ dan díu vào quan hệ tình dục với một cô gái chỉ đáng tuổi con mình đã trở thành sự thật hiển nhiên. Hillary trở về văn phòng của mình ở Nhà Trắng, hoàn toàn không hay biết gì về một nhận định như vậy. Bà nghĩ ít về tội lỗi có thể có của ông Bill mà nghĩ nhiều hơn về nỗi căm ghét của bà đối với Kenneth Starr. Bà gọi điện cho Sid Blumenthal, người vẫn thường bị các chiến lược gia chính trị chế giễu vì ông thường nhìn thấy những âm mưu tinh vi của “cánh hữu” và mục tiêu ưa thích của họ là vợ chồng Clinton. (Rahm Emanuel, một chiến lược gia chính trị của Clinton đặt cho ông cái biệt danh là GK. nghĩa là Đồi Cỏ) Nhưng trong những ngày sắp đến, Blumenthal sẽ tỏ ra quý giá vô cùng đối với Hillary, trước hết bởi vì ông có quan hệ tin cậy với rất nhiều cây bút và phóng viên quan trọng ở thủ đô Washington, kể cả David Brock. Ông Brock là tác giả từng ăn lương của tạp chí The American Spectator, một tạp chí thiên hữu do nhà chính trị bảo thủ Richard Mellon Scaife bảo trợ; và sự bảo trợ này đã giúp ông viết hàng loạt bài năm 1993 về những cáo buộc do hai người lính cận vệ của bang Arkansas đưa ra, tố cáo rằng họ đã giúp dàn dựng những cuộc hẹn hò tình ái cho Bill Clinton, lúc đó còn là thống đốc tiểu bang Arkansas, gây nên một vụ tai tiếng được biết dưới cái tên “Troopergate”. Tuy nhiên, kể từ đó ông Brock đã công khai thay đổi lập trường ý thức hệ của mình. Trong tiến trình thay đổi này, ông ta đã trở thành một trong những người tin cậy nhất của ông Blumenthal. Vài tiếng đồng hồ sau khi tờ Washington Post đăng cái tin sốt dẻo về chuyện Starr bắt đầu tiến hành điều tra vụ Monica Lewinsky, Brock đã cung cấp cho Blumenthal những thông tin tươi rói về cách thức kỳ lạ mà Starr biết được về Monica Lewinsky và Linda Tripp, kể cả vai trò thiết yếu của nhóm luật sư bảo thủ – một nhóm có biệt danh là “những con quỷ”. Những luật sư đó đã cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho Paula Jones và một người trong số họ đã tiết lộ cho văn phòng của Starr rằng Linda Tripp sẽ mang tới cho Starr lời tố cáo của bà ta và những cuộn băng ghi âm bí mật.

Blumenthal kể cho Hillary nghe cuộc trò chuyện của ông với Brock. Sau này ông nhớ lại: “Chúng tôi có thể nhìn thấy những phương thức gây ảnh hưởng nằm bên dưới vụ tai tiếng này, nguyên nhân và hậu quả của nó, ý định và hành động của họ. Chúng mang tính chất chính trị và rất quen thuộc. Như vậy, ngay trong ngày đầu tiên, cả Hillary và tôi đều biết về cái mà chẳng bao lâu nữa bà ấy sẽ gọi là một âm mưu to lớn của cánh hữu”.

Blumenthal bị sốc bởi thái độ bình tĩnh và cương quyết của Hillary vào lúc cơn cuồng loạn về vụ tai tiếng đang bao trùm khắp thủ đô và cả nước. Sau này ông nhớ lại, “Đây là chính trị, có lẽ là một cuộc khủng hoảng lớn nhất từ trước đến nay, tuy vẫn là chính trị,” Nhưng thái độ của Hillary là không thật; ở Cánh Tây “chỉ có hỗn loạn,” một cựu quan chức trong chính quyền Clinton nhận xét. “Trong hai ngày, chúng tôi họp hành liên miên. Chúng tôi đang trong cuộc khủng hoảng. Không ai biết phải làm gì.”

Bốn mươi tám giờ sau khi vụ tai tiếng nổ ra, các viên chức cao cấp của Nhà Trắng quyết định “nguyên tắc đi đường” để tiến tới. Đây là một vấn đề pháp lý và chỉ có một số người được chọn lọc sẽ tham gia xử lý các chiến lược và chi tiết, gồm có: David Kendall, cộng sự của Kendall là Nicole Seligman, Cherill Mills – một luật sư của văn phòng chưởng lý Nhà Trắng, và Hillary. “Hillary tham dự tất cả các cuộc họp. Trước kia bà ấy đã làm như vậy và bây giờ bà ấy cũng sẽ làm lại như vậy,” viên chức này nói.

Hillary kể cho ông Blumenthal rằng, tổng thống cũng coi vụ này là một cuộc khủng hoảng, một thắng một thua trên vũ đài chính trị. Sau khi đoán định tầm cỡ của mối đe dọa đang nhắm vào chiếc ghế tổng thống và vị trí của ông trong lịch sử, sáng sớm ngày hôm ấy Bill đã nói với Hillary rằng: “Ồ, chúng ta nhất định phải thắng.” Không có gì mơ hồ trong cách chọn lựa từ ngữ của tổng thống khi ông nói “chúng ta”. Nếu như ông có một cơ hội nào để thoát khỏi vụ rắc rối hết sức nghiêm trọng này thì ông đều phải cần tới Hillary, như từ trước đến lúc đó. Ông biết vậy và bà cũng biết vậy.

* * *

TỪ văn phòng cỦa mìnhtrong khu vực của hãng truyền hình CBS ở Burbank bang California, Harry Thomason xem cuộc trả lời phỏng vấn không mấy thuyết phục của tổng thống với nhà báo Jim Lehrer của đài PBS. Giống như tất cả các nhà báo đã xem cuộc phỏng vấn đó, Thomason – một người sản xuất chương trình truyền hình và là một người bạn thâm niên của Bill Clinton – nhìn thấy một vị tổng thống đang tiến hành một cuộc phòng vệ tuân thủ đúng pháp luật và lúng túng, thậm chí vụng về. Ông bỏ cái điều khiển tivi xuống, chụp lấy điện thoại và gọi ngay cho Hillary để nói lên mối quan tâm về những gì mình vừa thấy.

Bà hỏi lại: “Khi nào thì anh đến đây được?”

Tối hôm sau tại Nhà Trắng, Thomason thúc giục tổng thống và Đệ nhất Phu nhân đưa ra cho công chúng một mặt trận thách thức và thống nhất chống lại những lời tố cáo đang là đề tài đàm luận khắp cả nước. Vào sáng thứ hai ngày 26 tháng 1, theo kế hoạch, có một cuộc họp báo ở Phòng Roosevelt trong Nhà Trắng về việc trợ cấp cho hoạt động chăm sóc trẻ em sau giờ học. Đây là một cơ hội hoàn hảo cho Bill Clinton đánh gục những lời buộc tội bằng sức mạnh của mình, với Hillary và Phó tổng thống Al Gore đứng bên cạnh.

Nhưng Al Gore không thích những gì mình đang chứng kiến. Vụ tai tiếng mới nhú lên đó đã góp phần tạo ra một hố ngăn cách giữa ông và vợ chồng Clinton. Vị phó tổng thống trung thành khó chịu với vụ tai tiếng này. Ông ngạc nhiên trước việc Hillary nhanh chóng chuyển sang thái độ chiến đấu, trước việc bà dễ dàng không hề tỏ ra kinh ngạc khi thấy thói lăng nhăng của ông Bill có thể làm hỏng chương trình hành động của Chính phủ. Về phần mình, Hillary cũng bất bình với ông Gore; bà cảm thấy ông đã không làm đầy đủ để bảo vệ tổng thống. Một cố vấn giải thích rằng Hillary đòi hỏi “lòng trung thành tận tụy hoàn hảo đối với tổng thống. Vì thế khi ông Gore nổi giận với những chuyện đang xảy ra với tổng thống, tôi nghĩ điều đó cũng giống như đổ thêm dầu vào lửa.” Ngọn lửa đó đã âm ỉ cháy từ khi sự việc mới bắt đầu. Một cố vấn nhớ lại rằng ông Gore và bà Hillary đã có nhiều vụ bất đồng ý kiến nảy lửa, không chỉ về những việc cá nhân mà cả về chính trị. “Chắc chắn là họ đã xung đột,” viên cố vấn này nói. Một cố vấn khác cho biết: “Họ là những con người hoàn toàn khác nhau. Bạn có thể ở gần họ và cảm thấy điều đó.” (Nhiều năm sau Al Gore thừa nhận rằng đã từng có chuyện “coi như cho qua” trong quan hệ giữa ông với vợ chồng Clinton.) Giờ đây ông kinh ngạc trước phản ứng kỳ dị và không có chất người của Hillary. Chồng của bà đã phản bội bà, đã hạ nhục bà – còn thể nào có tính người hơn được nữa? Nhưng cái bộ lọc trong con người bà dường như chỉ cho phép những vấn đề chính trị được đi qua.

Buổi sáng tháng 1 năm 1998 ấy, trong Phòng Roosevelt, sau khi hoàn tất bài phát biểu về vấn đề chăm sóc trẻ em, tổng thống ngập ngừng một lúc rồi đưa ánh mắt giận dữ về phía mấy chục chiếc máy quay phim đang hướng vào ông. “Tôi muốn các vị lắng nghe tôi,” ông nói nửa như yêu cầu, nửa như ra lệnh. “Tôi sẽ nói đi nói lại điều này nhiều lần nữa.” Và đưa một ngón tay thọc mạnh vào không khí, đôi mắt long lên giận dữ, tổng thống nói một cách mạch lạc: “Tôi đã không có quan hệ tình dục với người phụ nữ ấy”, ông ngừng lại một chút, “Cô Lewinsky. Tôi không bao giờ bảo ai phải nói dối, không lần nào – không bao giờ. Những lời tố cáo ấy là sai. Và tôi cần phải trở về làm việc cho nhân dân Mỹ.” Sau đó ông quay ngoắt người, bước khỏi bục diễn thuyết, và Hillary với vẻ mặt ngoan cố theo sát gót; họ giận dữ bước nhanh ra khỏi phòng họp.

Trong cuốn tự truyện của mình, Hillary chỉ nói đơn giản như sau về hành động của Bill Clinton hôm đó: “Tôi nghĩ rằng việc bộc lộ cơn tức giận của ông là hợp lý trong hoàn cảnh như vậy; như tôi hiểu.” Bà đã không nói gì về sự kiện rằng bà đã mạnh mẽ thúc giục đức ông chồng hạ gục những lời buộc tội, rằng bà đã nhấn mạnh rằng bà sẽ đứng bên cạnh ông khi ông làm điều đó. Chuyện về sau này bà tự tách mình ra khỏi bài phát biểu của ông Bill là điều có thể hiểu được: Lời nói của ông chồng là một lời nói dối, ông biết điều đó và trong thâm tâm Hillary, bà cũng biết như vậy. Tuy nhiên vào lúc đó, bà đã thúc ép ông phải nói ra những lời ông đã nói; Hillary Clinton sẽ không thừa nhận lỗi lầm và cũng không để cho đức ông chồng làm điều đó.

Đứng bên ông Bill ngày hôm đó, Hillary đã giữ thái độ im lặng. Nhưng mọi người trên khắp nước Mỹ dường như đều muốn nghe lời nói của bà. Ngày hôm sau là ngày tổng thống đọc Thông điệp về tình hình Liên bang trước Quốc hội, còn Hillary có một cam kết lâu dài sẽ xuất hiện trong chương trình Today trên truyền hình NBC ở New York. Sau này bà nhớ lại: “Lẽ ra hôm ấy tôi phải đi chữa răng nhưng việc bãi bỏ cuộc trò chuyện truyền hình sẽ gây ra một cơn bão những lời đồn đại.” Các cố vấn của bà cũng như các phụ tá của Bill Clinton đều thúc giục bà đừng nói gì về Kenneth Starr. Nếu biết Đệ nhất Phu nhân sẽ mở cuộc tấn công mình ông sẽ trở nên “thù oán” và chỉ làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn cho ngài tổng thống. Tuy nhiên luật sư David Kendall không đồng ý với lời tư vấn đó; ông lặng lẽ nói với Hillary rằng bà nên nói tất cả những gì có trong lòng mà không cần bận tâm về hậu quả.

Một người bạn thân thiết của Hillary kể lại rằng trong buổi tối trước ngày xuất hiện trong chương trình Today, bà đã thề: “Tôi sẽ tuyên chiến với Starr.” Người bạn này nói rằng, “Bà biết chỉ có một con đường duy nhất để chiến thắng trong cuộc tranh đấu này là buộc Starr phải lui vào thế phòng thủ. Và cơ hội hoàn hảo nhất để làm điều đó là ở New York, trong chương trình truyền hình Today.”

Hillary nghỉ đêm ngày 26 tháng 1 trong một căn phòng hạng sang ở khách sạn Waldorf-Astoria, thức giấc lúc năm giờ sáng. Trong chuyến xe ngắn ngủi đến đài truyền hình NBC ở Trung tâm Rockefeller, Hillary “rất thoải mái” – Melanne Verveer, chánh văn phòng của bà, nhớ lại. “Bà ấy không căng thẳng, không sợ hãi gì.”

Bảy giờ kém mười phút, từ phòng thu của chương trình Today, Hillary gọi điện nói chuyện với Sid Blumenthal để nghe lời động viên phút cuối cùng. Blumenthal góp ý bà nên nói rằng, “Có những lực lượng chuyên nghiệp đang hoạt động mà mục tiêu duy nhất của họ là gieo rắc sự chia rẽ bằng cách tạo ra vụ tai tiếng.”

Sáng hôm ấy, nhà báo Matt Lauer ngồi một mình trong căn phòng tối mờ mờ ở Trung tâm Rockefeller; Jay Monahan, chồng của Katie Couric, người cùng dẫn chương trình với anh, vừa qua đời ba ngày trước đó sau một thời gian dài chiến đấu với bệnh ung thư ruột kết. Hillary, trông có vẻ mệt mỏi, với những quầng thâm dưới khóe mắt, ngồi đối diện với Lauer, người sẽ bắt đầu cuộc phỏng vấn ngay sau khi bản tin lúc bảy giờ sáng kết thúc.

Lauer bắt đầu: “Trong mục Cận cảnh sáng nay có Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ, bà Hillary Rodham Clinton.” Hướng về phía Hillary, ông nói. “Thưa bà Clinton, gần đây có một câu hỏi trong tâm trí mọi người dân ở đất nước này. Câu hỏi đó là, bản chất thật sự của mối quan hệ giữa chồng bà và cô Monica Lewinsky là gì? Ông ấy có lần nào miêu tả chi tiết mối quan hệ ấy cho bà biết không?”

Hillary đáp: “Ồ, chúng tôi đã nói chuyện khá nhiều. Và tôi nghĩ rằng khi vấn đề này được phơi bày, cả nước sẽ có thêm nhiều thông tin. Nhưng giờ đây chúng ta đang ở giữa một cơn nhiễu loạn thông tin mạnh mẽ; mọi người đang nói về đủ loại chuyện, đưa ra đủ mọi tin đồn và những lời bóng gió. Và tôi đã học được sau nhiều năm tham gia chính trị, đặc biệt là từ khi chồng tôi bắt đầu ra tranh cử tổng thống lần đầu tiên, rằng trong những trường hợp như thế này thì điều tốt nhất là hãy nhẫn nại, hít một hơi thật dài và rồi sự thật sẽ đến.”

Câu trả lời này thật đáng chú ý vì nó tránh đề cập trực tiếp vào câu hỏi. Sự thật là bà biết rất rõ rằng có đúng là ông ấy đã mô tả mối quan hệ này hay không, có đúng là bà đã tin vào đức ông chồng hay không.

Một lúc sau đó, Lauer lại thử một cách tiếp cận khác. Ông nói rằng James Carville đã miêu tả cuộc điều tra vừa được khôi phục của văn phòng chưởng lý độc lập như một cuộc chiến tranh cá nhân hết sức nghiêm trọng giữa ông Bill và ông Starr. “Bà đã nói, và tôi hiểu, với một số bạn bè thân thiết, rằng đây là cuộc chiến đấu vĩ đại cuối cùng. Và rằng có một bên, bên này hay bên kia, đang bị thất thế.”

Hillary lắc đầu và nhíu mày. Bà nói: “Ồ, tôi không biết mình có gây ra ấn tượng như thế không – nghe như một câu nói trích từ phim truyện. Nhưng tôi tin chắc đây là một trận đánh. Ý tôi là, hãy nhìn vào tất cả những người có liên quan trong vụ này – ai cũng giương cung múa kiếm. Đây là một câu chuyện vĩ đại cho những ai đang tìm kiếm, viết về nó và giải thích nó, một âm mưu to lớn của những người cánh hữu đã định chống lại chồng tôi ngay từ ngày đầu tiên ông được công nhận là tổng thống. Một vài nhà báo quan tâm theo dõi nó và giải thích nó. Nhưng câu chuyện đó vẫn chưa được tiết lộ đầy đủ cho công chúng Mỹ. Và thật sự, anh biết đấy, cuộc trò chuyện của chúng ta có thể làm được điều đó, theo một cách khá là kỳ quái.”

Câu nói có ý nghĩa tố cáo cao độ của Đệ nhất Phu nhân dùng để miêu tả những kẻ thù của Clinton – “một âm mưu to lớn của cánh hữu” – đã làm những người đàn ông, đàn bà đang làm việc cho văn phòng của Starr trên đại lộ Pennsylvania tức điên lên. Đối với họ, cái từ âm mưu có nghĩa là một hành động tội phạm. Vào cuối ngày hôm đó, Starr đã thực hiện một bước đi bất thường là đưa ra một lời phát biểu, theo đó, ông miêu tả lời tố cáo của Hillary – cho rằng ông và các công tố viên của ông là những kẻ tham gia vào một âm mưu – là một “điều phi lý”. Nhưng lời nói của Đệ nhất Phu nhân đã đến được với thính giả mà nó nhắm tới. Một tuần sau đó, một cuộc thăm dò của tờ Washington Post và đài ABC News thực hiện cho thấy 59 phần trăm những người được hỏi ý kiến đã tin rằng “Những kẻ thù chính trị của Clinton đang âm mưu lật đổ chức tổng thống của ông.”

Sau cuộc phỏng vấn truyền hình trong chương trình Today, trên đường quay trở về thủ đô Washington, Hillary lại có cuộc trò chuyện ngắn qua điện thoại với Kendall. “Lúc đó tôi cứ nghe văng vẳng trong tai những những lời nói thông thái của ông,” bà bảo Kendall.

“Và những từ ngữ thông thái nào bà nghe thấy lúc ấy?” Kendall hỏi lại.

“Quên chúng đi!”, bà vừa nói vừa cười thật to.

“Đó là một thành ngữ cổ của giáo phái Quaker,” Kendall trả lời.

Khi vỤ tai tiẾngngày càng lộ rõ ra, Hillary lại một lần nữa tự hỏi mình, trong hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc như thế này, bà Eleanor Roosevelt sẽ làm gì. Câu trả lời đến thật dễ dàng: Chiến đấu. Chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Và Hillary đã làm đúng như vậy. Ngay từ ngày đầu tiên bà đã nắm quyền kiểm soát các hoạt động báo chí và các cuộc họp về chiến lược pháp lý từ bên trong Nhà Trắng. Một chiến dịch chống lại Monica Lewinsky được bắt đầu chỉ trong vài giờ sau cái tin sốt dẻo trên báo Washington Post, bằng những lời rỉ tai cho cánh phóng viên, rằng cô gái nguyên là thực tập sinh kia không chỉ say mê tổng thống như điếu đổ mà còn “lén lút” đi theo ông. Một phụ tá của Nhà Trắng nói với các phóng viên rằng cô gái trẻ đó “không ổn định” và đang đấu tranh với “vấn đề thừa cân”. Các phụ tá Nhà Trắng còn gán cho cô gái những biệt danh ác hiểm như “Phù Thủy” vì cô có mái tóc dài và áo quần thì ít khi đổi kiểu, hoặc “Con Đỉa” bởi vì mỗi lần tổng thống hoặc một người nổi tiếng nào đó bắt tay cô thì cô cứ nắm lấy không chịu buông ra. Những nhà phê bình cánh hữu chống lại gia đình Clinton từ lâu đã chế nhạo vẻ bề ngoài của Hillary và cả cô bé Chelsea nữa. Những cuộc tấn công thô thiển đó đã bị nhiều người lên án là hèn hạ. Giờ đây Nhà Trắng cũng lại chơi cái trò chơi đê tiện đó.

Cách thủ đô ba ngàn dặm, Chelsea đang vào giữa năm học đầu tiên ở trường Đại học Stanford. Vụ tai tiếng phiền toái ấy xoáy tròn chung quanh cô, làm cho nỗi khổ cực của năm đầu tiên đi học xa nhà càng thêm khó khăn. Trong suốt những tuần lễ đầu tiên, Hillary thường xuyên nói chuyện qua điện thoại với Chelsea. Vào cuối tháng 2, Đệ nhất Phu nhân có chuyến viếng thăm bất ngờ tới Palo Alto để được ở cùng với con gái. Chelsea đã bảo mẹ rằng cô không muốn cha đến thăm mình ở khu học xá; một quyết định làm cho Bill “tan nát”, theo lời của một người bạn. Chelsea tin rằng thực tế cha mình đã ngoại tình với một người phụ nữ chỉ hơn mình có vài tuổi. Đối với Bill Clinton, người luôn cưng chiều đứa con gái độc nhất, phán quyết của Chelsea tệ hại ngang một sự trừng phạt.

Không chỈ cóMonica Lewinsky trở thành người mà thanh danh bị nghiền nát bởi các phụ tá của Nhà Trắng. Kenneth Starr cũng trở thành “một cái tên quen thuộc và không phải theo nghĩa tốt,” Carville dự báo với một vẻ hả hê lộ rõ trên mặt. “Sẽ có một cuộc chiến tranh,” lời thề đầy vẻ kiêu ngạo của Carville không chỉ là một lời đe dọa mà còn có nghĩa như một mệnh lệnh và đặc biệt hướng tới những người trung thành với Hillary.

Trong số rất nhiều thứ, các đồng minh của Nhà Trắng đặt mục tiêu vào lòng mộ đạo của Starr, họ đem ra đùa cợt việc sáng nào ông cũng hát thánh ca. Starr nghĩ rằng việc châm biếm ông là “một người của đức tin” là hành vi “bôi nhọ tôn giáo”. Ông cũng tin rằng cuộc tấn công tôn giáo mà các đồng minh của Clinton tiến hành “chắc chắn sẽ đưa đến những hệ quả cho lợi ích của tôi ở một số cộng đồng, nhưng không phải là trong giới tinh hoa về văn hóa.”

Tuy vậy về sau, chính Starr tâm sự rằng những cuộc tấn công nhắm vào ông cuối cùng cũng đã thành công trong công chúng Mỹ, một phần bởi vì “không có ai ở phía bên kia” bảo vệ thành tích của ông với tư cách một thẩm phán, một viên chức tòa án. Starr tự nhận mình mắc lỗi khi không chạy đến với bà Janet Reno, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, và yêu cầu bà bảo vệ mình, bởi vì về mặt pháp lý, ông không thể tự mình bình luận về vụ án. Cuối cùng, nhiều tháng sau đó, khi ông có dịp ngồi lại với bà Reno, thì đã là lúc bà đang tiến hành điều tra về hoạt động của chính ông, kể cả mối quan hệ ban đầu của ông với các luật sư được ủy quyền của bà Paula Jones trước khi ông trở thành chưởng lý độc lập. (Starr đã cung cấp cho một trong các luật sư của Jones lời tư vấn về một vấn đề luật hiến pháp trước khi ông trở thành chưởng lý độc lập.) Starr coi cuộc điều tra của bà Reno là “một lời tuyên chiến,” và đến lúc đó đã quá trễ để ông có thể yêu cầu bà bảo vệ cho cách hành xử của mình.

Đối với Hillary, số người xung phong bảo vệ Cinton đã vượt quá sự mong đợi của bà. Với hai vợ chồng này, thử thách đầu tiên về lòng trung thành chính là niềm đam mê và sự cam kết mà các bạn bè của họ biểu lộ giữa lúc cuộc khủng hoảng đang lên tới đỉnh điểm. “Mỗi người đều có nhiều công việc, nhưng đây là một cuộc chiến tranh một mất một còn và thế là mọi người cứ thế trụ lại,” một người bạn thâm niên của Hillary nhận xét.

Vào tháng 3, một vụ tai tiếng nho nhỏ nữa lay động cả Nhà Trắng: Kathleen Willey, một cựu tình nguyện viên ở Nhà Trắng, kể với chương trình 60 phút rằng tổng thống đã sờ soạng cô, cầm bàn tay phải của cô đặt lên dương vật đang căng cứng của ông trong phòng làm việc của tổng thống cách Phòng Bầu dục không xa. Bill coi lời tố cáo của cô gái là một bằng chứng mới về hành vi sai trái của các công tố viên đứng về phe Starr. Ngay hôm sau cuộc phỏng vấn, tự ông Bill nói ra rằng mình rất “hoang mang và giận dữ” với lời kể của Willey. Với thái độ hăng hái của Hillary, sau đó Nhà Trắng đã công bố chín lá thư đầy giọng nịnh hót của cô gái này gửi cho ông Bill sau khi xảy ra vụ việc mà cô tố cáo. (Trong cuốn tự truyện Living History của mình, Hillary hoàn toàn lặng im về trường hợp Kathleen Willey.)

Vào cuối tháng 3, Bill và Hillary công du vùng Hạ Sahara, viếng thăm sáu quốc gia trong mười một ngày. Đó là chuyến đi được chờ đợi từ lâu để thoát khỏi bầu không khí điên loạn của thủ đô mặc dù họ nhấn mạnh rằng chuyến công du không phải là để ứng phó với vụ tai tiếng Monica Lewinsky.

Vào ngày 1 tháng 4, trong lúc vợ chồng Clinton và các phụ tá đang ở Senegal, thì thẩm phán Susan Wright chấp thuận một kiến nghị của các luật sư của tổng thống yêu cầu một sự phán quyết nhanh và bãi bỏ vụ kiện của Paula Jones. Quan tòa kết luận rằng Jones không có đủ chứng cứ tin cậy cho lời khẳng định của bà. Điều khôi hài tréo ngoe trong vụ việc này không phải là sự mất mát của Bill hoặc của Hillary (những người vẫn nói trong chốn riêng tư về sự ngạc nhiên của họ rằng nhiệm kỳ tổng thống của ông bị đe dọa vì ông bị cáo buộc đã nói dối sau khi tuyên thệ trong một vụ án dân sự) mà chính là việc một thẩm phán đã bãi bỏ vụ kiện.

Hillary bảo các bạn của mình: “Đây không phải là vụ Watergate”. Nhưng sau đó không bao lâu bà sẽ thấy rằng về một số phương diện, vụ này cũng giống Watergate.

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.