Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
Ra Trước Đội Hành Quyết

❊ ❊ ❊

ĐỐI VỚI HILLARY, tháng 1 năm 1996 đánh dấu một chuyển biến bất ngờ và ngoạn mục của các sự kiện. Cho đến lúc ấy, mọi việc lại một lần nữa có vẻ như thuận lợi. Chuyến công du nước ngoài của bà là một thành công, góp phần hàn gắn những vết thương do sự đổ vỡ các nỗ lực cải cách y tế gây ra. Cuối cùng thì bản thảo của cuốn sách Cần một ngôi làng cũng sắp hoàn thành. Và triển vọng tái ứng cử tổng thống của ông Bill cũng có vẻ thuận lợi, sau khi ông lấn át được những người Cộng hòa trong suốt thời gian ngưng hoạt động của một Chính phủ do Gingrich thúc đẩy.

Ngay cả những cuộc điều tra tưởng chừng như kéo dài vô tận cũng có vẻ như đã được quản lý, sắp cho ra một kết quả thuận lợi. Chỉ mới vài tuần trước, vào cuối tháng 11 năm 1995, Jean Lewis, điều tra viên đã khởi sự cuộc điều tra cấp liên bang về vụ Madison Guaranty năm 1992, thú nhận mình là một người Cộng hòa bảo thủ. Bỗng nhiên, những tuyên bố của vợ chồng Clinton về cuộc săn đuổi phù thủy trong chính trị trở nên đáng tin hơn. Rồi vào cuối tháng 12, công ty luật Pillsbury Madison và Sutro hoàn thành bản báo cáo cho những nhà điều tra liên bang, trong đó họ không tìm thấy lý do nào để khởi kiện nhiều bên khác nhau, kể cả gia đình Clinton, về những thiệt hại phát xuất từ sự sụp đổ của ngân hàng Madison. Vợ chồng Clinton và những người ủng hộ hoan nghênh bản báo cáo. Họ nói kết luận của bản báo cáo, rằng họ từng là những nhà đầu tư thụ động trong dự án liên doanh Whitewater cùng với Jim và Susan McDougal, đã tái khẳng định những gì mà ông Bill và bà Hillary đã khẳng định và kiên trì ngay từ đầu: Họ không biết về sự lèo lái của ông Jim ở công ty kinh doanh bất động sản ấy. Sau này Hillary và ông Bill đều viết lại, có phần chua chát, rằng báo chí đã không quan tâm đúng mức, thậm chí bỏ qua những phát hiện của công ty luật đó.

Một điều gì đó, bắt đầu với vài tấm séc bị hủy bỏ đáng giá vài ngàn đôla đã làm sản sinh ra một bản báo cáo điều tra tiêu tốn đến 3,6 triệu đôla mà vợ chồng Clinton xem như một sự giải tội. Nhưng quyết định không kiện họ có tác dụng rất ít trong việc gỡ bỏ lớp mây đen hoài nghi vẫn treo lơ lửng trên đầu Tổng thống và Đệ nhất Phu nhân.

“MỘT KẺ DỐI TRÁ BẨM SINH.” Đó là cụm từ mà nhà bình luận William Safire của tờ New York Times dùng để miêu tả bà Hillary vào đầu năm 1996, và cái nhãn này đã đánh đòn trí mạng vào Đệ nhất Phu nhân, đẩy bà rơi xuống vực sâu kinh sợ, còn đức ông chồng thì giận điên lên. Thư ký báo chí của Nhà Trắng Mike McCurry nhận xét, nếu như Bill Clinton không phải là tổng thống, “chắc ông ta đã đáp trả bằng một cú đánh trời giáng làm gẫy sống mũi của anh chàng [Safire] đó.”

“Chữ đầu tiên tôi có trong đầu là prevaricator, có nghĩa là kẻ nói dối, chữ thứ hai trong đầu tôi là dissembler, cũng có nghĩa là kẻ nói dối,” Safire (nguyên là người soạn diễn văn cho cựu Tổng thống Nixon), giải thích trên truyền hình quốc gia sau khi bài báo của ông được xuất bản. “Và rồi, tôi tự bảo mình: mình đang làm việc trong ngành công luận. Tại sao mình không thể diễn đạt quan niệm của mình bằng một từ tiếng Anh đơn giản mà ai cũng có thể hiểu được?”

Nhận định của Safire phát xuất từ việc phát hiện ra những bản kê hóa đơn đòi thanh toán mà công ty luật của Hillary yêu cầu ngân hàng Madison Guaranty trả; ông ta tin những bản tính tiền này trái ngược với lời kể của bà Hillary rằng bà chỉ làm có tí xíu cho cái ngân hàng ở Arkansas đó. Ông cho rằng, trong buổi thẩm vấn, bà cũng đã không nói thật về nhiều vấn đề khác nữa, chẳng hạn như việc kinh doanh hàng hóa. Nhận xét của Safire dội tới dội lui trên khắp nước Mỹ, các nhà bình luận bảo thủ như Rush Limbaugh đã khoái chí nhắc đi nhắc lại cụm từ “kẻ nói dối bẩm sinh” trong nhiều tuần lễ. Vào cuối tháng ấy, đa số người được hỏi ý kiến đều nói rằng họ nghĩ về Hillary như một kẻ nói dối.

Vào ngày chủ nhật 14 tháng 1, trong lúc ông Safire giải thích cho khán giả truyền hình quốc gia tại sao ông chọn lựa cụm từ đó, và các bình luận gia nhắc đi nhắc lại lời đe dọa của tổng thống đòi đấm gãy sống mũi Safire, thì Bill Clinton gọi điện thoại cho cô Monica Lewinsky, lúc ấy đang ở căn hộ của mẹ cô trong khu Watergate tại thủ đô Washington. Cho đến lúc ấy, ông Bill và cô Monica đã có quan hệ tình dục khoảng sáu tuần lễ. Ông mời Monica đến gặp ông chiều hôm đó tại Phòng Bầu dục, nơi ông đang làm việc.

Monica mê mệt khi nghĩ tới “cuộc hẹn hò đầu tiên” của mình với ngài Tổng thống lại diễn ra trong Phòng Bầu dục. Họ cùng nhau trải qua khoảng ba mươi phút trong phòng vệ sinh của tổng thống, nơi cô thực hiện cho ông một màn khẩu dâm.

Chưa đầy một tuần lễ sau đó, Hillary trở về thăm trường cũ, Đại học Wellesley, vào ngày 19 tháng 1, để nói chuyện về niềm đam mê suốt đời của bà đối với những vấn đề liên quan đến trẻ em. Trong lời giới thiệu Đệ nhất Phu nhân với cử tọa tại một khán phòng đầy người đứng nghe, chủ tịch của trường Wellesley, bà Diana Chapman Walsh, nhắc nhở cho mọi người biết rằng hai mươi bảy năm về trước, Hillary đã dẫn đầu các bạn học “lao mình vào cơn hỗn loạn.” Chuyến trở về thăm ngôi trường đại học nữ thanh bình bên bờ hồ Waban sẽ đánh dấu điểm bắt đầu một tuần lễ hỗn loạn sắp xảy ra của Hillary, một tuần lễ mà bà bị đẩy tới tận cùng nỗi đau.

SÁNG SỚM NGÀY THỨ SÁU ĐÓ, các luật sư của Đệ nhất Phu nhân ở Washington được chưởng lý độc lập thông báo rằng, bà bị triệu tập ra trước Đại bồi thẩm đoàn vì có liên can tới những phát hiện mới đây trong Nhà Trắng về các bản tính tiền của công ty luật mà ngày xưa bà làm việc. Bà Carolyn Huber, một trợ lý lâu năm của Hillary, nói rằng lần đầu tiên bà phát hiện được các bản kê đó là vào tháng 8 năm 1995, trong căn phòng số 319A, tại khu dinh thự riêng của Nhà Trắng. Các tài liệu này cho thấy số giờ làm việc mà hồi một thập niên trước Hillary đã gửi hóa đơn đòi thanh toán tới ngân hàng Madison Guaranty; cái định chế tài chính đã sụp đổ này là trung tâm cuộc điều tra của văn phòng chưởng lý độc lập. Không hiểu rõ ý nghĩa của các giấy tờ này, bà Hubert đã đặt chúng vào một chiếc hộp trong văn phòng của mình ở Cánh Đông và không xem xét chúng lần nào nữa cho tới tháng 1 năm 1996. Những cuộc tìm kiếm trước đó đã không xác định được chỗ cất các tài liệu này.

Yêu cầu của chưởng lý độc lập Kenneth Starr, đòi Hillary phải trình diện trước đại bồi thẩm đoàn, là chưa hề có tiền lệ đối với một Đệ nhất Phu nhân; nó báo hiệu một sự chuyển dịch ngoạn mục trong chiến thuật của nhóm ông ta. Những cuộc thẩm vấn bà Hillary mà Kenneth Starr tiến hành trước đó đều diễn ra tại Nhà Trắng, không có sự tham dự của báo chí. Hillary nhớ lại, “Lần này sẽ không có sự cung khai thầm lặng như ở Nhà Trắng.”

Các luật sư của bà đòi thay đổi địa điểm. Nhưng “Starr khăng khăng đòi triệu tập tôi ra tòa án,” bà nói. Starr và những người phó của ông đề nghị cho phép bà Hillary vào tòa bằng cửa sau như một cách tránh né những ống kính truyền hình. Nhưng Hillary phản đối đề nghị này bởi vì bà cho rằng như vậy “làm cho tôi có vẻ như có điều gì đó cần che giấu.”

Tâm trạng của Hillary càng thêm nặng nề vì một sự cố khác liên quan tới vụ Whitewater. Đầu tuần lễ đó bà đã xuất hiện trong chương trình trò chuyện của Diane Rehm trên Đài phát thanh Công cộng Quốc gia. Rehm hỏi bà về một khuyến nghị năm 1993 của David Gergen, một phụ tá trong Nhà Trắng, về việc bàn giao những tài liệu có liên quan tới vụ Whitewater cho các phóng viên của tờ Washington Post, một đề nghị mà lúc ấy Hillary đã bác bỏ. Hillary đáp: “Chúng tôi thực ra đã làm việc đó với tờ New York Times. Chúng tôi giao tất cả những tài liệu mà mình có, và một lần nữa tôi phải nói rằng, không có nhiều lắm. Chúng tôi đã bàn giao tất cả.”

Trong nội bộ Nhà Trắng, các phụ tá biết rằng nhận xét của Hillary là không chính xác; trong thực tế, tờ New York Times không nhận được nhiều tài liệu cho lắm. Một phụ tá cho biết, “Tất cả chúng tôi đều biết những lời bà Hillary nói là không đúng sự thật.” Một nhân viên giúp chỉnh sửa bản ghi chép đã không nhận nhiệm vụ. “Tôi tưởng đâu mình bị đuổi việc rồi chớ,” anh nhớ lại, sau khi Hillary “điên tiết lên” và dập máy điện thoại đang nói dở với một nhân viên dưới quyền nào đó đang xử lý vấn đề này.

Cuối cùng thì Jane Sherbune, luật sư của Nhà Trắng, gọi cho Hillary để thu xếp chuyện này. Đệ nhất Phu nhân bèn trút hết nỗi bực dọc của bà. “Tôi không thể chịu đựng chuyện này thêm được nữa,” bà nói. “Làm sao tôi có thể tiếp tục được chứ? Làm sao?”

KẾT CỤC, một luật sư khác của Nhà Trắng phát ra một bản chấp nhận một phần lỗi lầm. Thông cáo nói rằng Hillary “đã nhầm lẫn khi nói rằng tờ New York Times được cung cấp quyền tiếp cận toàn bộ hồ sơ tài liệu liên quan tới vụ Whitewater mà ban vận động bầu cử năm 1992 nắm giữ.” Ngoài ra, bản thông báo cũng nói rằng, các nhân viên vận động bầu cử chứ không phải bà Hillary, đã giữ lại các tài liệu ấy. Bà Hillary, người gần như không bao giờ thừa nhận công khai lỗi lầm của mình vì sợ các đối thủ có thêm vũ khí, đã không chịu nhân nhượng vào một thời điểm nghiệt ngã như vậy trong cuộc chiến giữa bà và Kenneth Starr.

Bản thông cáo nói tiếp, Hillary “tin rằng ban vận động bầu cử đã chuyển giao tất cả tài liệu,” nhưng “sau đó bà được biết rằng ban vận động bầu cử đã không cung cấp cho các nhà báo một số bản ghi chép nào đó.” Trong thực tế, chính Hillary đã tích cực can dự vào quyết định năm 1992 nhằm giữ lại một số tài liệu không cho tờ Times biết.

Vào ngày 19 tháng 1 năm 1996, ngày mà Hillary nhận được trát hầu tòa, ngày bà phát biểu tại trường Wellesley, ngày công bố bản thông báo nhận một phần lỗi lầm, sự ủng hộ dành cho Hillary, theo kết quả thăm dò ý kiến, giảm mạnh so với chỉ hai tuần trước đó, từ 59 phần trăm xuống còn 42 phần trăm. Hillary lo ngại rằng bà đang gặp nguy cơ đánh mất “chút tín nhiệm mà tôi còn giữ được.” Nỗi lo lắng của bà hiện hình cụ thể đến nỗi, bà gần như mất ăn mất ngủ trong suốt tuần lễ sau đó, cho đến khi cuộc điều trần hoàn tất.

Vào một ngày mùa đông lạnh lẽo, một tuần sau khi nhận được trát đòi, Hillary xuất hiện trước đại bồi thẩm đoàn. Một giây trước khi bước vào tòa án, bà còn buông một lời châm chọc phá vỡ cái không khí băng giá ở đó: “Xin chào! Tôi ra pháp trường đây!” Bà nói với các luật sư của mình.

Bên trong phòng làm việc của bồi thẩm đoàn, bà giải thích cho các bồi thẩm viên (đa số là phụ nữ và người Mỹ gốc Phi châu) cùng các luật sư thuộc văn phòng chưởng lý độc lập (đa số là đàn ông và là người da trắng) rằng bà không biết chuyện gì đã xảy ra với các bản kê hóa đơn tính tiền sau khi gia đình bà chuyển từ Little Rock tới thủ đô Washington. Bà cũng nói, bà không biết bằng cách nào mà những bản kê đó lại có trong phòng số 319A. Bà bị hỏi về lời phát biểu chưa bao giờ công bố năm 1992, trong đó bà thừa nhận rằng lẽ ra bà “hoàn toàn không nên dính dáng tới” việc đại diện cho ngân hàng Madison trước các nhà điều tra của tiểu bang.

Sau đó một đám đông các nhà báo chờ đợi Hillary trong bóng tối ngoài cửa tòa. Họ hỏi bà cảm thấy thế nào. Bà đáp: “Thật là một ngày dài dằng dặc!”

Một phóng viên khác phân vân: “Có đúng hôm nay lẽ ra bà phải ở chỗ khác, đúng không?”

“Ồ, có một triệu nơi khác ấy chứ.”

Khi được hỏi về những bản kê hóa đơn đòi thanh toán thất lạc từ lâu mà nay bỗng tìm thấy được, Hillary nói, “Tôi, cũng như mọi người, cũng muốn biết câu trả lời làm thế nào mà những tài liệu này lại xuất hiện sau ngần ấy năm. Tôi đã cố gắng hết sức mình để giúp cho nỗ lực điều tra của họ.”

Cũng giống như họ đã làm trong cuộc họp báo màu hồng, các phóng viên ghi nhận khi đến đại bồi thẩm đoàn Hillary mặc chiếc áo khoác thêu bằng len màu đen, “phía sau lưng trang trí hình một con rồng bằng vàng.” Trang phục của bà làm cho một số nhà bình luận đặt cho bà biệt hiệu là “phu nhân rồng” (the dragon lady), và văn phòng của Hillary phải phát ra một thông báo lưu ý rõ rằng chiếc áo khoác ấy, do bạn của bà là nhà thiết kế Connie Fails ở Little Rock thực hiện, đã từng được Đệ nhất Phu nhân mặc trong các sự kiện đăng quang vào tháng 1 năm 1993.

Sau cuộc điều trần trước tòa, Hillary trở về Nhà Trắng và đi vào Phòng Khánh tiết, nơi ông Bill và con gái Chelsea ôm bà thật chặt. Sau đó ông Bill phóng vội tới một bữa tiệc gây quỹ sang trọng. Khuya hôm đó, sau khi được các luật sư báo cáo lại tình hình trong ngày, bà Hillary lên lầu nghỉ ngơi trong khu dinh thự riêng và lập tức rơi vào một nỗi cô đơn sâu sắc. Bà không ngờ sự việc lại xảy ra như thế. Tối hôm ấy, khi Thượng nghị sĩ Chris Dodd gọi điện bày tỏ sự ủng hộ và hỏi bà cảm thấy như thế nào, Hillary bảo rằng ông là người duy nhất gọi điện cho bà.

ChưỞng lý đỘc lẬpkhông bao giờ kết tội ai vì liên quan đến việc chậm trễ đưa ra những tài liệu pháp lý. Nhưng câu chuyện dài về những bản kê hóa đơn tính tiền bị thất lạc đã đánh dấu một điểm chuyển biến trong cái cách mà gia đình Clinton và chưởng lý Kenneth Starr nhìn về nhau.

Các công tố viên nghi ngờ chuyện tại sao những tài liệu bị truy tìm suốt mười chín tháng bỗng dưng lại lộ ra. Mặc dù Hillary thú nhận mình không biết gì về chuyện đó, nỗi nghi ngờ của Starr vẫn ngày càng thêm sâu sắc, bởi vì, cùng với nhiều chuyện khác, cuộc điều tra của ông đã tìm ra ba nhân viên trong Nhà Trắng từng nhìn thấy Hillary mang một chiếc hộp giấy, có lẽ chứa đựng những bản tính tiền đó, lên tầng ba khu dinh thự vào tháng 7 năm 1995. Nhưng trong đội ngũ nhân viên của Hillary cũng có những nỗi nghi ngờ. Một luật sư của Nhà Trắng nói, bà bắt đầu nhìn Starr không phải như một người tìm kiếm sự thật mà là một người “chăm chăm làm hại” Hillary.

Vào một buổi chiều muộn một ngày thứ sáu lạnh lẽo, tháng 1 năm 1996, các phóng viên báo chí được tiếp cận bản sao của 116 trang bản kê hóa đơn tính tiền đó tại văn phòng các luật sư của Hillary tại Washington. Các phóng viên có rất ít thời gian để phân tích các bản kê – cuối cùng đây lại là một điều bất lợi cho vợ chồng Clinton, bởi vì diễn tiến sau này cho thấy những ghi nhận đầu tiên của báo chí đã đóng khung vấn đề này cho nhiều năm tiếp theo.

Trên bề mặt, các bản kê này cho thấy bà Hillary đã tính tiền sáu mươi giờ làm việc cho Madison vào các năm 1985 và 1986. Tiền công của bà dao động trong khoảng từ 125 đôla đến 140 đôla mỗi giờ. Phần lớn thời gian làm việc này có liên quan tới một dự án xây dựng bất động sản do Madison hỗ trợ mà các bản ghi chép gọi là IDC, nhưng người ta thường biết tới nó dưới tên Castle Grande. Hillary đã được trả công cho mười bốn cuộc hội đàm với Seth Ward, nhân vật chính của dự án bất động sản đó. Những người ủng hộ bà giải thích rằng các bản kê này cho thấy bình quân bà làm việc mỗi tuần bốn tiếng đồng hồ trong một thời kỳ kéo dài mười lăm tháng, là phù hợp với sự hồi tưởng mà Hillary đã nói từ lâu, rằng bà chỉ là có tí ti việc cho Madison.

Nhưng các nhà phê bình của Đảng Cộng hòa nhìn thấy các bản kê này mâu thuẫn trực tiếp với những phát biểu trước đây của bà rằng bà có liên quan rất ít hoặc không liên quan gì, nhất là trong quan hệ với các vụ chuyển ngân liên quan tới ông Ward và dự án Castle Grande. Đối với họ, các bản kê bộc lộ việc Hillary phân bổ lịch làm việc đều đặn mỗi tuần một nửa ngày trong suốt thời gian một năm rưỡi.

Trong khi đó, báo chí, trong hàng trăm bài viết, lại tập trung vào việc Hillary tính tiền cho Seth Ward và IDC, một phần vì những vụ chuyển ngân của dự án Castle Grande, nhất là các vụ liên quan tới ông Ward, đã nhanh chóng bị phát hiện là những động tác giả nhằm che mắt các thanh tra ngân hàng, giấu giếm việc Madison vi phạm các quy định về cho vay của liên bang.

Những bản kê hóa đơn đòi thanh toán này có vẻ như kết nối bà Hillary không chỉ với một khách hàng nhiều phiền toái là ngân hàng Madison mà cả với một vụ chuyển ngân có vấn đề – dự án bất động sản Castle Grande. Mối quan hệ này nuôi dưỡng nỗi nghi ngờ trong các công tố viên của Kenneth Starr về động cơ thật sự trong việc loại bỏ các bản kê này khỏi hồ sơ lưu trữ ban đầu của hãng luật Rose và tại sao trong một thời gian dài các điều tra viên không tiếp cận được chúng.

Cuộc điều tra một phần bị sa lầy trong chuyện từ ngữ. Những người bảo vệ Hillary nói rằng bà chỉ nhớ vấn đề này là vụ IDC như tiêu đề ghi trên các bản kê hóa đơn, vì thế điều dễ hiểu là khi được các điều tra viên hỏi về chuyện Castle Grande thì bà không tài nào nhớ nổi. Nhưng còn có một khả năng khác: bà Hillary đã không (hoặc đã không thể) thực hiện một số công việc bà đã được trả công. Khi nhìn kỹ vấn đề có thể thấy rằng các hóa đơn tính tiền của bà đã không được ghi chép cẩn thận, không chính xác, dù rằng rất nhỏ nhặt. Từ đó có thể thấy rằng Hillary không phạm tội tạo điều kiện hỗ trợ cho các vụ chuyển ngân bất chính – bà chỉ có lỗi là làm ít công việc hơn lượng công việc mà bà được trả tiền.

Hillary từng ghi bổ sung một khoảng thời gian làm việc cho Madison, 14 giờ rưỡi, vào hóa đơn tính tiền của hãng luật, bằng chính chữ viết tay của bà mà không kèm theo tài liệu chứng minh hoặc lời giải thích nào. Khi được các công tố viên hỏi về “khoảng thời gian bổ sung” được viết thêm bằng tay này, bà khai rằng nó chỉ xảy ra một lần duy nhất “bởi vì tôi không phải lúc nào cũng lưu giữ các hóa đơn và không phải lúc nào cũng có mặt ở văn phòng.” Trong một thông báo nội bộ, các điều tra viên nói rằng họ “không thể tái lập lại căn bản (nếu có) cho khoản gia tăng 1.818,75 đôla của bà Clinton” trong hóa đơn của bà; và vào thập niên 1980, Hillary, cũng như các cộng sự khác tại hãng luật, được tự do tính tiền khách hàng. (Hãng luật Rose rất tự hào về cung cách làm việc hợp đạo đức của mình, chỉ siết chặt các thủ tục sau khi vụ lừa đảo của Hubbell bị phanh phui vào năm 1993.)

Trong hai khoản mục khác, bà Hillary cũng gia tăng chút ít số giờ làm việc có tính tiền qua các ghi chú bổ sung viết tay. Bà giải thích rằng thư ký của hãng luật dường như đã quên nhập dữ liệu về số giờ làm việc và bà chỉ chỉnh sửa bản tính tiền cho phù hợp mà thôi. Bà Hillary cũng tính tiền những cuộc họp và thảo luận mà những người khác không nhớ hoặc nói là không xảy ra. Hillary đã tính tiền mười bốn cuộc thảo luận với Seth Ward liên quan tới Madison nhưng Ward không nhớ có bất kỳ cuộc họp nào với Hillary cho dù ông quen biết bà và nhớ rõ những vụ giao dịch pháp lý khác với bà được thể hiện trong phiếu tính tiền. Bà cũng đã tính tiền vài cuộc họp khác với các luật sư khác của hãng Rose nhưng các luật sư đó lại không tính tiền các cuộc họp đó trong lịch chấm công của họ. Trong một quyền chọn lựa kinh doanh bất động sản liên quan tới vụ Castle Grande mà Hillary tính tiền hai giờ làm việc, bà đã sử dụng sai bản miêu tả pháp lý cho bất động sản đó và nó chỉ được sửa chữa sau khi sai sót của bà được những người khác phát hiện.

Ngày 25 tháng 4 năm 1998, khi các công tố viên của văn phòng chưởng lý độc lập hỏi Hillary về việc bà tính tiền từ ngày 1 tháng 5 năm 1986 để chuẩn bị cho quyền chọn lựa kinh doanh bất động sản nói trên, bà đã lảng tránh để làm giảm thiểu vai trò của mình. “Tôi không nghĩ rằng tôi đã thảo ra bản thỏa thuận chọn lựa đó,” bà khai.

“Nhưng bà đã tính tiền cho việc làm đó,” một công tố viên vặn lại.

“Nó, nó được tính tiền. Điều đó là đúng, cùng với một số hoạt động khác nữa trong hai giờ làm việc… Tôi không nghĩ rằng mình đã thảo ra cái thỏa thuận chọn lựa này từ đầu đến cuối. Đó không phải là việc mà tôi làm,” Hillary đáp.

Vào năm 1997, ý nghĩ rằng Hillary đã không làm hết tất cả những công việc mà bà tính tiền, đã được nhiều phụ tá của Starr và ngay cả một số thành viên trong tập thể pháp lý của Hillary lặng lẽ thừa nhận.

“Hillary muốn có sự công nhận lệ phí để bà hợp thức hóa phiếu tính tiền”, kể cả “đặc biệt là dự án Castle Grande,” vào lúc đó một công tố viên của Starr giải thích như vậy. “Nhưng Hillary cũng không thể thừa nhận rằng bà không làm các công việc đã nêu,” bởi vì nó sẽ xói mòn hình ảnh của bà trước công chúng lâu nay như một luật sư doanh nghiệp hàng đầu. Tuy không an ủi được Hillary, sự thật “rất có vẻ thật” trong trường hợp này cũng đã làm dấy lên nỗi nghi ngờ về nhiều giả thuyết tội phạm mà trong nhiều năm qua các điều tra viên và báo chí vẫn theo đuổi. Những hành vi có vẻ như thiếu khôn ngoan của bà nhìn chung khá khiêm tốn, nhưng vụ tai tiếng sinh ra từ nỗ lực che giấu tội lỗi trong quá khứ của bà thì quả là to.

JIM MCDOUGAL BẮT ĐẦU hợp tác với Starr sau khi ông ta bị kết tội lừa đảo trong một phiên xử của bồi thẩm đoàn năm 1996 tại Little Rock, và đề nghị với các điều tra viên rằng những bản kê hóa đơn tại hãng luật Rose là không chính xác. McDougal bảo các nhà điều tra rằng Ward chưa lần nào đề cập với ông về bất cứ cuộc thảo luận nào với bà Hillary về các vấn đề của dự án IDC. Hơn thế nữa, “Hillary Clinton không thể nào xử lý vấn đề quyền lựa chọn vì bà ấy không hiểu biết gì về chuyện đó,” ông McDougal nói.

Khi luật sư độc lập thu thập được chứng cớ rằng Hillary đã tính tiền một khách hàng khác nữa cho một công việc mà bà không thực hiện, họ càng tin vào cái khả năng các bản kê hóa đơn của bà đối với Madison đã bị thổi phồng. Các điều tra viên kết luận, “Có thể bà Clinton đã gia tăng khoản tiền ghi trong hóa đơn (thu của Madison) mà không làm thêm bất kỳ công việc nào.” “Có bằng chứng cho thấy bà ấy làm việc đó trong một vấn đề không có liên quan mà hãng Rose đã xử lý.” Chứng cứ này, được thu thập một cách bí mật bởi đại bồi thẩm đoàn, đã không bao giờ được công khai cho dân chúng biết.

Đối với một số nhân vật diều hâu trong văn phòng của Starr, “các bản kê hóa đơn đã đặt bà ấy vào một vụ lừa đảo ngân hàng” hoặc “một vụ chuyển ngân đáng ngờ”, cho nên vụ Castle Grande là “chìa khóa của mọi chuyện.” Nhưng chưa hết, vấn đề những bản kê hóa đơn của bà thực sự chứng tỏ điều gì – là bằng chứng của sự lừa đảo, của việc tính tiền quá mức, hay của việc tính tiền tùy tiện, hoặc thậm chí hoàn toàn không có ý nghĩa gì – là câu hỏi không thể trả lời bởi vì các điều tra viên của cả Starr và Fiske không bao giờ tìm thấy bản chấm công của bà Hillary năm 1985 và 1986 – những năm bà làm việc cho Madison, một cựu điều tra viên giải thích như vậy. Thư ký của Hillary đã lấy bản chấm công của bà ra khỏi hồ sơ lưu trữ vào năm 1992, khi báo chí đặt câu hỏi về công việc của bà, xoay quanh chiến dịch tranh cử tổng thống lần đầu tiên của ông Bill Clinton; và chúng đã biến mất từ ngày đó. Thật vậy, khả năng bà Hillary thổi phồng các hóa đơn của mình chỉ còn là một ghi chú ngắn ngủi trong cuộc điều tra của Starr.

Chẳng bao lâu sau khi bà Hillary bị thẩm vấn có tuyên thệ vào ngày 22 tháng 7 năm 1995, ông Hickman Ewing Jr, – nhân vật hàng đầu trong cuộc điều tra vai trò của Hillary trong vụ Madison, đã tiến hành gặp gỡ một nhóm nhỏ các nhân viên. Ewing tin rằng Hillary đã nói dối nhưng không biết chắc là bà làm như vậy để bảo vệ các điểm bất thường trong các bản kê hóa đơn hay để che giấu một hành vi phạm pháp. Do Hillary đã khai khoảng năm chục lần rằng bà không nhớ lại được, nên ông Ewing bảo nhóm nhân viên này rằng ông ta cho bà “điểm liệt”.

Sự đánh giá của Ewing về thành tích của Đệ nhất Phu nhân, đưa ra tại một nhà hàng có tên là Faded Rose ở Little Rock, đã khiến cho Starr “gần như bị sốc”. Starr thấy Hillary là một người lãnh đạm và xa cách, nhưng ông nghĩ rằng bà ấy đã làm rất khá. Tiếp sau bữa ăn, Starr và Ewing cùng đi dạo bằng xe hơi, trong chuyến đi đó Ewing, nguyên chưởng lý liên bang ở bang Tennessee, đã giảng giải cho Starr về cách thức thích hợp để phỏng vấn nhân chứng.

Starr, năm ấy bốn mươi tám tuổi và trẻ hơn Ewing năm tuổi, nguyên là một thẩm phán tòa án phúc thẩm liên bang và là một cố vấn pháp lý không hề có kinh nghiệm về điều tra. Sự nghiệp của ông thăng tiến qua việc tranh cãi những vấn đề luật lệ và hiến pháp chứ không phải thẩm vấn các nhân chứng. Trong thời gian Starr cặm cụi viết các bài báo thể hiện quan điểm và giành được nhiều giải thưởng, nhiều tiếng tăm, thì Ewing bận rộn với việc truy tố những vụ án hình sự. Mặc dù có những khác biệt như vậy, hai người đàn ông này cùng chia sẻ sự tương đồng về đức tin tôn giáo và một mối dây ràng buộc về ý thức hệ, cả hai đều được Đảng Cộng hòa bổ nhiệm vào các chức vụ liên bang, và cả hai có cùng một quyết tâm làm tới cùng những gì liên quan tới gia đình Clinton.

Lý thuyết của Ewing là thế này: Hillary và Hubbell đã công bố “những câu chuyện không chính xác” về công việc pháp lý của Hillary tại Madison năm 1992 khi vấn đề lộ ra trong chiến dịch tranh cử tổng thống của ông Bill. Lúc ấy họ “vướng” vào những lời khai đầy lầm lẫn khi bị các điều tra viên cật vấn trong các buổi điều trần có tuyên thệ, kết quả là họ lại đưa ra thêm nhiều sai sót lớn hơn nữa.

Tuy nhiên, việc đưa cho báo chí những câu chuyện không chính xác và lặp lại chúng sau khi tuyên thệ không phải là một tội trừ khi người ta chứng minh được những câu chuyện đó đã bị làm sai đi một cách có chủ ý – đó là một trong những trở ngại mà Ewing không vượt qua được.

Trong lúc Starr tiến dần tới quyết định có nên truy tố bà Hillary hay không, những bản kê hóa đơn bỗng trở nên quan trọng đối với các điều tra viên bởi vì chúng “cho thấy Hillary Clinton đã làm nhiều công tác cho Madison Guaranty hơn những gì họ biết trước đây”. (Một lần nữa Hillary lại bị giăng bẫy, nếu như bà thừa nhận mình đã không làm công việc đó, bà sẽ được giải thoát khỏi một trường hợp nhưng lại tự đặt mình vào một vấn đề khác hoàn toàn mới.) Ngoài ra, các bản kê cho thấy các điều tra viên đã không hay biết về sự tham gia rõ ràng của bà Hillary trong các vụ chuyển ngân liên quan tới Castle Grande.

Đội ngũ phòng vệ pháp lý của gia đình Clinton cũng đã nghiền ngẫm các bản kê hóa đơn. Về mặt công khai, họ luôn luôn duy trì quan điểm rằng các bản kê hóa đơn này chứng tỏ Hillary không có lỗi, bà đã không làm gì sai quấy; trong lúc đó nơi chốn riêng tư, một vài thành viên trong đội phòng vệ pháp lý của bà lại có những quan điểm có phần khác biệt: các hóa đơn yêu cầu thanh toán cho thấy chúng đã bị kê khống lên một chút, nhưng đây là việc làm có sự chấp thuận đầy hiểu biết của ông McDougal, người thuê bà Hillary lúc đó.

Một thành viên trong nhóm pháp lý của Clinton nói, “McDougal biết những hóa đơn này bị kê khống. Có những bằng chứng dạng tài liệu chứng minh nhưng ông McDougal không thể thú nhận điều đó.” Sở dĩ như vậy vì McDougal thuê bà Hillary làm việc là để làm vui lòng Bill Clinton, và ông ta muốn nhắm mắt trước việc bà Hillary kê khống hóa đơn tính tiền, coi đó như là một phần ân huệ mà ông dành cho ngài Thống đốc Clinton. Trong bất cứ trường hợp nào các luật sư của Hillary cũng không bào giờ quan tâm quá nhiều vào những gì McDougal sẽ nói: độ khả tín của ông ta đã không còn nữa ngay cả trước khi ông ta bị kết án mười tám tội danh về lừa đảo và gian dối. Chính con đường đi của hồ sơ tài liệu mới là điều họ quan tâm.

GiỮa tẤt cẢ nhỮng sỰ viỆc này, Hillary bắt đầu suy tính về tương lai chính trị của chính bà, có thể là từ Thượng viện. Bà thấy việc trở thành một thượng nghị sĩ là công việc dân cử danh giá nhất ở Washington, chỉ sau tổng thống, và nó có thể làm bệ phóng đưa bà vào Nhà Trắng. Vì bang Illinois đã không còn là quê hương của bà sau ngày bà tốt nghiệp trung học – và bà chưa bao giờ cảm thấy thoải mái khi sống ở Arkansas – nên bà cần phải “đăng ký” một tiểu bang để từ đó ra tranh cử. Ngay từ tháng 3 năm 1996, bang New York đã tỏ ra là một nơi có sức mời gọi mạnh mẽ và có tư tưởng rộng mở thông thoáng.

Một người bạn của Hillary, ông Sid Blumenthal, nguyên là phóng viên thường trú của tờ The New Yorker tại Washington, sau đó gia nhập Nhà Trắng như là một phụ tá của tổng thống và trở thành một người tin cẩn của Hillary, đã đề nghị Đệ nhất Phu nhân nên đi thăm khu Manhattan. Blumenthal bảo đảm với bà rằng, chuyến đi sẽ là một khoảng thời gian thư giãn thật tự do, tránh xa thủ đô đang điên loạn vì các vụ tai tiếng và lộn xộn. Một bữa cơm trưa vinh danh bà Hillary được tổ chức tại Hiệp hội Thế kỷ ở New York vào ngày 19 tháng 3 năm 1996. Vài chục nhà văn, nhà báo từ các tạp chí có nhiều ảnh hưởng và nhiều nhà xuất bản đã đến dự. Bà Hillary đến không phải với những lời nói đã chuẩn bị sẵn, thay vì vậy bà thích trả lời hàng loạt câu hỏi về nhiều đề tài khác nhau mà những người có mặt đưa ra. (Không ai bàn luận về đám mây đen đang treo lơ lửng trên số phận của bà Hillary cho đến khi chính ông Sid nhẹ nhàng nêu lên vấn đề Whitewater vào lúc gần kết thúc bữa chiêu đãi. Theo hồi tưởng của ông Blumenthal, bà Hillary đã “nói một cách thành thật”, giải thích sự trống rỗng của vụ Whitewater.) Buổi đón tiếp đó quả thực là nồng ấm.

Blumenthal nói rằng ngày hôm ấy ở New York đã bắt đầu làm thay đổi cách nhìn nhận của bà Hillary về một tiểu bang từng làm bà thất vọng trong kỳ bầu cử sơ bộ chọn ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ vào năm 1992. Bà bắt đầu nhìn thấy New York như một nơi mà người dân đủ khôn ngoan để từ chối hình ảnh của bà do báo chí dựng lên và chấp nhận bà theo chính ngôn ngữ của bà. Blumenthal tin rằng chỉ một ngày ở Manhattan đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với Hillary, đến mức nó đã góp phần vào “bước đi đầu tiên nhưng cốt tử trên con đường đưa bà đến quyết định ra ứng cử thượng nghị sĩ ngay tại tiểu bang này”.

Hillary đã hình dung trong đầu tương lai đó khi bà chuẩn bị cho bài diễn văn tại Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ tổ chức ở Chicago vào cuối tháng 8 năm 1996. Bà biết, người nữ anh hùng của bà, bà Eleanor Roosevelt, đã từng là vị Đệ nhất Phu nhân đầu tiên đọc diễn văn trước đại hội toàn quốc của một đảng chính trị; nhưng chuyện đó xảy ra vào năm 1940, rất lâu trước khi các máy quay phim truyền hình trở thành vật thiết yếu cho những cuộc hội họp như vậy. Và mặc dù suốt bốn năm qua bà chưa bao giờ bước ra khỏi sự quan tâm của công chúng, Hillary vẫn coi việc đọc diễn văn này là cơ hội lớn đầu tiên của bà để nói chuyện trực tiếp với nhân dân Mỹ. Đây sẽ là thời khắc của bà, dưới ánh đèn pha của dư luận và không qua một bộ lọc nào. Đại hội này là của ông Bill, chắc chắn là như vậy, nhưng bài diễn văn chính là cơ hội để bà tỏa sáng.

Tuy vậy, bà không biết chắc mình nên nói gì, tình trạng cũng hệt như lúc bà chuẩn bị đọc diễn văn trong lễ tốt nghiệp ở trường Đại học Wellesley. Bà không hài lòng với bài văn đã được chuẩn bị sẵn, còn ông Bill, đang đi cùng với Chelsea trên chuyến tàu lửa từ Tây Virginia đến Chicago, thì không có mặt ở đó để đưa ra cho bà một lời khuyên nhủ thông minh và lời động viên như thường lệ.

Vào buổi sáng ngày đọc diễn văn, Hillary kinh hoảng thật sự. Bà không biết phải nói gì, và thần kinh của bà căng thẳng đến rã rời. Trong lúc đầu óc quay cuồng, bà cố nắm lấy vài câu nói mà ứng cử viên của Đảng Cộng hòa, ông Bob Dole, vừa phát biểu trong đại hội của đảng ông ấy diễn ra hồi đầu tháng. Ông Dole đã vụng về tấn công vào cuốn sách của Hillary, cuốn Cần một ngôi làng, khi nói rằng cái làng trong nhan đề cuốn sách là để ám chỉ “nhà nước”. Vị thượng nghị sĩ bang Kansas rõ ràng đã không nắm được lập luận chính của cuốn sách, rằng gia đình phải chịu trách nhiệm tối hậu về con cái mình, trong khi “làng” – ám chỉ toàn xã hội, chia sẻ “trách nhiệm về văn hóa, kinh tế và môi trường trong đó lớp trẻ được nuôi dưỡng.”

Lời phê phán của Dole trở thành cảm hứng của Hillary. Tối hôm ấy, gần hai mươi ngàn đại biểu, khách mời và báo chí tập trung ở nhà thi đấu thể thao. Hàng triệu người dân Mỹ theo dõi qua truyền hình. Khi Hillary bước lên diễn đàn, bà hết sức lo lắng, nhưng đám đông đã chào đón bà bằng những tràng vỗ tay nhiệt liệt. Trong cuốn tự truyện của mình, Hillary kể lại: “Tôi ra dấu cho đám đông ngồi xuống nhưng vô ích, vì thế tôi chỉ đứng vẫy tay và để cho làn sóng hoan hô tràn qua mình.” Bà bắt đầu nói về Chelsea, mùa thu này cô bé chuẩn bị lên lớp mười hai ở trường trung học Sidwell Friends. Sau đó bà trực tiếp bác bỏ lập luận của Bob Dole; bà nói rằng, đúng rồi, chính bà và ông Bill đã phải nuôi dưỡng Chelsea. Nhưng việc nuôi dưỡng một con người cần nhiều thứ hơn thế. Bà nói, “Cần có thầy cô giáo. Cần có các linh mục. Cần có các doanh nhân. Cần có những nhà lãnh đạo cộng đồng. Cần có những người bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của chúng ta. Cần có tất cả chúng ta… Vâng, cần có cả một làng. Và cần có một tổng thống. Cần có một tổng thống biết tin vào không chỉ tiềm năng của đứa con ruột của mình mà tiềm năng của tất cả mọi đứa trẻ, không chỉ tin vào sức mạnh của gia đình mình mà vào sức mạnh của một gia đình Mỹ.

“Cần có Bill Clinton!”

Đám đông gào lên tán thưởng. Sau đó Hillary cảm thấy dường như mình đã kết nối được với cử tọa và với người dân Mỹ trên khắp đất nước. Đã mất một thời gian dài, bà chỉ đứng bên cạnh người mà cử tọa yêu mến. Giờ đây bà là người họ đang hoan hô. Đó là một sức đẩy không giống sức đẩy nào khác. Nhiều năm sau, một người bạn của bà nhớ lại, “Tôi biết bà ấy đã bị mê hoặc. Tôi có thể nói bà ấy muốn nghe đi nghe lại những lời tung hô đó.”

Tháng MưỜi mỘt năm Ấy, Bill Clinton tái tranh cử tổng thống và ông dễ dàng đánh bại nghị sĩ Bob Dole với hơn 8 phần trăm phiếu trên toàn quốc. Hillary lập tức bắt đầu hình dung viễn cảnh về vai trò của bà trong nhiệm kỳ thứ hai của ông Bill, một vai trò xuất hiện nhiều hơn nhưng ít tích cực hơn trong hậu trường; đáng chú ý là bà muốn “bày tỏ công khai để giúp định hình chính sách của Nhà Trắng trong những vấn đề ảnh hưởng tới phụ nữ, trẻ em và gia đình.”

Năm đầu tiên của nhiệm kỳ hai là thời gian có nhiều “scandal ngụy tạo”, như sau này Hillary nhớ lại. Các đội quân báo chí ở Washington tập trung vào sự vượt quá giới hạn trong hoạt động gây quỹ của vợ chồng Clinton – đáng chú ý là việc mời những người đóng góp lớn vào chiến dịch tranh cử nghỉ qua đêm tại phòng khách Lincoln hoặc việc bán cà phê của Nhà Trắng cho những nhà tài trợ chính trị. Đây cũng là năm có nhiều đám tang công nương Diana và mẹ Teresa đều qua đời, chỉ cách nhau vài tuần lễ vào cuối mùa hè năm ấy và Hillary tham dự cả hai lễ tang.

Nhưng đối với Hillary không gì đau khổ hơn là việc Chelsea ra đi khỏi Nhà Trắng. Vào tháng 9 năm 1997, Chelsea vào học năm thứ nhất trường Đại học Stanford và trở thành thành viên khóa học sẽ ra trường năm 2001. Hillary lùng sục các cửa hiệu mua sắm đồ dùng cho chuyến đi học xa của cô con gái. Sau khi gia đình Clinton đến Palo Alto, California, họ giúp Chelsea tổ chức lại căn phòng ở trong khu nội trú mà xem ra quá chật chội với những chiếc giường xếp, hai cái bàn, hai chiếc tủ áo. Ông Bill có vẻ buồn bã, cứ nằng nặc đòi mang hành lý của Chelsea lên phòng và giúp cô bé dùng cờ-lê tháo chiếc giường xếp. Vào cuối buổi chiều, đến lúc cha mẹ phải nói lời chia tay.

“Con nói sao? Đến lúc phải đi rồi à? Ba mẹ phải về thật rồi à? Sau bữa tối ba mẹ không quay lại được sao?”, ông Bill nói với giọng hoảng hốt.

Tháng sau đó, Hillary lên tuổi năm mươi, nhưng bà bận rộn đến mức không chú ý đến việc tổ chức lễ lạt, Hillary và các bạn bà đều nói vậy. Bà vẫn còn choáng váng bởi sự vắng mặt của Chelsea. Hillary bảo bạn bè rằng, từ lúc Chelsea ra đi, Nhà Trắng không còn như trước nữa.

Trong suốt thời gian gia đình Clinton sống ở Washington, Hillary luôn cố gắng dành thời gian cho con gái. Chelsea đã cùng mẹ tham gia nhiều chuyến công du chính thức. Cô bé cũng từng là điểm cân bằng của cha mẹ trong những vụ tấn công và tai tiếng. Và giờ đây cô bé đang ở bờ bên kia của nước Mỹ.

Sau ngày đầu năm năm 1998, Bill và Hillary đến St. Thomas trên quần đảo Virgin Islands thuộc nước Mỹ để nghỉ ngơi trong một chuyến du lịch bốn ngày. Trong một căn nhà nhìn ra vịnh Magens, cả gia đình Bill, Hillary và Chelsea thư giãn, chơi bài, bơi lội, chạy bộ, đạp xe đạp, đọc sách và chơi trò ghép hình. Ông Bill đi đánh golf trong lúc bà Hillary và Chelsea dạo các cửa tiệm địa phương. Giữa kỳ nghỉ, có lần ông Bill và bà Hillary ra bãi biển để bơi.

Một tay săn ảnh của hãng thông tấn Pháp Agence France-Presse nấp sẵn trong một bụi cây trên bãi biển công cộng nhìn ra vịnh. Với ống kính “tê-lê”, anh ta đã chụp được hình ảnh một khoảnh khắc riêng tư, không phòng vệ và thoải mái giữa ông Bill và bà Hillary khi họ cười đùa và ôm nhau. Tấm ảnh được đăng lên báo khắp thế giới. Mike McCurry, thư ký báo chí của Nhà Trắng, chửi bới thậm tệ tay nhiếp ảnh về tội xâm phạm sự riêng tư của gia đình Clinton và bức ảnh cũng đồng thời làm bật lên những vấn đề về bảo vệ an ninh.

Một vài nhà bình luận nghĩ rằng vợ chồng Clinton cố tình dàn dựng bức ảnh với hy vọng nó sẽ xóa tan những hoài nghi về sức mạnh cuộc hôn nhân của họ. Nhưng Hillary thì nghĩ khác. Bà nói: “Thế à? Hãy làm ơn chỉ cho tôi bất kỳ người phụ nữ tuổi năm mươi nào cố tình mặc áo tắm để chụp hình, mà còn quay lưng lại ống kính nữa chứ!”

Cho dù khoảnh khắc đó là bất ngờ và không phòng vệ đi nữa, đây cũng là một trong những khoảnh khắc cuối cùng mà ông Bill và Hillary chia sẻ cùng nhau ở nơi công cộng trong một thời gian rất dài. Chỉ vài tuần sau lần ôm ấp đầy vui vẻ ở St. Thomas, Hillary sẽ phải xem xét khả năng chia tay với ông Bill mãi mãi.

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.