Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Ảnh Hưởng

❊ ❊ ❊

TRONG PHẦN LỚN LỊCH SỬ NƯỚC MỸ, thế giới của một nữ luật sư là một thế giới đơn côi. Tại những trường luật hàng đầu, trong suốt thập niên 1960, người ta thấy rõ sự hoài nghi về giới tính, mặc dù vấn đề này được phủ nhận thường xuyên và công khai. Ngay cả vào năm 1973, năm mà Hillary tốt nghiệp trường luật của Đại học Yale, bà là một trong số 29 nữ sinh viên tốt nghiệp trong một khóa học có tới 178 sinh viên. Trên toàn quốc, phụ nữ chiếm một tỷ lệ còn nhỏ hơn trong số những người tốt nghiệp trường luật, khoảng 7%. Cho đến cuối thập niên 1970, tỷ lệ các nữ luật sư đang hành nghề dao động trong khoảng 3%. Còn ở Arkansas, triển vọng của các nữ luật sư còn mờ mịt hơn nữa. Vào những năm cuối thế kỷ 19, hiệp hội luật sư của bang đã cấm phụ nữ tham gia, nghĩa là phụ nữ không thể xuất hiện trước pháp đình với tư cách luật sư. Lệnh cấm này tồn tại bốn mươi bốn năm, cho đến khi nó bị bãi bỏ vào năm 1917.

Trong thập niên 1960 và 1970, khi các bất ổn xã hội thách thức những quy phạm đã hình thành ở khắp nơi, một cuộc cách mạng cũng đã quét qua cộng đồng tư pháp Mỹ. Một trong những nhà tiên phong của cuộc cách mạng đó là bà Brooksley Born, một luật sư trẻ, một cột trụ của công ty luật Arnold và Porter có trụ sở tại Washington. Vào đầu thập niên 1970, Born và một số người khác đã lập ra một ủy ban phụ nữ trong Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ, một hiệp hội mà bà coi là “rất nam tính và do đàn ông cai quản”.

Một nhóm phụ nữ kiên quyết, những người từng đi tiên phong ở trường luật của họ và là một phần của phong trào vận động xã hội rộng lớn, đã đi khắp nước Mỹ, hướng về Washington để mong sự giúp đỡ. Năm 1972, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua hàng loạt tu chính án về giáo dục; một trong các tu chính án đó, tu chính án Title IX, nghiêm cấm sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính ở bậc đại học, kể cả các trường cao học và dạy nghề. Điều luật này nổi tiếng nhờ tạo ra một sự bùng nổ trong việc phụ nữ tham gia vào các hoạt động thể thao trong trường đại học, nhưng chúng cũng đã lặng lẽ thay đổi bộ mặt của ngành tư pháp. (Ví dụ vào năm 2006, tỷ lệ nữ sinh viên ghi tên theo học năm thứ nhất của trường luật Yale đã là 46%).

Nữ luật sư Brooksley Born dành phần lớn thời gian những năm 1970 – đầu 1980 để dẫn đầu cuộc đấu tranh cho các vấn đề của phụ nữ trong hiệp hội luật sư. Thông qua các công việc của ủy ban, bà đã mở đường để Hiệp hội luật sư tiếp thu Điều luật Goal IX vào năm 1986, một nghị quyết có mục đích “khuyến khích các dân tộc thiểu số và phụ nữ tham gia đầy đủ và bình đẳng vào nghề nghiệp.” Tiến trình thông qua nghị quyết này đã bao hàm niềm tin rằng, đã đến lúc một thế hệ mới đứng lên dẫn dắt giai đoạn mới trong nỗ lực này.

Căn cứ vào thành tích hoạt động và khuynh hướng làm lãnh đạo của Hillary, sẽ là chuyện tự nhiên nếu bà đảm nhận vai trò chỉ huy tiến trình này. Nhưng lúc đầu bà rất phân vân trong việc dẫn dắt cuộc chiến đấu chống lại những hạn chế vô hình trong nghề nghiệp.

Một dấu hiệu sau đây cho thấy cuộc cách mạng đã tiến xa tới mức nào: người nài nỉ Hillary tham gia vào tổ chức diễn ra vào nửa cuối năm 1986, là một người ít ai ngờ tới nhất: ông Eugene Thomas, một luật sư bảo thủ thuộc Đảng Cộng hòa đến từ thành phố Boise bang Idaho. Khi ấy ông Thomas là chủ tịch được bầu lên của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ. Để thực hiện Nghị quyết Goal IX, ông Thomas phải tìm một người làm chủ tịch cái ủy ban được lập ra theo nghị quyết này. Ông coi Hillary là một “người lãnh đạo mạnh mẽ và một phụ nữ xuất sắc... Tôi nghĩ đó là người thích hợp nhất,” ông nói.

Nhưng khi Thomas đề nghị Hillary đảm nhiệm chức chủ tịch, bà đã từ chối. Ông ta bực bội với quyết định của bà nhưng ông nói rằng ông hiểu được. Mặc dù Hillary không bao giờ giải thích vì sao bà từ chối đề nghị của Thomas, nhưng ông ta vẫn có cách lý giải riêng của mình: ông muốn Ủy ban này bao quát cả vấn đề phụ nữ và người thiểu số, nhưng nhiều phụ nữ muốn tách ra thành hai lĩnh vực điều tra riêng biệt. Hai mươi năm sau đó ông giải thích: “Nói thật với các bạn, những người lãnh đạo phong trào phụ nữ ở Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ, trong đó có bà ấy, không muốn bị đồng nhất vào trong mớ hổ lốn của Goal Nine.”

Thomas biết Hillary từ khi bà còn làm việc tại tập đoàn Dịch vụ Pháp lý, một công ty do chính phủ liên bang tài trợ, có nhiệm vụ phân phối tiền trợ cấp cho những chương trình cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo. Năm 1977, Tổng thống Carter đã bổ nhiệm bà vào ban điều hành tập đoàn và bà tiếp tục trở thành chủ tịch đầu tiên của nó vào năm sau đó. Hillary đã từng làm việc nhân danh những khách hàng có thu nhập thấp, nhưng những việc bà làm cho ông Carter trong cuộc vận động bầu cử tổng thống năm 1976 đã là nhân tố chủ yếu đằng sau việc bổ nhiệm bà vào ghế chủ tịch.

Một số người Cộng hòa trong Quốc hội nhìn tập đoàn này bằng con mắt hoài nghi; họ tin rằng một số chương trình địa phương của nó đã trượt xa vào các hoạt động chính trị và xã hội. Nhưng Hillary đã giúp cho tập đoàn Dịch vụ Pháp lý được Quốc hội duyệt tăng ngân sách hoạt động. Sau khi Ronald Reagan lên làm tổng thống năm 1981, tập đoàn này đứng trước một tương lai bấp bênh. Khi còn là thống đốc bang California, ông Reagan đã từng cắt khoản ngân sách tài trợ cho chương trình. Thomas đã sử dụng mối quan hệ của ông với các đảng viên Cộng hòa trong Nhà Trắng và trên đồi Capitol để che chắn cho công ty trước những người phản đối quyết liệt nhất. Đó là lý do vì sao một người bảo thủ tại Boise bang Idaho và một người có xu hướng tự do tại Little Rock lại quen biết nhau.

Nhiều năm sau, những người bảo thủ khi viết tiểu sử cho Hillary thường trích dẫn nhiệm kỳ của bà tại tập đoàn Dịch vụ Pháp lý, kết thúc vào năm 1982, như là bằng chứng của chương trình hành động thiên tả của bà. Một trong các tác giả đó gọi những hoạt động của bà là “một cuộc vận động khéo léo từ bên trong” tổ chức để theo đuổi “chủ nghĩa cấp tiến”. Nhưng Hillary coi thường những chiêu bài dễ dãi và thiển cận. Đôi khi bà ủng hộ những lý tưởng mà các luật sư tự do làm việc cho dịch vụ pháp lý này chống lại, chẳng hạn như việc tranh thủ các văn phòng luật sư tư nhân để họ đóng góp nhiều dịch vụ hơn cho người nghèo, thay thế các nhóm phi lợi nhuận. Một thành viên trong ban điều hành công ty sau này trở thành bạn của Hillary, ông Mickey Kantor, thoạt đầu nhìn Hillary như một bà chủ tịch quá đỗi chính thống và thoải mái với địa vị của mình. “Theo quan điểm của tôi, bà ấy rất đỗi ôn hòa. Tôi mới là người nhóm lửa”, Kantor nói.

THẾ RỒI ÔNG BILL dốc sức đương đầu với cuộc tái tranh cử vào năm 1986. Lần này, nhờ những thay đổi trong hiến pháp của bang Arkansas, ông có thể giữ nhiệm kỳ đến bốn năm thay vì hai năm như trước; ông nhìn công việc về giáo dục của Hillary như là một phần quan trọng trong nền tảng của mình.

Cuộc vận động bầu cử năm 1986 là cuộc vận động đầu tiên mà cô bé Chelsea đã đủ lớn khôn để nhận biết. Hillary bảo cô con gái sáu tuổi của mình rằng có thể “người ta sẽ nói những chuyện khủng khiếp” về cha nó, thậm chí có cả “những lời dối trá”. Nhưng thực tế chính người mẹ của Chelsea mới là mục tiêu của các cuộc tấn công dữ dội nhất từ các đối thủ của Bill Clinton.

Sự nghiệp luật sư của Hillary cũng trở thành một trở ngại tạm thời. Đặc biệt, những thắc mắc về thu nhập của bà tại công ty luật Rose và những giao dịch kinh doanh giữa hãng luật với chính quyền bang được các đối thủ của Bill Clinton nêu lên nhiều lần, trước tiên là trong cuộc đề cử đại diện Đảng Dân chủ ra tranh cử và sau đó là trong cuộc tuyển cử chung. Với sự giúp đỡ của Bill, Hillary cố gắng đỡ đạn.

Năm 1984, Ủy ban Dịch vụ Công cộng sa lầy trong một cuộc chiến pháp lý kéo dài và tốn kém, liên quan tới những chi phí mà người đóng thuế ở Arkansas phải gánh chịu cho nhà máy điện hạt nhân, đã ứng tiền trước cho công ty luật Rose giúp đỡ tiến hành vụ kiện. Trong hai năm sau đó, công ty đã ký với Ủy ban Dịch vụ Công cộng năm bản hợp đồng, thu được khoản phí dịch vụ hơn 150.000 đôla.

Vào tháng 9 năm 1986, Frank White, một lần nữa lại trở thành ứng cử viên chức thống đốc bang, bắt đầu phát quảng cáo trên đài phát thanh, cố gắng đặt vấn đề về việc gia đình Clinton đã vi phạm về xung đột quyền lợi bởi vì Hillary là thành viên của một công ty luật mà chính quyền của chồng bà đã thuê mướn. Bill và Frank đã tranh cãi vấn đề này trong một cuộc tranh luận trên truyền hình.

“Số tiền mà chính quyền bang phải trả cho công ty luật Rose đã được trừ ra khỏi thu nhập của công ty, trước khi tính toán lợi nhuận của Hillary với tư cách cộng sự nên bà ấy không hưởng lợi lộc gì từ số tiền đó.” Bill nói. Ông còn chế giễu Frank White khi hỏi, phải chăng ông ta muốn ứng cử làm Đệ nhất Phu nhân thay vì làm thống đốc.

Những cuộc tranh luận này có tiếng vang lớn. Căn cứ vào tỷ lệ phần trăm của Hillary trên lợi nhuận của công ty luật vào lúc đó, giỏi lắm bà chỉ kiếm được vài ngàn đôla từ công việc của mình. Ngoài ra, bản thân Frank White cũng có những xung đột quyền lợi tiềm tàng; ông đã làm việc cho công ty Stephens Inc., một công ty từ lâu đã thống trị việc phát hành trái phiếu của bang. Lời châm chọc của Bill về việc Frank ứng cử làm đệ nhất phu nhân đã gợi ý làm ra những tấm phù hiệu với dòng chữ “Bầu Frank làm đệ nhất phu nhân.” Sau này bà Hillary viết lại rằng, Frank “rất lúng túng khi thực tế cho thấy rằng, các công ty luật khác ở Arkansas cũng đã nhận được từ chính quyền bang nhiều công việc kinh doanh có ý nghĩa trong thời gian Bill làm thống đốc.”

Những người khác thì lặng lẽ phàn nàn. Jim Guy Tucker, một người đối lập lâu năm và là người kế vị Bill làm thống đốc khi ông lên làm tổng thống, nói với các điều tra viên rằng, ông ta và các luật sư khác ở Arkansas tin rằng công ty luật Rose được hưởng những lợi thế không công bằng trong quan hệ với các cơ quan của bang, như là Ủy ban Dịch vụ Công cộng. Trong mắt các cử tri, mối quan hệ này chỉ là chuyện vặt, nhưng sau lần Frank “cắn càn” không thành công năm 1986, Hillary quyết định phải xử lý dứt điểm vấn đề này, một lần và mãi mãi. Việc Hillary trình bày trước công chúng bà đã làm việc như thế nào lại bị hiểu lầm, nếu không nói là đã tiến hành không đúng cách.

Trong cuốn tự truyện của mình, bà viết rằng “Sau khi Bill trở thành thống đốc nhiệm kỳ thứ hai vào năm 1983, tôi đã yêu cầu các cộng sự ở công ty luật tính toán phần lợi nhuận của tôi, không bao gồm bất kỳ khoản phí nào mà các luật sư khác đã nhận, vì đã hoàn thành công việc cho bang hoặc cho các cơ quan của bang.” Một số luật sư hàng đầu của hãng Rose tin rằng chính sách của công ty cách ly Hillary ra khỏi các khoản phí, mà tiểu bang thanh toán thực ra đã được áp dụng vào năm 1979, sau khi Hillary trở thành cộng sự và Bill trở thành thống đốc. Vince Foster, một đồng minh thân cận của Hillary, báo cáo với cuộc vận động tranh cử tổng thống của Bill năm 1992 rằng, “việc tách các khoản phí của bang” “luôn luôn là chính sách của hãng luật”.

Trong thực tế, tài liệu của hãng luật cho thấy Hillary đã không yêu cầu hãng luật tách phần của bà ra khỏi việc kinh doanh với bang, cho đến vài năm sau ngày bà xác nhận trong cuốn sách của mình và chỉ làm điều đó hai tháng sau cuộc tấn công không thành của ông Frank White. Trong một lá thư nội bộ chưa từng được công bố gửi cho các cộng sự của hãng luật Rose, Hillary yêu cầu hãng luật “tách tất cả phí đã nhận được trong năm 1986 và sau này” và phân phối các khoản phí này “để tôi không dính dáng vào chúng, trực tiếp hay gián tiếp.” Lá thư nội bộ này cũng tiết lộ rằng, trong quá khứ bà đã hưởng lợi từ những khoản phí nhận được từ các công việc kinh doanh liên quan tới bang, trong thời gian Bill phục vụ với tư cách thống đốc – một phát hiện trái ngược với suy nghĩ của một số đồng nghiệp của bà. Trong lá thư nội bộ, bà giải thích rằng, sự phê phán của Frank White là không công bằng, vì công ty luật đã làm ăn với chính quyền bang rất lâu, trước khi chồng bà tuyên thệ nhậm chức thống đốc. “Trong lúc tôi không hề thực hiện bất cứ việc kinh doanh nào liên quan tới tiểu bang, và không bao giờ làm bất kỳ việc làm có trả tiền cho bất kỳ cơ quan nào của tiểu bang, tôi không muốn mình bị sử dụng như một lý do để từ chối công ty khỏi những công việc mà công ty có đủ năng lực thực hiện,” bà viết cho các cộng sự như vậy.

Cuối cùng Hillary đã uốn nắn tình hình bằng cách trả lại 12.235,83 đôla bà đã nhận trong khoản phí mà chính quyền bang thanh toán cho công ty luật “trong bất cứ năm nào ông Bill làm thống đốc”. Bà cũng ký một giấy hẹn nợ một khoản khác là 10.510,03 đôla, là phần của bà trong khoản phí dịch vụ tư vấn phát hành mà công ty được hưởng từ việc phát hành trái phiếu của bang.

Trong toàn bộ các sự việc diễn ra trong nhiều năm này, tổng số tiền thực ra rất khiêm tốn. Nhưng vấn đề không chỉ là tiền bạc. Nó làm Hillary khốn khổ khi nghĩ rằng bà bị tấn công bởi người bà lấy làm chồng. Và sự miễn cưỡng của bà khi tiết lộ những sự khó chịu nhỏ này đã trở thành một thói quen lặp đi lặp lại – ở Arkansas và cả ở Washington.

BẤT CHẤP NHỮNG THẮC MẮC ầm ĩ xung quanh vấn đề có bao nhiêu việc Hillary làm tại công ty luật Rose được phát sinh hoặc bị hạn chế bởi sự kiện bà là vợ ông thống đốc, đến năm 1986, tương lai của Hillary quả thật là xán lạn. Bà đã giúp được chồng tái đắc cử vào chức thống đốc. Bà gia nhập vào ban giám đốc tập đoàn bán lẻ Wal-Mart. Và bà trở thành chủ tịch Quỹ Bảo vệ Trẻ em, một nhóm vận động có xu hướng tự do đặt trụ sở tại thủ đô Washington. Vào năm sau đó, năm 1987, bà được bổ nhiệm làm lãnh đạo một ủy ban rất uy tín của quốc gia về phụ nữ trong ngành luật. Bà đã đánh cuộc một cách rõ ràng một công việc gần như toàn thời gian ở Arkansas, để dấn thân vào vũ đài quốc gia rộng lớn hơn nhiều cả về địa lý và hệ tư tưởng.

Vào năm 1987, khi Thomas tái nhậm chức chủ tịch Hiệp hội Luật gia Hoa Kỳ, thì người kế nhiệm ông trong tương lai là Robert Mac Crate, một người Cộng hòa theo xu hướng ôn hòa kiểu Rockefeller. Sinh ra và lớn lên ở khu Brooklyn, New York, trong buổi đầu sự nghiệp của mình Mac Crate làm tư vấn cho thống đốc bang New York là Nelson Rockefeller. Cho đến khi ấy, rõ ràng là sẽ có một ủy ban chuyên nghiên cứu về giới luật sư nữ không bao gồm người thiểu số, được thành lập. Mùa xuân năm ấy, ông Mac Crate chuẩn bị tìm kiếm người làm chủ tịch ủy ban mới này. Trước tiên, ông tìm tới bà Shirley Hufstedler, một cựu thẩm phán liên bang và từng là Bộ trưởng Giáo dục trong chính phủ của Tổng thống Carter. Shirley Hufstedler từ chối. Bà nói, “Bob à, anh cần một phụ nữ trẻ hơn nhiều. Anh cần một người mẫu thực thụ.”

Thế là Mac Crate quay trở lại bàn vẽ của mình. Ông yêu cầu bà Harriet Wilson Ellis, giám đốc văn phòng chủ tịch Hiệp hội, người đã làm việc cho Thomas, đưa ra đề nghị. Bà ta nhanh chóng giới thiệu Hillary.

“Tôi không biết bà ấy,” ông Mac Crate bảo bà Ellis.

“Bà ấy là Đệ nhất Phu nhân bang Arkansas. Tôi đã từng làm việc với bà ấy tại tập đoàn Dịch vụ Pháp lý. Bà ấy sẽ còn tiến rất xa,” Ellis nhận xét.

Chẳng bao lâu sau, ông Mac Crate đồng ý với đề nghị của bà Ellis sau khi nghiên cứu thành tích của Hillary trong số những người từng làm việc tại tập đoàn Dịch vụ Pháp lý. Sự đảm bảo cuối cùng của ông là mối quan hệ với công ty luật Rose: người sáng lập công ty, ông Uriah Rose, từng là một trong những sáng lập viên của Hiệp hội Luật gia Hoa Kỳ vào năm 1876.

Sau khi hoàn thành việc nghiên cứu cẩn trọng của mình, Mac Crate nghĩ rằng việc bổ nhiệm Hillary chẳng khác gì một “chiến thắng vang lừng”, nhưng ông vẫn còn phải thuyết phục bà. Sau này Mac Crate nhớ lại, “Tôi gọi điện cho Hillary. Chúng tôi chưa bao giờ gặp nhau. Chúng tôi chưa bao giờ nói chuyện với nhau. Tôi nói rằng mình đang thành lập ủy ban này và muốn mời bà ấy lãnh đạo nó. Bà ấy đáp lại, ‘Tôi chưa bao giờ làm việc gì như thế cả. Tôi đã từng cống hiến cho trẻ em và ngành giáo dục’,” thấy Hillary băn khoăn, Mac Crate đề nghị bà hãy trò chuyện với một vài người mà ông muốn mời tham gia Ủy ban.

Trong khi đó, Ellis cũng tham gia ý kiến với Hillary. “Tôi không nghĩ mình sẽ làm việc đó,” Hillary nói với người đồng nghiệp cũ của mình. Thời gian dành cho công việc khiến bà lo nghĩ. Đang có nhiều việc diễn ra trong cuộc sống của bà. Những trách nhiệm của bà, bao gồm việc hành nghề luật và nuôi đứa con gái bảy tuổi. Bà cũng đã tham gia vào ban quản trị hai tổ chức bất vụ lợi có xu hướng tự do ở Bờ Đông: Quỹ Thế giới Mới và Quỹ Phòng vệ Trẻ em. Thực ra, quỹ này vừa bổ nhiệm bà làm chủ tịch. Bà phải thường xuyên tham dự các cuộc họp của ban quản lý quỹ cho dù việc đi lại từ Little Rock đến Washington rất mất thời gian và gây mệt mỏi. Bà cũng vừa thành lập Nhóm Biện hộ cho Trẻ em và Gia đình tại Arkansas. Bà vừa giới thiệu một chương trình giáo dục tại nhà cho trẻ em trước tuổi đi học. Bà dẫn đầu những nỗ lực trợ giúp pháp lý ở cấp bang và cấp quốc gia, hướng dẫn các dự án nhà tù và chủ trì một sáng kiến về sức khỏe cho vùng nông thôn Arkansas.

Thậm chí Hillary còn cố gắng lồng ghép các mục tiêu của mình vào ban giám đốc các công ty mà bà tham gia và cũng đạt được những thành quả không nhỏ. Ở ban lãnh đạo tập đoàn Wal-Mart, bà là nữ giám đốc đầu tiên của tập đoàn và là một trong vài cộng sự của hãng luật Rose nhận chức vụ ở bên ngoài công ty. Với tư cách Giám đốc Wal-Mart, bà thúc đẩy việc tuyển dụng không phân biệt đối xử và tăng tính nhạy cảm của công ty đối với môi trường. (Sau này, với tư cách thượng nghị sĩ, Hillary giữ mình tránh xa công ty và những người phê phán sau khi nó trở thành một doanh nghiệp gây nhiều tranh cãi.)

Trong lúc Hillary cân nhắc lời mời làm việc này thì Bill đang ngẫm nghĩ tới việc ra tranh cử tổng thống. Nhưng vào tháng 7 năm 1987, ông quyết định chưa tham gia. “Đã có nhiều người viết về các lý do đưa tới quyết định không ứng cử của ông ấy. Nhưng cuối cùng có thể nói một từ thôi – Chelsea,” Hillary nhận xét.

Chelseacũng là mối bận tâm chính của Hillary khi bà phân vân không biết có nên nhận công việc ở Hiệp hội Luật sư hay không. Nhưng ngay cả khi bà còn nhiều trách nhiệm khác phải chu toàn, thì bạn bè cũng như Ellis vẫn khuyên bà rằng, bà chỉ cần tìm ra một cách giải quyết hết tất cả. Ellis nhớ lại: “Tôi bảo bà ấy rằng, ‘Chị có thể mang lại một sự khác biệt lớn lao và công việc ấy cũng không tiêu tốn nhiều thời gian như chị nghĩ đâu’.”

Chelsealà lý do khiến Bill không ra tranh cử tổng thống, nhưng cô bé không phải là lý do đủ thuyết phục Hillary từ chối công việc ở Hiệp hội Luật sư. Không phải tình cờ, công việc này sẽ đưa bà ra khỏi Arkansas và cho phép bà nắm giữ một nền tảng cấp quốc gia đầy uy tín, vừa không có liên hệ với đức ông chồng trong lúc vẫn tiếp tục theo đuổi sự nghiệp trọn đời của bà.

Cuối cùng thì Hillary nói với Mac Crate là bà nhận lời. Khi Mac Crate nói chuyện với Brooksley Born – người cũng đang vận động cho công cuộc này – về lựa chọn của ông, thì cũng giống như ông vào lúc đầu, bà Born không hề có ý niệm gì về cái tên Hillary. Bà hỏi Mac Crate: “Hillary à? Hillary là ai?” Mac Crate đã diễn tả Hillary là phu nhân của ông thống đốc bang Arkansas. Bà Born hoảng kinh khi nghe nói tới một người phụ nữ có nghề nghiệp chuyên môn, lại được miêu tả chỉ như là vợ của ai đó, cứ như đấy là lý do duy nhất để bổ nhiệm bà ta.

Phải vài tháng sau, đến tháng 10 năm 1987, Mac Crate mới gặp Hillary lần đầu tiên. Ủy ban đã tập trung lại chuẩn bị cho cuộc họp khởi nghiệp tại Chicago, quê hương của hiệp hội luật sư. Mac Crate bắt đầu kỳ họp bằng bài diễn văn mà cha ông, từng là dân biểu quốc hội, đã đọc năm 1919 để ủng hộ cho quyền bầu cử của phụ nữ. Những người Cộng hòa Rockefeller và những người Dân chủ ở Arkansas lập tức phản pháo. (Sau này Mac Crate đã thay đổi đăng ký bầu cử của mình từ Đảng Cộng hòa sang Đảng Dân chủ, đã đóng góp hàng ngàn đôla cho chiến dịch tranh cử nghị sĩ Thượng viện của Hillary và treo ảnh Hillary trong văn phòng của mình ở New York).

Ủy ban nhanh chóng triển khai công việc, tổ chức những cuộc điều trần và nghiên cứu cung cách làm việc của các hãng luật đối với những vấn đề như phương thức tuyển dụng và chế độ nghỉ thai sản. Ủy ban đã phát hiện sự phân biệt đối xử rộng khắp; sau một năm hoạt động, ủy ban đã đưa ra một bản báo cáo, thúc giục hiệp hội luật sư phải công khai thừa nhận rằng thành kiến về giới tính đang tồn tại trong nghề luật sư và phải bắt đầu hành động để xóa bỏ nó.

Năm 1988, tại hội nghị thường niên tổ chức ở Toronto, Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ hưởng ứng công việc của Hillary bằng cách thông qua một nghị quyết cam kết hiệp hội và 346.000 hội viên sẽ “từ chối tham gia, từ chối chấp thuận hoặc bỏ qua các rào cản đối với sự hội nhập đầy đủ và sự tham gia bình đẳng của phụ nữ vào hoạt động luật pháp”. Nghị quyết này nhận được sự tán đồng gần như của mọi người. Hillary nói với các đại biểu rằng công việc của ủy ban còn lâu mới hoàn tất. “Bất chấp những tiến bộ đã được thực hiện, vẫn còn những trường hợp phân biệt đối xử với phụ nữ một cách tinh vi,” bà nói. Vì thế vào năm 1991, gần cuối nhiệm kỳ của bà trong cương vị chủ tịch, Ủy ban đã lập ra “Thành tích biểu Mục tiêu IX”, một bản liệt kê hàng năm được lập ra để đo lường sự tiến bộ của phụ nữ trong hiệp hội. Theo bà Born, đây là “một công cụ kỳ diệu” để đo lường tính đa dạng trong nhiều bộ phận khác nhau của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ. Còn đối với những nhà phê bình bảo thủ, thành tích biểu là một điểm nóng về ý thức hệ và thậm chí bị một số người coi như một nỗ lực lén lút nhằm áp đặt “hạn ngạch”.

TRONG KHI HILLARY ĐANG LÀM VIỆC hết công suất thì đức ông chồng của bà lại không như vậy. Thật khó tưởng tượng rằng Bill Clinton lại có thể cạn kiệt năng lượng chính trị, căn cứ vào những gì người ta được biết về niềm đam mê của ông đối với đời sống quan chức, mong muốn làm người nổi bật và khả năng gần như vô địch của ông trong việc vượt qua những cuộc tranh luận ác liệt nhất. Nhưng vào năm 1987, dường như Bill bị trói tay trói chân. Và vì chuyện đó, hay có lẽ bất chấp chuyện đó, Hillary đã lần đầu tiên nhúng tay vào lĩnh vực chính trị.

Năm 1987, Bill đã quyết định bỏ qua cuộc tranh cử tổng thống vào năm sau. Trước khi ông đưa ra quyết định, bà Betsey Wright đã đối chiếu lại với Bill một danh sách những người phụ nữ mà ông bị cáo buộc là đã có quan hệ; bà hỏi Bill về sự thật của lời tố cáo đó và những gì những người phụ nữ có thể sẽ nói ra. Sau khi nghe phản ứng của Bill, bà khuyên ông không nên ra tranh cử. Có những lời đồn đại khắp Arkansas về các mối tình của Bill và Hillary biết rõ những tin đồn ấy. Bill nhớ lại, “Hillary cảm thấy nhẹ nhõm” và “sung sướng” khi ông quyết định không ra tranh cử, bởi vì bà ấy nghĩ rằng ông nên hoàn tất công việc của mình ở Arkansas và dù thế nào thì George H. W. Bush cũng sẽ thắng.

Vào năm 1990, hai năm sau khi dội bom trên truyền hình quốc gia bằng một bài diễn thuyết tại Đại hội Đảng Dân chủ ở Atlanta, Bill vẫn chưa quyết định có nên tái tranh cử ở Arkansas hay không. Thế rồi Hillary xuất hiện và bảo Dick Morris rằng bà đã nói với Bill: “Nếu anh không tranh cử thì em sẽ tranh cử”. Morris kể chuyện này với một sự thương hại cho Bill. Còn Bill thì đáp lời Morris, “Bà ấy luôn luôn làm theo sự nghiệp của tôi. Bây giờ đến lượt bà ấy.”

Nhưng khi Morris thực hiện hai cuộc thăm dò ý kiến cho Hillary, kết quả tỏ ra không khích lệ lắm. “Tôi rút ra kết luận rằng bà ấy không thể thắng được bởi vì vào thời điểm đó không ai cảm nhận được rằng bà ấy với Bill là tách biệt nhau,” ông Morris nhớ lại. Người dân Arkansas không nhìn thấy gia đình Clinton như họ tự nhìn thấy. Hillary cảm thấy “bị xúc phạm nặng nề” bởi cách nhìn bà chỉ như là người đại diện cho Bill, cho nên “từ giây phút đó, bà quyết định phải tạo dựng bản sắc riêng trong hình ảnh chính trị của chính bà.”

Sự căng thẳng này giữa những lợi ích của việc gắn bó chặt chẽ cùng chồng với khát vọng riêng của Hillary có được một sự nghiệp độc lập, hẳn phải là tiến thoái lưỡng nan chủ yếu của cả hai vợ chồng. Hillary đã có chút táo bạo khi hình dung rằng bà có thể trở thành thống đốc tại quê hương của chồng, nhưng không ai có thể ganh tị với mong muốn của bà được thoát ra khỏi cái bóng của Bill. Bà không muốn lúc nào cũng chỉ được biết tới như là “Đệ nhất Phu nhân bang Arkansas”.

Ý thức được rằng, cho dù có nghĩ thế nào cử tri vẫn chưa sẵn sàng bỏ phiếu cho vợ ông, nên cuối cùng Bill đã thử dấn thân một lần nữa. Vào thời điểm ấy danh tiếng của Bill làm nên chiến thắng trong cuộc đề cử làm ứng viên của đảng là điều gần như chắc chắn. Hillary thì cố gắng thu xếp cho “khoảnh khắc ngoạn mục duy nhất” khi bà bất ngờ xuất hiện tại một cuộc họp báo diễn ra trong Nhà Tròn thuộc trụ sở Quốc hội tiểu bang và do đối thủ chính của Bill trong Đảng Dân chủ là Tom McRae tổ chức. Ngay đầu buổi họp báo, McRae đã trưng ra một bức tranh biếm họa vẽ hình Bill Clinton lấy hai bàn tay che hạ bộ, với tiêu đề: “Hoàng đế cởi truồng”.

“Bỗng nhiên tôi nghe tiếng gót giày vang rất to trên các bậc thang bằng đá cẩm thạch – chính là bà ấy,” sau này Ron Fournier nhớ lại. Lúc đó ông làm tường thuật các buổi họp báo cho hãng thông tấn AP. “Tất cả các máy quay phim trong phòng họp đều xoay ống kính về phía bà ấy. Bà ấy đã giành lấy cuộc họp báo của ông McRae”, Ron Fournier nói.

“Dẹp cái đó đi, Tom!” Hillary hét vào mặt McRae. Vừa vẫy vẫy mấy tờ giấy đang cầm trên tay, Hillary vừa đọc to một số lời phát biểu mà trước đây McRae ca ngợi những thành tích của Thống đốc Bill Clinton. Sau đó bà bảo ông ấy: “Tôi đã xem hết tất cả các báo cáo của anh, bởi vì tôi thật sự thất vọng về anh với tư cách một ứng cử viên; tôi cũng thật sự thất vọng về anh với tư cách một con người, Tom à.”

Cuộc tấn công bất ngờ của Hillary tạo nên một cú sốc gây chú ý mạnh mẽ trên báo chí Arkansas; nó cũng gây nên một làn sóng xầm xì khắp tiểu bang, nơi mà cử tri cứ nghĩ rằng bà vợ ông thống đốc nên bằng lòng với việc ẩn mình sau hậu trường. Nhưng nó đã có hiệu quả. Ông Fournier nhớ lại: “Bà ấy xuất hiện rất đúng lúc, vung chiếc rìu lên và không phải để làm cảnh.” Trong cuốn hồi ký của mình, Bill Clinton cũng viết về giai đoạn này và công nhận rằng cuộc tấn công của Hillary đã giúp ông thong dong đi tới chiến thắng trong cuộc bình chọn ứng cử viên của đảng bằng cách đập tan “động lực của McRae”.

Vụ đối đầu với McRae cho thấy Hillary đã học được một bài học quan trọng từ sự thất bại trước ông White năm 1980: cái nhu cầu phản công một cách liều lĩnh, quyết liệt và tức thời. Sự xuất hiện bất ngờ của bà tại cuộc họp báo hoàn toàn không phải do tình cờ. Đêm hôm trước, bà đã bàn bạc việc đó với Bill, và bà biết rằng nếu xuất hiện, bà sẽ “được nhiều người biết tới”.

Chiến dịch tái tranh cử của Bill Clinton năm 1990 có thể sẽ kết thúc tương đối bình lặng. Nhưng nó đã gieo những hạt mầm bất mãn trong các kẻ thù của Bill và điều đó sẽ bám theo gia đình Clinton trong nhiều năm nữa.

Đối thủ của Bill thuộc Đảng Cộng hòa trong cuộc tổng tuyển cử là Sheffield Nelson, một luật sư và một doanh nhân cực kỳ giàu có. Đợt quảng cáo vào phút cuối của ông ta tấn công vào chính sách của Bill trong lĩnh vực thuế và ngân sách, đã buộc Hillary và Bill phải đi vay mượn thêm 100.000 đôla để tổ chức cuộc phản công trên báo chí. Về sau Nelson kể lại cho một người phỏng vấn trên truyền hình rằng, chiến dịch tranh cử năm 1990 của ông đã thu thập được thông tin về phẩm chất đạo đức của Bill Clinton, nhưng ông đã không sử dụng những tài liệu đó trong chiến dịch. Cũng trong buổi truyền hình đó, Hillary đáp lại rằng Nelson đã “đi loanh quanh lạc đề, cố gắng khuấy động” những thắc mắc về tính hay lăng nhăng của Bill; bà gọi ông Nelson là “một người rất cay độc”, người mà sau khi thất bại vào năm 1990 đã làm tất cả những gì có thể “để thử và lấy lại tư thế ngang bằng”. Tất cả những điều đó có thể là sự thật, nhưng kích động thêm nữa một con người đã muốn bỏ tiền ra để ném cát vào Bill không hẳn là một chiến lược khôn ngoan – nhất là khi ở Arkansas không thiếu gì bụi bẩn trong những chuyện liên quan tới đàn bà.

Hillary đã tạo ra một kẻ thù khác nữa trong chiến dịch tranh cử năm 1990, khi bà thuyết phục Bill không ra tuyên thệ làm chứng ở phiên tòa xử Jim McDougal về tội lừa đảo trong việc huy động tiết kiệm và cho vay. McDougal được trắng án và ông ta liên tiếp đe dọa Hillary về mối quan hệ trong phi vụ kinh doanh Whitewater của họ. Thật khó mà biết được ông ta có thể làm chuyện gì. McDougal là một người bất ổn, phải điều trị chứng trầm cảm. Ông ta vẫn duy trì một sự trung thành nhất định đối với Bill, nhưng sau khi được tha bổng cái nhìn của ông đối với Hillary đã trở nên đen tối. Vào năm 1990, Hillary khó hình dung được những gì mà McDougal và Nelson cùng nhiều kẻ thù khác của gia đình Clinton sẽ làm “để thử và lấy lại tư thế ngang bằng”. Nhưng chẳng bao lâu sau bà sẽ nhận ra điều đó.

THÀNH KIẾN CHỐNG LẠI các nữ luật sư vẫn là một vấn đề trong thập niên 1980 và 1990, nhưng suốt thời gian ấy Hillary trở thành một trong những thành viên “mạnh mẽ nhất và có ảnh hưởng nhất” trong nghề nghiệp một phần nhờ giới tính của bà. Năm 1988, tờ National Law Journal, một tờ báo nhỏ nhưng có uy tín và ảnh hưởng lớn, nêu tên Hillary trong mục “Những nhân vật quyền lực”, một danh sách một trăm luật sư có quyền lực nhất hoặc có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Bà là một trong bốn phụ nữ được tuyên dương như vậy (bà Shirley Hufstedfer, người mà Mac Crate chọn đầu tiên để đưa ra làm chủ tịch ủy ban của hiệp hội luật sư là một trong bốn phụ nữ ấy). Trong lời giới thiệu danh sách năm 1988, tờ báo nói rằng bản danh sách của mình chỉ tôn vinh những luật sư “tham gia tích cực vào việc thực hành hoặc giảng dạy luật pháp.” Biên tập viên và phóng viên chịu trách nhiệm về danh sách ấy đều đã qua đời, nên không thể nào xây dựng lại một cách xác thực quá trình chọn lựa để lập ra danh sách này. Nhưng một biên tập viên khác, có tham gia vào việc biên soạn danh sách, nói rằng Hillary đã được lựa chọn một cách đặc biệt bởi vì tờ báo lúc ấy đang tìm kiếm một phụ nữ tham gia vào các vụ tranh tụng của doanh nghiệp. Trong thực tế, theo hồ sơ của Hillary, bà chỉ làm việc bán thời gian cho việc tranh tụng của doanh nghiệp. Hoạt động tham gia tranh tụng của bà rất hạn chế và không có gì xuất sắc. Bà là cộng sự được trả lương thấp nhất trong một công ty luật ở một thành phố nằm khá xa các trung tâm thương mại của nước Mỹ. Peggy Cronin Fisk, một phóng viên viết về những gương mặt năm 1991 cho tờ National Law Journal, sau này thừa nhận việc tặng danh hiệu đó cho bà là không thích hợp. “Bà ấy không phải là người mà tôi coi như một nhà tranh tụng hàng đầu hoặc là người được mọi người kỳ vọng sẽ là nhà tranh tụng hàng đầu,” Fisk nói.

“Chẳng qua vì bà ấy là một phụ nữ làm công việc của một luật sư doanh nghiệp và không có nhiều phụ nữ làm công việc ấy,” ông Anthony Paonita nhớ lại. Giờ đây ông đã là biên tập viên của một tạp chí khác về pháp luật, tờ The American Lawyer. Ông giải thích, “Khi ấy chúng tôi tìm kiếm một cái gì ngọt ngào. Thêm vào đó, bà ấy không phải là một luật sư chính trị chuyên về các vụ chống phá thai hoặc bảo vệ quyền của trẻ em, là những công việc tiêu biểu mà các nữ luật sư khi ấy thường đảm nhiệm.”

Ba năm sau, tờ báo lại bình chọn danh sách một trăm luật sư có ảnh hưởng nhất nước Mỹ. Một lần nữa, Hillary lại lọt vào danh sách ấy. Bà Fisk nói rằng, trong đợt này, việc chọn bà Hillary căn cứ chủ yếu “vào công tác của bà tại Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ và công việc mà bà ấy thực hiện nhân danh những vấn đề của phụ nữ trong ngành pháp luật.” Biên tập viên của bà Fisk, bà Doreen Weisenhaus, cũng tán thành quan điểm đó. “Trên sân khấu quốc gia bà ấy đã đóng một vai trò đại diện cho nghề luật sư, cho quyền của phụ nữ và trẻ em. Và điều đó làm tôi hài lòng,” bà Weisenhaus nói. Dù đã cố gắng để được chọn là một trong các luật sư có thế lực nhất Hoa Kỳ, Hillary vẫn khéo léo sử dụng việc có tên trong danh sách bình chọn của tờ báo để đánh bóng bản lý lịch của mình, nhằm dấn thân vào thế giới chính trị, khởi đầu với chiến dịch tranh cử tổng thống của chồng vào năm 1992 và sau đó trong chiến dịch tranh cử của chính bà vào ghế thượng nghị sĩ đại diện bang New York. Một cách ngẫu nhiên, cả bà và giới báo chí đều “xác định nhầm” bản danh sách của tờ National Law Journal như là danh sách một trăm luật sư “giỏi nhất”, “hàng đầu” dù rằng tờ báo đã cẩn thận giải thích rằng danh sách này không phải là kết quả của một cuộc khảo sát có tính khoa học. Một lá thư nội bộ lưu hành trong cuộc vận động tranh cử năm 1992 đã viết, “Hillary Rodham Clinton muốn bảo đảm rằng chúng ta phải chuẩn bị để trích dẫn danh hiệu Luật sư giỏi nhất của bà trong danh sách của tờ National Law Journal”. Vào năm 2000, sau khi tiểu sử tranh cử của Hillary một lần nữa khoe khoang rằng bà đã được bình chọn là một trong một trăm luật sư “hàng đầu” của đất nước, thì tổng biên tập tờ National Law Journal lên tiếng trách bà đã gây hiểu sai. “Chúng tôi phản đối việc sử dụng chữ ‘hàng đầu’. Đối với chúng tôi, chữ ‘hàng đầu’ có nghĩa là ‘giỏi nhất’, ‘tốt nhất’ hoặc ‘thông minh nhất’, nhưng thay vào đó bà Clinton được xem là một trong những luật sư có ảnh hưởng nhất dựa trên ý niệm về quyền lực và tác động,” ông Patrick Oster, tổng biên tập tờ National Law Journal vào thời điểm Hillary tranh cử thượng nghị sĩ năm 2000 đã viết như vậy. (Sự lăng nhục cuối cùng đối với ông Oster là trang web của Hillary đã viết nhầm rằng việc bình chọn được tiến hành bởi tờ The American Lawyer, một tờ báo anh em, chứ không phải là tờ National Law Journal).

Những sự khác nhau như vậy có vẻ vụn vặt đối với người ngoài cuộc, nhưng chúng nói lên một xu hướng rộng lớn hơn: sự nghiệp của Hillary với tư cách một luật sư thực hành, xét theo nhiều tiêu chuẩn, đã không gây được ấn tượng, nhưng về mặt chính trị thì thật là bất tiện khi thú nhận như vậy. Nhưng rút cục sự cường điệu của Hillary tỏ ra không thật cần thiết, mà chỉ là một dấu hiệu của sự bất an và toan tính của bà mà thôi. Cuối cùng, trong khi còn lâu mới trở thành một nhà tranh tụng doanh nghiệp “giỏi nhất”, song chắc chắc là Hillary có được tầm ảnh hưởng mà tờ National Law Journal đã phong tặng cho bà vào năm 1991. Thực vậy, chỉ một năm sau đó, bà đã giúp chồng đánh bại một vị đương kim tổng thống. Tám năm sau, bà dễ dàng giành được một ghế trong Thượng nghị viện Hoa Kỳ từ một tiểu bang nơi bà sống chứ không sinh trưởng.

Ở một phương diện khác, danh sách bình chọn năm 1991 có ý nghĩa như một điềm báo trước: cùng được chọn như Hillary còn có một luật sư ở Washington là Kenneth W. Starr.

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.