CUỐI CHIỀU ngày 14 tháng 6 năm 2006, một nhóm các thượng nghị sĩ Dân chủ và những phụ tá của họ hướng tới một phòng hội nghị nhỏ trong Trụ sở Quốc hội. Để đến đó, đầu tiên họ phải tiến vào một dãy văn phòng được đặt tên theo Thượng nghị sĩ Dân chủ Robert C. Byrd của West Virginia sau khi ông bước xuống khỏi cương vị lãnh đạo phe đa số vào năm 1989. Dãy văn phòng giờ đây thuộc về lãnh đạo phe thiểu số Dân chủ, Harry Reid, và các thượng nghị sĩ cùng đám nhân viên của họ lướt vào Phòng 224, ở phía cuối hành lang. Tọa lạc ngay bên ngoài sàn Thượng viện, gian phòng hội nghị lộng lẫy, được trang trí với những bức chân dung của các lãnh đạo Thượng viện trong quá khứ, đã là nơi tổ chức một loạt các cuộc hội nghị kín trong những ngày trước đó, nơi một nhóm nhỏ của phe Dân chủ thảo luận về chính sách Iraq. Vị trí hẻo lánh có nghĩa là các thượng nghị sĩ có thể xây dựng chiến lược của đảng và thảo luận những sự khác biệt của mình, cánh xa khỏi các đồng nghiệp Cộng hòa và báo chí.
Ngày hôm đó, chín người tham dự thường xuyên đã ngạc nhiên khi nhận ra một người mới đến: Thượng nghị sĩ Hillary Rodham Clinton. Bà là một trong những người đến sớm nhất và ngồi lên một chiếc xô-pha hai chỗ, một trong hai chiếc ghế trường kỷ có trong căn phòng. Ngồi kế bà là Carl Levin, vị thượng nghị sĩ lâu năm từ Michigan. Là thành viên xếp cao nhất của Đảng Dân chủ trong Ủy ban Quốc phòng, Levin trên thực tế là người lãnh đạo của phiên họp vì cuộc họp liên quan đến những điều khoản bổ sung vào dự luật cấp phép quốc phòng còn đang treo. Hillary, một thành viên ít thâm niên của Ủy ban Quốc phòng, thõng một tay vòng sau lưng chiếc ghế trường kỷ và nhai kẹo cao su.
Reid bắt đầu bằng việc điểm lại những việc đã xảy ra từ buổi họp trước vào đầu tuần đó, khi chủ đề chính của cuộc thảo luận là về một đề xuất của John Kerry nhằm rút quân lính Mỹ vào cuối năm. Kerry, vẫn còn nhức nhối từ sự thất bại trước Tổng thống Bush, đã cố gắng gây ấn tượng với một luận điểm táo bạo về Iraq đối lập với đường lối lộn xộn, nếu không nói là khổ sở, mà ông đã theo đuổi trong suốt chiến dịch.
Reid nói ông đã họp với ba thành viên Dân chủ lâu năm, tất cả đều là những thành viên xếp cao nhất của Đảng Dân chủ trong các ủy ban Thượng viện khác nhau, và nhận thấy có sự đối kháng mạnh mẽ đối với đề xuất của Kerry. Kết quả là, Reid muốn giữ không để cho bản đề nghị của Kerry được xem xét trên sàn Thượng viện vào tuần đó. Vị thượng nghị sĩ từ Massachusetts, một thành viên của Ủy ban Quan hệ Đối ngoại, đã không có mặt ở buổi họp ngày 14 tháng 6, vì vậy Reid và Levin yêu cầu phụ tá chính sách đối ngoại của Kerry, Nancy Stetson, cập nhật cho mọi người về tình trạng của điều khoản của sếp cô. Cô giải thích rằng điều khoản đó đã được thay đổi, dời ngày rút quân được đề nghị từ cuối năm 2006 đến tháng 7 năm 2007. Hillary đòi hỏi một bản sao của điều khoản đã được sửa đổi. Bà đọc nó và nhanh chóng bác bỏ ngày rút quân và thủ tục yêu cầu Mỹ phải tham vấn với chính quyền Iraq trước khi rút quân.
“Đó hoàn toàn khác với việc rút quân vào năm 2006,” bà nói, chế nhạo bản sửa đổi của Kerry. Khi nói về toàn bộ điều khoản, bà sắc bén thêm vào, “Cái này chẳng làm được gì cả.”
Kerry sau đó tự hỏi liệu phản ứng tiêu cực của Hillary có liên quan đến sự đón tiếp trái ngược mà hai người nhận được vào hôm trước đó tại hội nghị của những nhà hoạt động theo chủ nghĩa tự do ở khách sạn Washington Hilton không. (Tại hội nghị, cả Hillary và Kerry đều phát biểu. Khi Hillary tuyên bố rằng bà không nghĩ sẽ là “một chiến lược khôn ngoan nếu đặt ra một ngày xác định” cho việc rút quân Mỹ ra khỏi Iraq, đám đông lớn tiếng la ó. Nhưng khi Kerry gọi cuộc chiến là “phi đạo đức” và là “một bãi lầy,” những nhận xét của ông được chào đón bởi những tràng hoan hô dữ dội.
Sự xung đột dạo gần đó giữa hai người tương phản với một lịch sử lâu dài của những gắn bó chính trị và cá nhân. Vào năm 1972, là những nhà hoạt động trẻ tuổi, họ đều từng xuất hiện ở Boston trước ủy ban cương lĩnh của Hội nghị Toàn quốc của Đảng Dân chủ: Hillary vì lợi ích của các quyền trẻ em và Kerry thì liên quan đến chiến tranh Việt Nam. (Kerry không hề nhớ mối liên kết xưa cũ, tỏ ra kinh ngạc khi người ta lần đầu kể cho ông về nó vào năm 2007. Năm 2001, chỉ một tuần sau các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9, hai vị thượng nghị sĩ tổ chức một buổi tiệc, tại nhà Kerry ở Georgetown, cho cuộc hôn nhân sắp diễn ra của Tamera Luzzatto, chiến lược gia trưởng của Hillary, và David Leiter, cựu chiến lược gia trưởng của Kerry. Và tại buổi hội nghị năm 2004 của những nhà hoạt động theo chủ nghĩa tự do – cùng một buổi tụ họp mà ngày hôm trước đã diễn ra sự tiếp đón trái ngược cho cả hai – Hillary đã hào phóng không ngớt lời khen ngợi Kerry, ủng hộ một cách ấm áp cuộc đua của ông chống lại Tổng thống Bush.
Luzzatto, một cựu binh Thượng viện được kính trọng, đã đi cùng với Hillary đến buổi họp ngày 14 tháng 6, nhưng bà chỉ có thể giúp đến vậy. Sự thiếu vắng kinh nghiệm về an ninh quốc gia của Luzzatto, một người tham dự cho biết, đã để Hillary chủ yếu là phải tự thân tìm hiểu những lắt léo và ngóc ngách của chính sách Iraq. Có lẽ đó là lý do tại sao, sau khi bác bỏ điều khoản của Kerry, Hillary hầu như giữ im lặng suốt khoảng thời gian hai mươi tới ba mươi phút tiếp theo. Cảm thấy sự không tham gia của Hillary, Reid, người chủ trì cuộc họp, đã xoay sang Hillary và nói ông muốn nghe những suy nghĩ của bà. Một số người tham dự đã ngạc nhiên khi thấy Hillary được cho một cơ hội. Có một khoảng im lặng kéo dài.
“Đưa cho bà ấy quyền phát biểu về đề tài này thì thật là lạ,” một người tham dự buổi họp cho biết, lưu ý rằng Hillary chưa từng dự bất kỳ phiên họp chiến lược nào trước đó. Tuy nhiên, người đó thừa nhận, Hillary là một “sức hút lớn,” vậy nên “mọi cặp mắt đều quay sang bà ấy để nghe xem bà ấy nghĩ gì.”
Hillary phát biểu trong năm hay sáu phút. Bà có vẻ hơi “không chắc chắn lúc mới đầu,” lặp lại câu thần chú tiêu cực của mình từ hôm trước đó.
“Tôi không ủng hộ việc đưa ra một ngày xác định cho việc rút quân, và tôi không ủng hộ một cam kết để ngỏ,” Hillary nói với những đồng nghiệp của mình. Rồi bà lấy lại tinh thần với những sáng kiến được đưa ra trong một điều khoản thay thế mà khi đó được các Thượng nghị sĩ Levin và Jack Reed đề xuất. Điều khoản của họ, vốn không có chút áp lực pháp lý nào, kêu gọi tổng thống “bắt đầu tái bố trí lực lượng Mỹ từ Iraq theo các giai đoạn” vào năm 2006. Rồi điều khoản đó yêu cầu Bush phải nói cho Quốc hội biết ông dự định làm gì để tiếp tục giảm quân số sau đó. Điều khoản đó cho phép tổng thống một số khoảng tự do, lưu ý rằng “những sự kiện ngẫu nhiên không lường trước được” có thể xảy ra. Ở khía cạnh này, điều khoản hầu như lặp lại dự luật được soạn thảo một năm trước bởi cùng một nhóm thành viên Đảng Dân chủ, trong đó Levin, thay mặt cho Hillary, đã đề xuất thực chất là cùng một ngôn ngữ được làm dịu đi – “những sự kiện ngẫu nhiên không lường trước được.”
Hillary chua cay nhắc nhở các đồng nghiệp của mình vì sao bà lại ủng hộ một thái độ ít đối đầu hơn với Nhà Trắng so với dự luật của Kerry. “Trừ phi các bạn vẫn chưa nhận ra,” bà nói gãy gọn, “còn thì hiện chúng ta không kiểm soát bất cứ thứ gì cả.”
Hillary tiếp tục giảng cho các đồng nghiệp của mình về sự nhạy bén chính trị của những viên chức chính quyền. “Karl Rove và George Bush không phải là những kẻ khờ dại,” bà cảnh báo.
Tuy vậy, Thượng nghị sĩ Russ Feingold, một trong những người đồng bảo trợ cho điều khoản của Kerry, tranh luận, “những người theo Đảng Dân chủ muốn chúng ta ra khỏi Iraq”. Điều đó đúng – trong một cuộc thăm dò dư luận được thực hiện vài ngày trước đó, 64 phần trăm những người theo Đảng Dân chủ nói họ muốn nước Mỹ “rời khỏi Iraq càng sớm càng tốt,” ngay cả khi Iraq không hoàn toàn ổn định. Phe Cộng hòa bất đồng một cách áp đảo: 73 phần trăm ủng hộ việc ở lại “tới chừng nào vẫn còn cần thiết.” Phe độc lập bị chia cắt.
Hillary có một cái nhìn rộng hơn. “Lúc nào tôi cũng gặp phải giới hạn,” bà nói với những người đồng nghiệp. “Tôi nghĩ chúng ta cần có một khoảng để ngọ nguậy.”
Khi cuộc họp dần đến hồi kết thúc, các thượng nghị sĩ trở nên mệt lả. Họ nói về việc đề tài này sẽ lại nổi lên hết lần này đến lần khác như thế nào trong những tháng dẫn tới các cuộc bầu cử giữa kỳ. Có một mẩu chuyện cười nhẹ nhàng về việc cuộc chiến Iraq có thể kết thúc như thế nào giữa một đám dư thừa các ứng viên tổng thống đầy hy vọng của Đảng Dân chủ. Hillary nêu ra một thí dụ hoàn hảo: liệu có khi nào “một trong những người ở phòng này sẽ ra quyết định” về quân Mỹ ở Iraq vào tháng 1 năm 2009. “Trong căn phòng đó có rất nhiều người ra tranh cử tổng thống,” một phụ tá nhớ lại – Hillary, Feingold, Joe Biden từ Delaware, và Chris Dodd từ Connecticut đều được coi là những ứng cử viên tiềm năng.
Sau khi cuộc họp kết thúc, Harry Reid, Jack Reed, và Levin, những kiến trúc sư của điều khoản thỏa hiệp mà giờ đây đã nổi lên như một sự thay thế cho điều khoản của Kerry và Feingold, kéo Dianne Feinstein sang một bên để có một cuộc trò chuyện riêng tư. Kế hoạch là nhằm ngăn cản dự luật của Kerry-Feingold và giới thiệu dự luật thỏa hiệp thế vào chỗ đó. Họ mời Feinstein tham gia vào như một người đồng bảo trợ cho dự luật của mình, an tâm bởi thực tế rằng bà không có những tham vọng tổng thống.
“Sẽ không tốt nếu để những người khao khát chiếc ghế tổng thống có tên họ xuất hiện” như những người đồng bảo trợ gốc của điều khoản, Harry Reid nói với Feinstein, “ngay cả khi nó được xem như một quyết định mang tính đồng thuận.” Sự xuất hiện cái tên của một ứng cử viên tiềm năng có thể đột nhiên tiêm vào một chuỗi các vấn đề chính trị cùng sức ép, mà những thứ này có thể làm hỏng một dự luật cực kỳ tốt, chuyển đổi nó từ một cuộc bỏ phiếu cho một vấn đề thành một cuộc bỏ phiếu ủy nhiệm cho một ứng cử viên. Feinstein bèn ký tên.
Ngày tiếp theo trên sàn Thượng viện, kế hoạch ngăn cản cuộc tranh luận về điều khoản của Kerry ngay lập tức lâm vào tình thế nguy hiểm, nhờ các thượng nghị sĩ Cộng hòa. Mong muốn ghi điểm về chính trị chống lại phe Dân chủ, họ đem ra giới thiệu dự luật của Kerry; một khi Kerry đã chính thức đệ trình điều khoản, bất kỳ một thượng nghị sĩ nào cũng có thể xướng nó lên. Reid nhanh chóng phản đòn với thủ đoạn nghị viện của riêng mình – trước khi Kerry có thể tới được sàn để phát biểu, một cuộc bỏ phiếu được tổ chức để kết thúc cuộc tranh luận. Ba mươi sáu thượng nghị sĩ Dân chủ, gồm cả Hillary, đã bỏ phiếu ủng hộ đề nghị của Reid nhằm kết thúc cuộc tranh luận về điều khoản đó, vốn thắng thế sẵn sau khi có sự ủng hộ của phe Cộng hòa.
Trong khi đó, bên phía Hạ nghị viện, sau một cuộc tranh luận sôi nổi và kéo dài, các thành viên đã ủng hộ những chính sách của tổng thống bằng việc bác bỏ bất kỳ các lịch rút quân nào. Kết quả bỏ phiếu là 256 so với 153. Bốn mươi hai thành viên Dân chủ, khoảng một phần năm tổng số thành viên của Đảng đó, hòa cùng một phe Cộng hòa hầu như đoàn kết.
Trở lại Thượng nghị viện, các thành viên Dân chủ đã có thêm thời gian để hoàn thành bản kế hoạch thỏa hiệp của mình, nhờ vào thủ đoạn của Reid. Với thời gian đó, Harry Reid đã thêm vào một người đồng bảo trợ cuối cùng, Thượng nghị sĩ Ken Salazar từ Colorado, một người không có kế hoạch chạy đua vào chiếc ghế tổng thống. Điều khoản đồng thuận cuối cùng được các kiến trúc sư của nó công bố vào thứ hai, ngày 19 tháng 6, tại phòng họp báo Thượng viện. Thượng nghị sĩ Levin nói với các nhà báo: “Tôi xin giới thiệu hôm nay, cùng với các Thượng nghị sĩ Reed, Feinstein, và Salazar, một điều khoản” thúc giục chính quyền “bắt đầu một cuộc tái bố trí quân Mỹ tại Iraq theo các giai đoạn vào cuối năm nay.” Điểm nhấn ở đây là vào tính hợp lý. Điều khoản, như Levin giải thích, là một sự tiếp nối của phê chuẩn Thượng viện vào năm 2005, bằng một kết quả bỏ phiếu là 79 so với 19, của ngôn ngữ đề nghị năm 2006 có thể tạo ra những điều kiện cho “sự tái bố trí theo các giai đoạn.” Ông cũng nói về ngôn ngữ trong điều khoản của mình, kêu gọi sự hội ý với chính quyền Iraq. Hillary đã không dự cuộc họp báo. Thay vào đó, bà đã trở về bang nhà của mình, như nhiều thượng nghị sĩ khác, biết rằng Thượng viện hiếm khi làm việc vào thứ hai.
Thượng viện cuối cùng quay sang vấn đề Iraq vào thứ tư. Mọi người biết rằng đó sẽ là một cuộc tranh luận gây bất đồng, nhất là khi một cuộc bầu cử giữa kỳ đang đến gần.
Levin một lần nữa nắm quyền dẫn dắt, giới thiệu điều khoản của mình. Ông được tiếp tục bởi Jack Reed, người tiến đến sàn Thượng viện và nói, “Tôi tham gia cùng với đồng nghiệp của mình, Thượng nghị sĩ Levin, cùng các Thượng nghị sĩ Feistein và Salazar, đưa ra điều khoản này.”
Đột nhiên, và không hề báo trước, Hillary xuất hiện trên sàn Thượng viện và muốn phát biểu.
Thông thường, những người phát biểu sẽ tuân theo thứ tự của thâm niên, với những người bảo trợ gốc của dự luật được đặc quyền phát biểu trước. Đang đợi đến phiên mình để phát biểu là Thượng nghị sĩ Feinstein, người đã được Harry Reid mời tham gia vào dự luật. Levin lúng túng. Ông điều khiển việc phân bổ thời gian trên sàn cho phe Dân chủ, và vì không muốn để người khác thấy như đội của ông thiếu sự đoàn kết trước phe Cộng hòa hay công chúng, ông chấp nhận yêu cầu bất ngờ của Hillary để lên sàn làm người phát biểu kế tiếp của phe Dân chủ.
Những lời nói đầu tiên của bà đã làm sửng sốt những người trong cuộc: “Tôi ủng hộ điều khoản của Levin, điều khoản mà tôi tự hào là một người đồng bảo trợ gốc.”
“Chúng tôi đã rất khó xử,” một phụ tá của một trong những người bảo trợ của điều khoản nói, bởi vì không ai báo cho họ biết rằng uy thế đột ngột của Hillary là đóng một vai trò lãnh đạo của điều khoản. Thực vậy, chỉ một vài phút trước đó, Reed, trong lời phát biểu của mình, đã không gộp Hillary vào trong danh sách đồng bảo trợ của mình. Và khi công bố điều khoản tại buổi họp báo vào thứ hai, Levin đã dùng cùng một danh sách – một lần nữa, không có Hillary.
Nhưng Hillary, với bản chất Hillary, đã lén lút xâm nhập vào vũ đài.
Điều khoản gốc đệ trình lên Thượng viện ghi “được đề xuất bởi ông Levin (cho ông ta, ông Reed, bà Feinstein, và ông Salazar).” Nhưng ở ngoài lề, bằng nét viết tay, một cái tên đơn lẻ đã được thêm vào: “Clinton.” Tên của bà đã được chèn vào, các báo cáo cho biết, vào ngày 19 tháng 6, đúng ngày Levin công bố điều khoản của ông tại buổi họp báo.
“Tôi vẫn nhớ mình nhìn thấy bản dự luật viết tay và tự hỏi điều gì đã xảy ra,” một viên chức Thượng viện lâu năm nhớ lại. Lời giải thích: Hillary đã “can thiệp một cách cá nhân” với Harry Reid, vị lãnh đạo phe Dân chủ. “Bà ta đã cưỡng ép để vào được.” Reid đã không thể nói không, một phụ tá Thượng viện cho biết, bởi vì Hillary là “người có quyền lực nhất trong số các đồng nghiệp,” là “ong chúa.”
Với việc cho thêm cả Hillary vào, quy tắc ngăn cấm các ứng cử viên đã bị xé bỏ. Và “một khi làm được một lần,” vị viên chức tiếp tục, “là coi như vỡ đập.” Joe Biden, một thượng nghị sĩ khác với những khát vọng tổng thống, người đã khám phá ra rằng Hillary là một đồng bảo trợ vào phút chót, cũng nhảy vào tham gia.
Đối với một vài người, thủ đoạn của Hillary có vẻ giống như một trò chỉ có người trong cuộc biết với nhau. Cuối cùng, cú chộp lấy cương vị đồng bảo trợ đã thoát khỏi sự chú ý của tất cả các phóng viên theo dõi cuộc tranh luận. Và nếu các phóng viên còn không đọc cái dự luật mà họ phải viết bài, thì tại sao công chúng lại phải chú ý nhiều đến cái tên của những người đồng bảo trợ gốc của dự luật cơ chứ? Tuy vậy, điều mà Hillary đạt được rất quan trọng và mang đầy tính biểu tượng. Ngay cả sau khi Kerry và Feingold đã làm dịu điều khoản ràng buộc của họ, lùi ngày cố định của việc rút quân từ tháng 12 năm 2006 sang tháng 7 năm 2007, họ cũng chỉ có thể tập hợp được mười ba phiếu ủng hộ điều khoản của mình. Hillary thì được khen ngợi vì đã có một sự thỏa hiệp thu hút được sự ủng hộ rộng hơn: ba mươi chín phiếu, một thành viên tự do thêm vào ba mươi tám thành viên Dân chủ. Ngoài ra sau này, khi cuộc chiến trở nên xấu đi, bà có thể cãi rằng mình đã từ lâu ủng hộ một giải pháp rút quân nào đó. Bà cũng có thể trưng ra vai trò của mình như một người “lãnh đạo” trong Thượng viện về an ninh quốc gia, coi đó là thêm một bằng chứng nữa của việc tại sao bà nên được bầu làm tổng thống.
Những phát biểu của Hillary trên sàn Thượng viện chứa đựng những tràng chỉ trích vẫn gặp chống lại phe Cộng hòa, quật cho cái sự sốt sắng của họ “mong thắng được các cuộc bầu cử tại nhà”, hơn là trình bày một “chiến lược để chiến thắng tại Iraq.” Bà lưu ý thương vong nặng nề của cuộc chiến đối với bang nhà: 116 người chết và hơn một ngàn người bị thương. Sau đó, lần đầu tiên trong các bài diễn văn trước công chúng của mình, Hillary đưa ra lời giải thích mới cho những hành động của mình trong năm 2002. Lời giải thích đã được sửa đổi này quả là trơ tráo một cách lạ thường đối với Levin, người vừa mới tử tế (có thể một phần là do bị sốc) chấp nhận cho bà lên sàn.
Hillary giải thích, quyền lực mà Quốc hội đã cấp cho Tổng thống Bush và chính quyền của ông ta bốn năm về trước đã bị “sử dụng sai mục đích”, vì họ “hành động mà không cho phép các thanh sát viên hoàn tất công việc hòng lao vào cuộc chiến.” Nói cách khác, Bush đã cẩu thả tiến hành các giải pháp ngoại giao. Hillary lại một lần nữa hoàn toàn coi thường lá phiếu của chính mình chống lại điều khoản vào năm 2002 của Levin, điều khoản bắt buộc tổng thống phải theo đuổi một giải pháp ngoại giao trước khi có bất kỳ một cuộc xâm lược Iraq nào.
Không một ai – kể cả giới báo chí hay những kẻ ngày thường vẫn đối lập với Hillary – nêu lên sự bỏ quên của Hillary về lá phiếu của bà vào năm 2002 chống lại giải pháp ngoại giao. Việc nhắm vào kết tội Bush sử dụng sai mục đích cái quyền được Quốc hội trao thế là đã diễn ra rất tốt, chẳng mấy chốc nó đã trở thành một giọng điệu chủ lực cho các bài diễn văn trong chiến dịch tranh cử của bà. Bà cũng tiếp tục đổ lỗi nhắm riêng vào tổng thống sau khi các tài liệu được gỡ mật mới đây chỉ ra trên thực tế đã không có một tin tình báo nào cho thấy có mối liên kết với Al Qaeda được đưa ra bởi Bush và Cheney – và cả Hillary.
NhỮng sỰ kiỆn diỄn ratrong một vài ngày sau đó dường như xác nhận tính hợp lý các sự sửa đổi đầy tính toán của Hillary.
Bà đã được hoan nghênh, không phải là la ó, tại một buổi tập hợp của các nhà hoạt động theo Đảng Dân chủ vào thứ sáu, ngày 23 tháng 6. Một số nhà hoạt động chống chiến tranh và những người chỉ trích bà trước kia giờ đây khen ngợi bà cho việc ủng hộ sự tái bố trí quân và tiến gần lại hơn với quan điểm của họ. Roger Hickey, người đã mời Hillary đến buổi hội nghị các nhà hoạt động nơi bà bị la ó, nói hành động của bà “là một bước đi mới đầy ý nghĩa cho bà và cho Đảng Dân chủ.”
Vài tuần sau, khi những cuộc thăm dò ý kiến cho thấy có sự bất mãn tăng lên của công chúng với cuộc chiến, Hillary liền công khai khích Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld đến một cuộc họp của Ủy ban Quốc phòng Thượng viện để trả lời các câu hỏi về Iraq. Rumsfeld ban đầu từ chối, lo sợ cuộc họp đó sẽ trở thành một đấu trường chính trị, nhưng cuối cùng ông thay đổi ý kiến. Hẳn ông đã phải hối hận về quyết định đó; ông đã bị tra hỏi một cách không khoan nhượng bởi người thượng nghị sĩ ít thâm niên tới từ New York. Có một lúc, dường như Rumsfeld sửng sốt trước tinh thần chính của những câu hỏi, đã kêu lên, “trời ạ,” trước khi đáp lại các nhận xét của Hillary. Những nguồn tin báo chí đã miêu tả Hillary là “chỉ trích gắt gao” vị bộ trưởng quốc phòng. Không lâu sau cuộc họp, bà đã tiến thêm một bước bằng việc công khai kêu gọi Rumsfeld từ chức.
Giờ đây, trên nền đất bang nhà còn vững chắc hơn nữa, Hillary từ chối việc tháng sau ra tranh luận với Jonathan Tasini, người thật sự là một đối thủ Dân chủ chống chiến tranh của bà, trước kỳ bầu cử chọn ứng cử viên thượng nghị sĩ của New York. Tasini thất vọng, phàn nàn với giới báo chí rằng phe Dân chủ đã không sẵn lòng để tranh luận “đề tài quan trọng hay ho nhất này.” Ngay cả những người ủng hộ Hillary trong ban biên tập tờ New York Times cũng khiển trách bà vì việc né tránh một cuộc tranh luận, nhưng bà vẫn không hề thay đổi lập trường của mình, và đảng của bang cũng đã đi theo sự dẫn dắt của bà.
Và chẳng ai ngạc nhiên khi Hillary dễ dàng giành thắng lợi trong ngày bầu cử chọn ứng cử viên thượng nghị sĩ. Không giống như Joe Lieberman, người đã bị sít sao đánh bại trong cuộc bầu cử của ông bởi một ứng cử viên chống chiến tranh là Ned Lamont, Hillary nghiền nát Tasini, giành được 83 phần trăm phiếu bầu.
Sau khi gạt được một đối thủ cánh tả trong cuộc bầu cử ứng cử viên, Hillary đối mặt với thành viên Đảng Cộng hòa John Spencer trong tổng tuyển cử. Spencer, một cựu thị trưởng của thành phố Yonkers, là một ứng cử viên vô tích sự, người cứ miêu tả đi miêu tả lại là Hillary mềm yếu trong an ninh quốc gia. Lối phê bình của Spencer là một đặc điểm chung của phe Đảng Cộng hòa mỗi khi đối mặt với phe Đảng Dân chủ, và trong khi dường như chẳng có lý do gì để Hillary cảm thấy đặc biệt bị đe dọa bởi vị cựu thị trưởng Yonkers này, thì bà lại một lần nữa thay đổi lập trường của mình. Tháng 9 năm đó, tại một buổi họp của Đảng Dân chủ về Iraq được bày ra cốt để nêu bật sự chỉ trích chính quyền về mặt quân sự, Hillary đã đến trễ. Buổi họp có sự góp mặt của ba cựu sĩ quan quân đội cấp cao vừa mới về hưu. Trước khi Hillary đến, họ đã công kích Rumsfeld là bất tài. Nhưng khi bà hỏi họ điều gì sẽ xảy ra nếu nước Mỹ rút quân khỏi Iraq theo một thời hạn được ấn định, cả ba người đều nói hậu quả sẽ thảm khốc. Một người chứng kiến buổi đó nói, “ Kết quả sẽ là một cuộc nội chiến ở một mức độ nào đó, rồi chuyển thành một mớ hỗn độn khu vực.” Chính xác, đây không phải là đường hướng thảo luận mà phe Dân chủ đã dự định, và buổi họp nhanh chóng kết thúc.
Trang web của Hillary sau đó nêu bật những lời chỉ trích Bush tại buổi họp nhưng bỏ qua mẩu đối thoại gây tranh cãi với các sĩ quan. Tuy vậy, những câu hỏi khiêu khích của bà, đã khiến một số thành viên Dân chủ trong Thượng viện phải càu nhàu mất vài ngày. Phe Cộng hòa, mặt khác, hân hoan và nhanh chóng tận dụng mẩu trao đổi trên cho lợi ích của mình. Họ công khai nêu rõ lời chứng nhận kia và vai trò của Hillary trong việc gợi cho nó được phun ra. Khi Mike DeWine, một thượng nghị sĩ Cộng hòa đang đối mặt với một cuộc đấu tái bầu cử cam go ở Ohio, được người dẫn chương trình Tim Russert, trên chương trình Gặp gỡ Báo chí của đài NBC, hỏi liệu kết tội phe Dân chủ là đánh rồi chạy thì có hợp lý hay không, ông này bèn nhanh chóng viện dẫn Hillary như một lời biện hộ. DeWine nói Hillary đã hỏi “một câu hỏi then chốt” tại buổi họp của Đảng Dân chủ, về việc điều gì sẽ xảy ra nếu đặt ra một ngày rút quân rõ ràng, và người ta trả lời rằng, hậu quả sẽ là “một sự hỗn loạn ở Iraq.”
Dù có thể do Hillary vẫn còn mâu thuẫn về cuộc chiến, hay đơn giản chỉ là do bà cẩu thả trong hiểu biết của mình, thì việc bà đặt câu hỏi cho các sĩ quan cũng đã khiến một số thành viên Dân chủ nhớ tới khuynh hướng làm việc theo kiểu tự tiện của bà, bất chấp những ưu tiên của đảng. Đã từ lâu Hillary là người vẫn kêu gọi cần có kỷ luật cao hơn nữa trong việc giữ vững hàng ngũ và giữ vững thông điệp. Một vài người tự hỏi, phải chăng thật sự ý bà là những người khác phải xếp hàng phía sau bà và theo sát các bước đi của bà khi bà tiến về phía trước?
Bất kể có rơi vào trường hợp nào, vào lúc đó, triển vọng của Hillary quay trở lại Nhà Trắng cũng đang trở nên tốt hơn. Những cuộc bầu cử giữa kỳ của năm 2006 báo hiệu sự bất mãn sâu sắc của cử tri đối với vấn đề Iraq và phe Cộng hòa. DeWine và nhiều đồng minh khác của Bush trong Quốc hội đã bị loại bỏ khỏi văn phòng khi phe Dân chủ nắm quyền điều khiển cả Hạ viện lẫn Thượng viện. Hillary dễ dàng nghiền nát Spencer, giành được hai phần ba số phiếu. Mục tiêu của bà, là Donald Rumsfeld, đã từ chức, và phe Cộng hòa dường như đã bị tan vỡ.
Hillary, trong đánh giá chính trị của mình về kỳ bầu cử, cho biết, “Người dân Mỹ đã gửi đi một cách quyết liệt và rõ ràng thông điệp của mình”, đó là “chúng ta cần vô cùng một đường lối mới.” Bằng luận điểm này, bà đã đi khắp nơi liên quan đến Iraq, phần nào bị lôi kéo bởi những chuyển đổi trong quan điểm của công chúng và tham vọng của chính bà nhằm tỏ ra mạnh mẽ và quyết đoán, những đặc điểm bà biết mình sẽ cần nếu một ngày kia trở thành tổng thống.
Khi đã hoàn tất những kế hoạch của mình cho cuộc chạy đua vào chiếc ghế tổng thống, Hillary hỏi những đồng minh chính trị từ New Hampshire về việc lá phiếu cho cuộc chiến của bà sẽ có kết quả như thế nào trong chiến dịch tranh cử tổng thống. Theo như bà thấy, bà có hai sự lựa chọn: vạch ra một “đường lối mới” để thoát khỏi vũng lầy Iraq của chính mình, hay tiếp tục ngoi ngóp trong “vùng trung dung có phần đơn độc,” nơi mà, như bà giãi bày với một phóng viên, bà thường chỉ thấy mỗi mình mình.
Một nơi mà chẳng bao lâu sau bà sẽ ít thấy đơn độc hơn chính là New Hampshire. Nhóm các ứng cử viên Đảng Dân chủ đang sắp mở rộng – và lần này, người thách thức sẽ là một vị thượng nghị sĩ còn ít thâm niên hơn cả Hillary.