NHỮNG TRÒ HỀ VẬN ĐỘNG CỦA JAMES CARVILLE trong thời gian Bill Clinton tranh cử tổng thống năm 1992, đã biến thành một truyền thuyết chính trị bởi bộ phim Căn phòng chiến tranh – bộ phim tài liệu mà lúc đầu được quay tại tổng hành dinh cuộc vận động tranh cử của gia đình Clinton, đặt trong tòa nhà cũ của tờ Arkansas Gazette ở Little Rock. Đồng đạo diễn của bộ phim, D. A. Pennebaker, là một bậc thầy của dòng điện ảnh tả thực, đã nắm bắt một cách xuất sắc những cuộc họp về chiến lược nằm ở trung tâm cuộc chạy đua hỗn loạn của Thống đốc Bill Clinton nhắm tới Nhà Trắng. Trong những cảnh nổi bật của phim có cảnh gia đình đầm ấm và mộc mạc kiểu miền Nam – “Quê ta đang lớn lên từng ngày,” cái giọng lè nhè của người miền Nam gốc Pháp hò lên vui vẻ – và một cảnh trong đó anh chàng George Stephanopulos mắng qua điện thoại, “Ông muốn làm trò cười à,” với một kẻ “tống tiền” chính trị nào đó, kẻ mà ngay buổi tối trước ngày bầu cử, đã đe dọa tiết lộ một trong những chuyện bí mật tình ái của ông Bill.
Nhưng không xa các máy quay phim, trong tòa nhà một tầng hình ống có mái bằng, chỉ cách dãy hành lang phía sau tòa nhà chính một đoạn, đang diễn ra các hoạt động thực sự quyết liệt của cuộc vận động bầu cử. Bên trong tòa nhà được các trợ lý chiến dịch đặt biệt danh là “boong-ke”, nhiệm vụ nguy hiểm nhất trong cuộc truy tìm chiếc ghế tổng thống cho Bill Clinton được giao cho một nhóm phần lớn là người vô danh và phụ nữ. Họ được biết tới một cách đơn giản là “Đội bảo vệ”. Đó là cái nhãn thích hợp cho một tập thể mà nhiệm vụ của họ là bảo vệ thành tích mười hai năm của Bill Clinton trong cương vị thống đốc bang Arkansas, dù rằng đó mới chỉ là một trong những nhiệm vụ ban đầu của họ. Người ta cũng hy vọng đội này sẽ giúp bảo vệ ông Clinton khỏi những cuộc tấn công vào hành vi cá nhân, kể cả lời cáo buộc về tính lăng nhăng với phụ nữ và việc ông cẩn thận né tránh luật quân dịch và cuộc chiến tranh Việt Nam. Ngoài ra, Đội bảo vệ còn lãnh một trách nhiệm không kém phần tế nhị: bảo vệ thành tích nghề nghiệp của Hillary và hành vi đạo đức của bà với tư cách một cộng sự của hãng luật Rose. Đội bảo vệ hành động như một tổ chức thám tử tư cứng rắn – tìm kiếm những manh mối, tập hợp các dữ kiện và không ngần ngại tung ra những cú đấm mạnh – chỉ khác một chỗ: họ làm tất cả những việc đó một cách lén lút, bí mật, không ai ngoài một nhóm rất nhỏ những người thân cận với gia đình Clinton biết những gì họ đang làm. Công tác bí mật của họ do Hillary trực tiếp giám sát.
Một thông báo nội bộ ngày 25 tháng 3 năm 1992, mà trước kia không được tiết lộ, xác định hơn bảy mươi lăm “vấn đề mà Đội bảo vệ phải đương đầu”, từ “những cú đánh vào cá nhân” Bill Clinton đến những vấn đề trong hoạt động tư pháp có liên quan tới chính quyền bang mà Hillary thực hiện. Sự hiện diện của bà trong danh sách này còn rất nổi bật: khoảng hai phần ba số vấn đề được nêu ra có liên quan tới cả Bill lẫn Hillary hoặc chỉ liên quan tới riêng Hillary. Các vấn đề liên quan tới cả hai người là trong lĩnh vực thuế và các báo cáo tài chính. Mười tám vấn đề chỉ liên quan tới công việc của Hillary tại hãng luật Rose, một vài vấn đề được đặt dưới tiêu đề “Ảnh hưởng thông qua bà HRC”.
Tính chất bao trùm của nhiệm vụ này đã trở nên rõ ràng ngay từ đầu đối với bà Diane Blair, một thành viên ban đầu của Đội bảo vệ và là người bạn thân thiết nhất của Hillary ở Arkansas. Blair, 53 tuổi, là giáo sư khoa học chính trị tại trường Đại học Arkansas. Nhiều năm sau, Blair nói, bà tin rằng Hillary coi bà như là người chị gái mà Hillary không có được. Vì thế đối với bà, việc bảo vệ gia đình Clinton gần như là việc nhà của mình.
Có rất nhiều thứ phải bảo vệ, nhưng không đủ thời gian, nhân lực để thực hiện. Khi David Ifshin, cố vấn của chiến dịch vận động, đến dinh thống đốc vào mùa thu năm 1991 để thảo luận về biện pháp tranh thủ báo chí, bằng cách bộc lộ một số vấn đề tiềm tàng có khả năng gây nguy hại, sự từ chối của Bill đã làm ông ta kinh ngạc. Ifshin nhớ rằng Bill đã nói, “Tôi không thể mở cái tủ sắt của mình ra... Tôi sẽ bị các bộ xương đè bẹp”. Như vậy công việc sắp tới không chỉ là tiết lộ có tính toán mà còn phải tích cực chôn giấu.
Vào tháng 3 năm 1992, ban vận động bầu cử còn gửi tín hiệu cầu cứu đến Betsey Wright, cựu trợ lý của Bill, yêu cầu bà quay về Little Rock từ trường Đại học Harvard, nơi bà đang làm nghiên cứu sinh tại trường Hành chính John F. Kennedy. Bên trong “boong-ke” của Đội bảo vệ, Wright thiết lập một “phòng kín” đặc biệt, chất đầy các kệ hồ sơ chứa những tài liệu nhạy cảm nhất, bao gồm những ghi chép cá nhân của Bill và những tài liệu lấy từ những năm ông làm công chức. Trong “boong-ke”, Diane Blair tập hợp một đội ngũ các nghiên cứu viên chăm chỉ và nhiệt tình, phần lớn mới vừa tốt nghiệp đại học – một tập thể mà bà đặt biệt danh là “Những cậu bé phòng kín”, bất chấp giới tính của họ.
Wright có một chiếc chìa khóa để vào căn phòng đặc biệt này, nhưng cả Hillary và Bill kiểm soát công việc của bà, cũng như công việc của bà Blair và những nhóm khác bên trong “boongke”. Không ai biết rõ điểm mạnh điểm yếu của Bill bằng Hillary, cho nên bà đương nhiên trở thành người quản lý việc ứng xử của Đội bảo vệ trước những câu hỏi được đặt ra, không chỉ về cuộc sống công cộng và riêng tư của Bill mà cả về sự nghiệp chuyên môn của chính bà. Tất cả những chuyện này là một phần của một danh mục có tính chất nền tảng cho cả hai vợ chồng của một ứng viên tổng thống. “Bà ấy là “tay chơi” quan trọng trong chiến dịch tranh cử đó, không chỉ với tư cách nhân viên chiến dịch mà như là một nhân vật trong sự nghiệp của chính mình,” chủ tịch ban vận động, ông Mickey Kantor, nói. Ông còn nói thêm rằng, “Không một quyết định nào được đưa ra khi chưa có ý kiến của bà ấy bởi vì bà có cái nhìn rõ ràng về Bill và những gì ông ấy muốn đạt được.”
Do cần thiết hơn là do lựa chọn, Hillary đã buộc phải đảo ngược nghi thức vận động tranh cử. Theo truyền thống, vợ của một ứng cử viên thường chiều theo các nhà chiến lược lão thành của ứng cử viên đó, nhất là khi phải đương đầu với những câu hỏi hóc búa của cánh phóng viên báo chí. Nhưng Hillary kiểm soát chặt chẽ các hành động và thông điệp của mình; bà tập hợp một đội ngũ chuyên viên riêng cho mình gồm một số phụ tá có hưởng lương, đồng thời tìm kiếm lời khuyên từ hàng chục bạn bè thân thiết ở khắp cả nước. Sau này bà viết về vai trò to lớn của mình trong cuộc vận động năm 1992 như sau: “Tôi thì khác, và điều đó sẽ ngày càng rõ ràng trong những tháng sắp tới.”
Hoạt động bảo vệ của Hillary trải rộng, từ những việc nhiều cảm hứng đến những việc nhỏ nhặt, những việc hạ cấp và thậm chí bẩn thỉu. Bà nhận những thông báo nội bộ về tình trạng của rất nhiều cuộc điều tra khác nhau trên báo chí; bà giám sát chặt chẽ các phụ tá cao cấp của chiến dịch; lắng nghe những cuộn băng bí mật ghi âm các cuộc trò chuyện điện thoại của những người phê phán Clinton, đang hoạch định cuộc tấn công kế tiếp của họ. Cuộn băng chứa những cuộc thảo luận về một người đàn bà khác nữa, người sau này sẽ nổi lên với những lời tố cáo rằng mình đã ngoại tình với Bill. Các ủng hộ viên của Bill theo dõi tần số mà các máy điện thoại di động sử dụng và các cuộn băng ghi âm bí mật được thực hiện từ một trong các cuộc theo dõi như vậy.
Nhiều thứ đã thay đổi kể từ cái khoảnh khắc mười tám năm về trước, khi Hillary giật mình kinh hãi với lời đề nghị cuộc vận động tranh cử của Clinton nên sử dụng những phương pháp hạ cấp để thu hút cử tri ở vùng nông thôn Arkansas. Nhưng một lần nữa cơ hội của Bill Clinton lại trở nên bấp bênh do những lời đồn đại về tính trăng hoa của ông. Và lại một lần nữa, Hillary tìm cách giảm thiểu mối de dọa – và nếu phải đứng ra thu xếp một cuộn băng ghi âm được thực hiện trong một tình huống đáng ngờ thì bà sẽ làm như vậy.
Hai vấn đề rắc rối nhất mà Bill Clinton phải đương đầu là phụ nữ và luật quân dịch. Hillary, ở nơi công cộng cũng như trong chốn riêng tư, đều suy tính kỹ lưỡng về hai vấn đề này. Vào tháng 10 năm 1991, vài tuần trước khi Bill Clinton công bố sẽ ra tranh cử tổng thống, vợ chồng ông đã lặng lẽ gặp mặt một nhóm phóng viên báo chí trong một nghi thức quen thuộc ở Washington, gọi là bữa điểm tâm Sperling, đặt theo tên của Godfrey Sperling Jr., ở tờ Christian Science Monitor. Ý tưởng của cuộc gặp là đưa ra một đòn tấn công ngăn chặn vấn đề lăng nhăng với phụ nữ. Hillary là người đưa ra ý tưởng đó và bà cũng đã vạch ra cho Bill những luận điểm để sử dụng khi trả lời những câu hỏi về cuộc hôn nhân giữa hai người.
Cuộc gặp được tổ chức vào tháng chín, trong một khách sạn ở thủ đô Washington. Hillary có mặt ở đó để làm cái việc mà sau này một phóng viên nhớ lại là “sự miễn nhiễm điển hình,” khi Bill nói với các nhà báo rằng “mối quan hệ của chúng tôi không thực sự hoàn hảo hoặc không gặp khó khăn.”
Ngay sau đó, vào tháng 1 năm 1992, cuộc trò chuyện giữa Bill và cựu ca sĩ phòng trà Gennifer Flowers xuất hiện trên một tờ báo lá cải chuyên phát miễn phí ở siêu thị, tờ Star-Flowers. Flowers đã bí mật ghi âm cuộc trò chuyện, tuyên bố cô ta và Bill đã có một cuộc tình kéo dài mười hai năm. Khi biết bài báo sắp được đăng, Bill nhanh chóng gọi điện cho Hillary, lúc ấy đang đi vận động tranh cử ở bang Georgia và ở trong dinh thống đốc của bang đó. Sau này Bill viết lại rằng, ông “đã kể cho bà ấy nghe những gì đang xảy ra.” Những lời cáo buộc ấy, cho dù Bill phủ nhận, “đã gây sốc với sức mạnh của thuốc nổ”.
Hillary lo lắng về tác động chính trị tiềm tàng của việc đó nhiều hơn là đức ông chồng. Khi những cuộn băng ghi âm xuất hiện, Hillary đang ở thành phố Pierce, bang South Dakota. Bà nhanh chóng gọi điện cho Bill. Trong khi đó, Bill, vẫn còn khá tự tin, cứ nghĩ rằng sẽ chẳng ai tin vào câu chuyện của Flowers, nhất là khi tờ Star phải trả tiền để có được câu chuyện ấy. Nhưng Hillary hét lên: “Bill này, những người chưa biết tới anh sẽ nói, tại sao anh lại đi trò chuyện với hạng người này?”.
Bà đã nhận định đúng: Những lời tố cáo của Gennifer Flowers đã trở thành miếng mồi ngon nhất cho báo chí và vụ tai tiếng nhanh chóng lây lan với sự sốt sắng khác thường. Chẳng bao lâu sau đó, Đội bảo vệ của ban vận động tranh cử đã thuê một thám tử tư, người đề nghị “buộc tội tính cách và sự trung thực [của Flowers] cho đến khi cô ta bị hủy diệt đến mức không thể nhận ra được nữa.” Nhưng cho dù Flowers bị bôi nhọ đến mức nào, sự chú ý của công chúng vẫn tập trung vào viên thống đốc chứ không phải vào bà Gennifer.
Ngày 26 tháng 1, gia đình Clinton xuất hiện trong chương trình tin tức “60 phút” của đài truyền hình CBS để bảo vệ cuộc hôn nhân của mình và xoa dịu vụ tai tiếng. Cuộc phỏng vấn được ghi hình vào sáng chủ nhật trong một căn phòng của khách sạn Ritz-Carlton ở Boston và được phát sóng cho một lượng khán giả đông đảo vào tối hôm ấy, ngay sau chương trình Super Bowl. Người phỏng vấn, nhà báo Steve Kroft, và các đồng nghiệp của anh ở đài CBS, rất ít nghi ngờ rằng chính Hillary mới là người phụ trách công việc, từ việc xem xét các góc quay để đặt camera đến sự nổi bật của bà trong suốt cuộc phỏng vấn.
Nhưng công tác lập kế hoạch còn đi xa hơn những gì được nhìn thấy trên màn hình tivi. Từ công việc mà các nhóm tập trung đặc biệt thực hiện trong quá trình vụ bê bối lan rộng, hai vợ chồng này đã học cách chặn đứng việc sử dụng từ “ngoại tình”. (Các nhóm này tiết lộ rằng lớp người phụ nữ lớn tuổi phản ứng đặc biệt mạnh mẽ với tất cả các cuộc thảo luận nào về tội ngoại tình và lừa dối.) Được trang bị bằng thứ ngôn ngữ được soạn thảo cẩn thận để đạt được lợi ích chính trị tối đa, Bill và Hillary chuẩn bị để phát biểu một cách hoa mỹ về những hành vi không chung thủy của Bill trong quá khứ. Trong một nhận xét rất đáng nhớ, Bill chỉ đơn giản thừa nhận rằng “đã gây đau khổ cho cuộc hôn nhân của mình.”
Còn lời phát biểu được trích dẫn nhiều nhất của Hillary từ cuộc phỏng vấn này là cả một tai họa và phải cần tới một ngôi sao điện ảnh Hollywood giúp đỡ mới làm sạch được nó.
Khi ông Kroft gợi ý rằng, cuộc hôn nhân của họ có vẻ giống như một “sự sắp đặt,” Bill nhanh chóng bác bỏ và nhấn mạnh rằng, “Đây là một cuộc hôn nhân.” Hillary cũng hoài nghi và nói lên sự giận dữ của mình.
“Anh biết đấy, tôi không ngồi ở đây như một người đàn bà nhỏ bé nào đó bên cạnh người đàn ông của mình, là Tammy Wynette,” Hillary nói, giọng lồng lên còn đôi mắt thì rực sáng. “Tôi đứng đây bởi vì tôi yêu anh ấy, tôi kính trọng anh ấy và trân trọng những gì anh ấy đã trải qua, những gì chúng tôi đã cùng nhau trải qua. Và anh biết đấy, nếu như thế là vẫn chưa đủ với mọi người thì, đừng bỏ phiếu cho anh ấy.”
Việc đề cập đến tên của một nữ ca sĩ nhạc đồng quê nổi tiếng nhanh chóng gây nên một cơn bão lửa. Sau khi xem chương trình truyền hình, Wynette đã lập tức gọi cho người quản lý của mình, bà Evelyn Shriver, và hỏi, “Chị có thể tin những lời bà ta nói không?” Ngày hôm sau, trợ lý của Hillary gọi điện thoại cho Wynette để sắp xếp một buổi xin lỗi, nhưng bà không nhấc máy. Sốt ruột muốn xếp vụ xôn xao này lại sau lưng, người của Hillary đã phải nhờ diễn viên Burt Reynolds dàn xếp với người ca sĩ này. Reynolds “bảo Tammy rằng bà cần phải nói chuyện với bà ấy,” và Tammy đã mủi lòng, chấp nhận lời xin lỗi với tư cách cá nhân của Hillary. Trong cuốn tự truyện của mình, Hillary thú nhận rằng mình đã bất cẩn khi chọn lựa từ ngữ; bà nói rằng mình chỉ có ý định đề cập tới bài hát nổi tiếng của Wynette “Đứng bên người đàn ông của bạn”, chứ “không phải đề cập tới con người cô ấy”.
Đối với hàng triệu người Mỹ, cuộc phỏng vấn trong chương trình “60 phút” là lần đầu tiên họ nhìn thấy gia đình Clinton. Ông Bill, rõ ràng là người có tội, bị lãnh vài cú tấn công nhưng vẫn đứng vững được. Trong khi đó, Hillary, rõ ràng là nạn nhân, lại không đứng vững được. Bà sẽ phải mất vài năm để sửa chữa một số điều phương hại cho hình ảnh của bà, gây ra bởi sự xuất hiện lần đầu tiên của bà trước công chúng trong một chương trình truyền hình, vào khoảnh khắc vàng trong ngày. Về sau bà sẽ đổ lỗi cho cựu Tổng thống Richard Nixon là người khởi động hàng loạt cuộc tấn công nghiêm trọng, ở quy mô toàn quốc nhắm vào bà. Vài hôm sau ngày vợ chồng Hillary xuất hiện trên đài CBS, ông Nixon nói với nhà báo Maureen Dowd của tờ New York Times rằng, “Nếu như bà vợ tỏ ra quá mạnh mẽ thì ông chồng trông sẽ rất yếu đuối.” Sau này Hillary giải thích, “Có thể ông ấy bực bội với tôi chỉ vì tôi là nhân viên trong nhóm luận tội ông ấy – và ông ấy có trí nhớ rất dai – nên ông ấy đã đặt nền móng cho một cuộc tấn công nhắm vào tôi, mà trường hợp này đúng là như vậy.”
Trở lại Little Rock, một vài nhân viên trẻ, bên ngoài tiểu bang, làm việc cho chiến dịch vận động tranh cử, cảm thấy chán nản khi thấy Hillary âu yếm chồng trên truyền hình quốc gia một cách có tính toán, nhằm thu hút phiếu bầu. Họ hiểu rằng quyết định của Hillary gắn bó với Bill bị tác động mạnh từ khát vọng của bà muốn làm những gì tốt nhất cho Chelsea, một điều mà sau này chính Hillary cũng thừa nhận. Nhưng đối với một vài nhân viên của ban vận động tranh cử, chừng ấy cũng chưa đủ lý lẽ. Thế là trong một đêm không lâu sau cuộc phỏng vấn trên chương trình truyền hình “60 phút”, tại căn phòng của ban vận động trong ngôi nhà cũ của tờ Arkansas Gazette, một trợ lý trẻ tuổi đánh bạo yêu cầu bà Diane Blair giải thích về lý do vì sao Hillary gắn bó với Bill. Bà Blair đáp, “Hillary biết mình sẽ dính vào chuyện gì khi bà ấy lấy ông ta làm chồng.”
Ngay sau đó, bà Blair phê phán luôn, “Công việc của cô là làm cho ông ấy thắng cử, cho nên hãy quay lại công việc đi.” Theo kết luận của Blair, “Giành được chức tổng thống thì tất cả những việc đó đều đáng công đáng sức.” Người trợ lý cảm thấy cái triết lý đó “quá giống cuộc mặc cả đổi linh hồn cho quỷ của Faust,” nhưng cô vẫn phải quay lại với công việc. Trước đó rất lâu Hillary đã làm ra một thỏa thuận của riêng bà với Bill; không một lời tố giác nào về tính lăng nhăng của Bill, dù chính xác hay không, được phép cản trở con đường đi đến mục tiêu chung của hai người. Và nếu như bà chấp nhận tất cả chuyện đó thì tại sao người khác lại phản đối?
TẤT NHIÊN NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA BILL không biến mất cùng với sự biến mất của Gennifer Flowers. Chẳng bao lâu sau, hàng loạt những câu hỏi về hoạt động quân dịch của ông ấy đã làm điêu đứng cuộc vận động tranh cử. Hillary cũng tham gia giúp điều phối việc xử lý vấn đề này, theo sát việc quản lý vấn đề của ban vận động, thậm chí còn vạch ra cách thức mà ban vận động tiếp cận các cựu quan chức của Ủy ban Quân dịch[1].
Những diễn tiến trong lịch sử quân dịch của Bill Clinton đã được biết rất rõ. Cũng như những người khác cùng thế hệ với mình, ông đã phải đương đầu với một tình thế tiến thoái lưỡng nan rất khổ sở: triển vọng phải chiến đấu trong một cuộc chiến không được lòng dân mà bản thân ông cũng không tin tưởng. Bill đã ghi tên theo học Đại học Georgetown như một sinh viên chưa tốt nghiệp, sau đó ông chuyển sang Đại học Oxford với tư cách người được học bổng Rhodes, nhưng trên đầu ông vẫn treo lơ lửng một nguy cơ có thật của tờ giấy gọi nhập ngũ. Vào tháng 7 năm 1969, sau năm học đầu tiên tại Oxford, Bill đồng ý tham gia chương trình huấn luyện sĩ quan dự bị (ROTC) tại Đại học Arkansas. Làm như vậy ông sẽ được hoãn quân dịch. Một khi thông báo gọi nhập ngũ của ông được bãi bỏ, ông quay trở lại Oxford – cách xa Arkansas vài ngàn dặm – và không bao giờ thực sự tham gia chương trình ROTC. Không có biện pháp nào buộc Bill phải hồi hương, ông vẫn ở lại Anh dù rằng chưa phải đã thong dong.
Vào ngày 30 tháng 10, vài tuần trước khi trò bốc thăm gia nhập quân đội bắt đầu, Bill lại được phân loại là đủ tiêu chuẩn gia nhập quân đội. Đến tháng 12, sau khi rút được lá thăm có con số rất cao 311, ông chính thức rút tên ra khỏi chương trình ROTC mà ông chưa bao giờ tham gia thật sự và nộp đơn xin học trường luật Yale. Giống như một số người thuộc thế hệ của ông, nhưng không phải là tất cả, Bill tìm cách vượt qua mê cung rối rắm của việc thi hành nghĩa vụ quân sự.
Nhưng nhiều câu hỏi về cuộc hành trình đó vẫn chưa có câu trả lời. Người ta chịu đựng những câu hỏi này bởi vì các tài liệu quan trọng từ hồ sơ lưu trữ của các cơ quan chính quyền hoặc các trường đại học đã bị thất lạc; vài nhân chứng chủ yếu đã qua đời; các trợ lý thì không nhớ chính xác; còn bản thân Bill thì rất miễn cưỡng, không sẵn sàng cung cấp những chỉ dẫn cần thiết, kể cả trong cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 1992 lẫn trong cuốn tự truyện bán rất chạy, My Life, mà ông viết sau này.
Tình trạng quân dịch mù mờ của Bill nổi bật trên diễn đàn tranh cử vào đầu tháng 2 năm 1992, vào đêm trước của cuộc bầu chọn ứng cử viên đại diện Đảng Dân chủ tổ chức ở New Hamsphire, khi tờ Wall Street Journal đăng bài tường thuật về quan hệ giữa Bill với chương trình huấn luyện sĩ quan dự bị ROTC của trường đại học. Sau đó không bao lâu, chương trình Nightline của đài truyền hình ABC phát hiện ra bức thư Bill gửi cho đại tá Eugene Holmes vào năm 1969, Giám đốc chương trình ROTC của trường Đại học Arkansas. Trong thư, Bill bày tỏ sự phản đối chiến tranh và tỏ lòng biết ơn vì “đã cứu tôi khỏi lệnh quân dịch” bằng cách cho hoãn dịch. Hillary tham gia vào các cuộc họp bàn cách xử trí phát hiện mới này và theo sát từng bước cái cách mà bộ máy vận động tranh cử xử lý những câu hỏi dai dẳng về tình trạng quân dịch của Bill; chẳng hạn bà đã ngăn cản ý định của Bill khi muốn đưa bức thư lên chương trình truyền hình Nightline cùng với ông.
Sở thích chọn sự che giấu hơn là phơi bày của Hillary đã trở thành đặc điểm nhất quán trong phản ứng của ban vận động. Khi lá thư gửi đại tá Holmes xuất hiện thì Jim Wooten, phóng viên đài truyền hình ABC, hỏi Bill có phải ông đã nhận được giấy gọi thi hành luật quân dịch trước khi ông ghi tên tham dự chương trình ROTC hay không. Vị ứng cử viên đã phủ nhận điều đó. Wooten nghi ngờ rằng câu trả lời không đúng sự thực, nhưng mãi về sau này ông mới nhận ra rằng Bill đã nói với ông một “lời nói dối trắng trợn”. Đây không phải là tuyên bố sai duy nhất mà Bill đưa ra trong quá trình vận động tranh cử.
Hơn một thập niên sau, chính Bill đã thừa nhận rằng đó là một “phát biểu sai” mà ông phải tuyên bố trên con đường vận động tranh cử, “Tôi chưa bao giờ được hoãn quân dịch cả.” Trước sau như một Bill Clinton luôn phủ nhận việc né tránh luật quân dịch, nhưng cử tri thì nhất mực nghi ngờ. Bị tấn công tới tấp vì chuyện này và do tác động tai hại từ những lời tố cáo của Gennifer Flowers, vị trí của ông tụt giảm nhanh trong các cuộc thăm dò ý kiến. Tuy vậy, ông và đội ngũ vận động của mình kiên cường đánh trả và kết cục ông xếp thứ ba trong cuộc đề cử ứng viên của Đảng tại New Hamsphire. Việc ông không bị xếp hạng thấp hơn nữa được coi là một thắng lợi và cuộc vận động tranh cử của ông được tiếp tục với ý thức về một động lực mới.
Tuy nhiên, vấn đề quân dịch vẫn còn đó. Bill chưa bao giờ quan tâm đầy đủ đến việc liệu ông đã từng nhận được giấy gọi nhập ngũ hay chưa. Nếu ông đã có lệnh phải ra trình diện thì bằng cách nào mà lệnh đó dường như đã được hủy bỏ. Và ngoài viên đại tá Holmes liệu Bill có còn mắc nợ ai khác nữa vì đã cứu ông khỏi lệnh quân dịch?
Những câu hỏi này được giới báo chí và các đối thủ của Clinton đeo bám nhưng không thành công lắm. Đây không phải là những vấn đề duy nhất được cất giữ trong bóng tối, mà nhiều gương mặt khác của cuộc vận động, như James Carville và George Stephanopoulos, cũng giấu mặt như vậy. Trong một cuộc họp tại dinh Thống đốc ngày 27 tháng 12 năm 1991, Stephanoupoulos nêu vấn đề quân dịch như là một khó khăn tiềm tàng cho cuộc vận động. Ông ta bảo gia đình Clinton rằng, “Chúng ta cần những câu trả lời mạnh mẽ hơn.” Lập tức Hillary điên tiết lên và trả miếng ngay, “Bill sẽ không xin lỗi vì đã chống lại cuộc chiến tranh Việt Nam.”
Đây là chuyện cá nhân. Giống như nhiều người đàn ông đến tuổi quân dịch và người yêu của họ, Bill và Hillary từ lâu đã suy nghĩ rất nhiều về vấn đề Việt Nam. Sau này Hillary viết lại trong tự truyện, “Lần đầu tiên gặp Bill, chúng tôi trò chuyện không ngừng về cuộc chiến tranh Việt Nam, về luật quân dịch và những nghĩa vụ trái ngược nhau mà chúng tôi cảm thấy như những thanh niên Mỹ yêu nước nhưng chống lại cuộc chiến tranh đặc thù đó.” Bà nói thêm rằng Bill “sẽ phục vụ nếu như anh ấy được gọi.” Nhưng ông ấy đã được gọi và ông ấy không bao giờ phục vụ. Câu hỏi mà các nhà báo theo đuổi là tại sao lại như vậy.
Năm 1992, gần như tất cả các tài liệu về quân dịch của Bill tại các kho lưu trữ chính thức đều đã bị tiêu hủy, theo một mệnh lệnh có từ giữa thập niên 1970 của cơ quan điều hành luật quân dịch. Nhưng không một nhà báo nào biết rằng ban vận động tranh cử của Clinton có trong tay bản sao nhiều tài liệu hết sức quan trọng mà bản gốc đã bị tiêu hủy. Trong số tài liệu này có một “Lệnh trình diện nhập ngũ” ghi ngày 1 tháng 4 năm 1969, do Ủy ban quân dịch thành phố Hot Springs ký; một sự trì hoãn tuyển quân và một thông báo bãi bỏ phát hành ngày 23 tháng 7 năm 1969, vài ngày sau khi Bill đồng ý tham gia chương trình ROTC.
Trong nhóm thân cận của gia đình Clinton chỉ có vài người biết rằng ban vận động tranh cử đã tiếp cận được bản gốc lệnh gọi ông ta nhập ngũ ngày 1 tháng 4. Thông báo hủy bỏ lệnh đó vào ngày 23 tháng 7 ẩn chứa một thông tin tối quan trọng khác – tên của quan chức đã ký thông báo bãi bỏ lệnh gọi nhập ngũ đối với Clinton.
Tháng 4 năm 1992, cuộc săn lùng của báo chí đối với những tài liệu này càng trở nên quyết liệt sau khi Cliff Jackson, bạn đồng hương của Bill tại trường Đại học Oxford mà sau này trở thành một kẻ thù quyết liệt của ông, tiết lộ một lá thư ông viết năm 1969 cho thấy trong thực tế Bill đã nhận được giấy gọi nhập ngũ. Hillary đã tham dự một số cuộc họp ở New York được triệu tập để xác lập cách thức mà ban vận động sẽ đáp ứng lại lá thư của Jackson. Lần đầu tiên và muộn màng, ban vận động công nhận rằng trong thực tế ông Bill đã nhận được giấy báo nhập ngũ. Tuy nhiên, ban vận động quyết định không đưa tờ giấy báo đó ra, mặc dù báo chí yêu cầu rất nhiều.
Trong khi đó Bill và Hillary rất lo lắng về công trình nghiên cứu vấn đề quân dịch của Đội bảo vệ, kể cả những nỗ lực của họ nhằm xác định chắc chắn những bản ghi nào vẫn còn trong các kho lưu trữ của chính quyền. Ngày 20 tháng 4 năm 1992, một phụ tá ban vận động gửi email báo cáo rằng “Bill và Hillary rất sốt ruột” và “muốn lập tài liệu về nơi chúng ta yêu cầu các bản ghi có liên quan tới Bill Clinton và lập tài liệu về những gì người ta bảo chúng ta, đó là việc cần được ưu tiên.” Trong một thông báo nội bộ ban vận động, Bill được báo cáo rằng tình trạng quân dịch của ông và các tài liệu ROTC hình như đã bị tiêu hủy. Tuy nhiên, ban vận động không thể khẳng định chắc chắn và vấn đề này khó có khả năng trở nên trầm trọng hơn so với tình trạng hiện nay.
Hillary và những người còn lại trong Đội bảo vệ bí mật cân nhắc xem Bill có nên rũ sạch những hồ sơ mà ông có hay không. Có người đề nghị để ông phát biểu rằng: “Rõ ràng mọi hồ sơ từng tồn tại nay đã bị tiêu hủy. Thế rồi tôi lục lọi trong đống hồ sơ cũ của mình và phát hiện ra những tài liệu đính kèm mà trước đây tôi không biết là mình có”. Nhưng vì lời phát biểu như thế chứa đầy rủi ro, cho nên nó đã không bao giờ được nói ra. Thay vì vậy, Bill trấn an các nhà báo rằng, sau khi đã viết thư cho “tất cả mọi người trên khắp thế giới”, ông và các phụ tá “đã không tìm thấy gì từ bất cứ người nào mà ông gửi thư đã được viết trên báo chí,” lời nhận xét đó của ông là thật bởi vì các tài liệu lưu trữ gần như trống không.
Trong lúc đó việc cho thấy rằng trong thực tế Bill từng nhận được giấy báo nhập ngũ đã gây nên một vấn đề mới cho ban vận động. Viên chức chịu trách nhiệm về chương trình huấn luyện ROTC đã từng tiếp nhận Bill nói với một phóng viên rằng họ “lẽ ra đã không tiếp nhận ông ta” nếu như họ biết về cái giấy báo nhập ngũ đó. Dưới sự hướng dẫn của Bill và Hillary, các phụ tá của ban vận động đã tiến hành tham vấn các luật sư bên ngoài – những luật sư này bảo họ rằng về mặt luật pháp, Bill vẫn có thể gia nhập chương trình ROTC ngay cả sau khi ông đã nhận giấy báo nhập ngũ. Nhưng các phụ tá ban vận động thì không tin chắc như vậy. Trong một thông báo nội bộ gửi cho Bill vào tháng 4 năm 1992, họ viết rằng, “Trong mọi hoàn cảnh chúng tôi không tìm thấy một phương cách nào mà theo đó thống đốc có đủ điều kiện gia nhập vào chương trình ROTC khi đã có một giấy báo nhập ngũ chờ được thi hành”.
Tuy vậy, kết luận của họ để ngỏ cái khả năng về một “ngoại lệ hoặc sự miễn trừ đặc biệt” có thể cho phép tờ giấy báo nhập ngũ của Bill được “né tránh một cách thành công”. Các lệnh gọi nhập ngũ được ban hành bởi các ủy ban quân dịch ở các địa phương, nhưng các ủy ban này là vô danh, cho nên các tiêu chuẩn áp dụng rất khác nhau và có thể bị áp lực từ bên ngoài. Ở Arkansas cũng như ở các bang khác, áp lực chủ yếu có thể ảnh hưởng đến quyết định của các ủy ban này là giám đốc ủy ban quân dịch cấp bang.
Ban vận động biết rằng giấy báo nhập ngũ của Bill đã được trì hoãn do thẩm quyền của giám đốc ủy ban quân dịch bang Arkansas, đại tá Willard Hawkins, và sau đó được hủy bỏ theo yêu cầu của người phó của ông Hawkins là thiếu tá Middleton P. Ray Jr. Ông Hawkins đã qua đời nhưng ông Ray vẫn còn sống và hiện sống tại thành phố Little Rock. Vào thời điểm đó, cá nhân Hillary có tham gia vào việc phê chuẩn các cuộc đối thoại với các chuyên gia về luật quân dịch và trình tự chọn lọc các tài liệu nhạy cảm như nhật ký cá nhân từ những ngày sinh viên của Bill. Bà nhấn mạnh rằng, ban vận động tranh cử phải cố gắng nói chuyện với ông Ray trước khi những người Cộng hòa hoặc báo chí thực hiện việc đó. “Hillary nghĩ chúng tôi nên lấy được lời phát biểu bằng văn bản của ông Middleton Ray trước khi một người nào khác lấy được nó,” bà Betsey Wright nói với một phụ tá vào ngày 6 tháng 5 năm 1992.
Dựa trên những cuộc nói chuyện mà ban vận động tranh cử đã thực hiện với ông Ray, họ có cảm giác yên tâm rằng ông sẽ không nói với báo chí về hồ sơ quân dịch của Bill. Tuy vậy, thành viên ban vận động vẫn muốn thực hiện nghiên cứu thêm để phòng khi người ta tìm đến ông Ray, “ông ấy sẽ nói những gì chúng tôi muốn ông ấy nói ra.” Về cơ bản, một phát ngôn đúng đắn có thể làm triệt tiêu toàn bộ câu chuyện.
Cuối cùng mối quan tâm của họ đã trở thành vô ích: ông Ray gần như bị báo chí và các đối thủ của Bill quên lãng. Ông chỉ được dẫn lời một cách vắn tắt trong một bản tin vào tháng 9 năm 1992, khi ông kể với tờ Los Angeles Times rằng các giám đốc cấp bang có thể yêu cầu ủy ban quân dịch địa phương xem xét lại liệu một người bị động viên có đủ tư cách hay không và việc hủy bỏ lệnh gọi nhập ngũ cũng thường xảy ra khi một người bị động viên vào bộ binh lại đăng ký tham gia hải quân hay một ngành quân đội khác. Ông Ray đưa ra lập luận rằng lệnh gọi nhập ngũ của Bill chắc đã bị hủy bỏ, bởi vì ông không bao giờ bị buộc phải báo cáo về tuyển quân. Nhưng phóng viên viết bài báo trên tờ Los Angeles Times tháng chín năm ấy, ông William Rempel, đã không phát hiện ra rằng lệnh gọi nhập ngũ của Bill đã bị hủy bỏ bởi chính ông Ray. Rempel viết: “Phóng viên tờ The Times không tìm thấy tài liệu nào về việc bãi bỏ chính thức giấy báo nhập ngũ của ông Bill trong hồ sơ lưu trữ của ủy ban quân dịch, hoặc theo bà [Betsey] Wright, trong hồ sơ của ông Clinton”. Và trường hợp của Ray chỉ có thế. (Bản liệt kê chi tiết nhất về kinh nghiệm quân dịch của Bill đã được xuất bản – một bài tường thuật dài 56 trang được tôn lên làm tiểu sử của David Maraniss có nhan đề First in His Class – thậm chí còn không hề nhắc đến tên ông Ray.)
Bài báo trên Los Angeles Times và một bài báo khác đăng trên tờ New York Times, cố gắng thâm nhập vào một câu chuyện bổ sung, mà ban vận động tranh cử từng kể lại về vai trò mà văn phòng của Thượng nghị sĩ J. William Fulbright đóng góp trong việc đưa Bill vào chương trình ROTC, bằng cách đó giúp ông tránh được việc thi hành lệnh gọi nhập ngũ. Trong thời gian theo học Đại học Georgetown, Bill đã từng làm thư ký cho vị nghị sĩ già đại diện bang Arkansas. Cũng như nhiều người khác, anh sinh viên Bill Clinton chịu ảnh hưởng của nghị sĩ Fulbright và vai trò lịch sử của ông trong việc làm thay đổi quan niệm của công chúng nhằm chống lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Bản thân Bill nhiều lần phủ nhận rằng đã nhận được sự đối xử đặc biệt của các viên chức ủy ban quân dịch. “Chắc chắn rằng tôi không có ô dù nào để nhận được điều đó,” ông nói. Nhưng ban vận động đã đưa ra những ghi nhận rất khác nhau về chuyện Bill có tiếp xúc với ông Fulbright hay không và luôn khẳng định rằng mọi yêu cầu được đưa ra đều có quan hệ mật thiết với việc xác định “lựa chọn của ông ấy là gì.”
Các nhà nghiên cứu hàn lâm và các nhà báo miệt mài nghiền ngẫm những hồ sơ tài liệu của Nghị sĩ Fulbright tại Đại học Arkansas, một số tài liệu này hiện vẫn còn bị hạn chế tham khảo. Thông qua một sự tiết lộ không chính thức mà tờ Los Angeles Times có được một ghi chú của Lee Williams, người phụ tá hàng đầu của ông Fulbright, gửi cho đại tá Holmes, sếp của chương trình ROTC, cảm ơn ông ta đã dành chỗ cho Bill trong cái đơn vị đã đông cứng người của ông ta.
Tuy nhiên, một lá thư của ông Fulbright gửi cho người nào đó thì không giống như lá thư của Bill gửi cho ông Fulbright để yêu cầu giúp đỡ. Randall Bennett Woods, giáo sư trường Đại học Arkansas và là người đang viết tiểu sử của Fulbright, tìm thấy một lá thư Bill xin làm việc trong mùa hè. Nhưng ông Woods công khai loại bỏ lá thư này vì cho rằng nó không có ý nghĩa.
Tuy nhiên, khám phá của ông Woods nhắc nhở Bill phủ nhận mạnh mẽ hơn, đối với một tờ báo địa phương ra hàng tuần tại Little Rock, rằng mình đã từng viết một lá thư cho nghị sĩ Fulbright hoặc nhân viên của ông ấy yêu cầu giúp đỡ để né tránh luật quân dịch. “Tôi chắc chắn rằng tôi không bao giờ yêu cầu ai một điều như vậy. Không. Không bao giờ! Không bao giờ!” Bill nói với các nhà báo trên con đường vận động của mình.
Hillary và các thành viên Đội bảo vệ biết rõ rằng Bill đã không hề thành thực. Trong thực tế Bill đã viết vài lá thư hết sức chân thành cho ông Williams trong những năm 1969-1970 – những lá thư đã thất lạc khỏi bộ sưu tập Fulbright tại trường Đại học Arkansas.
Trong lá thư ngày 8 tháng 3 năm 1970 mà ban vận động không đưa ra, Bill cảm ơn ông Williams đã giúp mở cánh cửa liên lạc với đại tá Holmes, nhưng bày tỏ sự hối tiếc rằng mình đã không giữ được lời hứa là phục vụ trong chương trình ROTC. Bill thú nhận, ông đã “gia nhập ROTC bởi vì dường như đó là cách thức duy nhất để thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không phải đi sang Việt Nam, ít nhất là trong thời gian trước mắt”. Lá thư còn cho biết, sau khi ông bốc được con số khá cao trong cuộc bốc thăm quân dịch, người cha dượng của Bill, với sự hiểu biết của mình, đã yêu cầu đại tá Holmes giải phóng ông con ghẻ ra khỏi những cam kết của mình. Holmes đồng ý, dù rằng “ông ấy cảm thấy ông ấy mắc nợ đất nước hai năm nghĩa vụ quân sự” và coi Bill như một người “thông minh nhưng hay lúng túng”.
Bill, năm ấy hai mươi ba tuổi, khi đề cập đến chuyện ông không làm tròn cam kết của mình với Holmes và Williams là phục vụ trong chương trình ROTC, đã viết “Có hai chuyện vẫn làm tôi lúng túng.” Không làm trọn lời hứa với Williams làm Bill áy náy nhất. “Tôi sợ rằng ông có thể nghĩ tôi đã phản bội những lời đã hứa với ông và trong thực tế đã bỏ qua lời nói của ông bởi vì ông là người giúp tôi liên hệ lần đầu tiên với đại tá Holmes.”
Gần bốn thập niên sau ông Williams vẫn nhớ về lá thư đó. “Tôi nhớ đã nhận được một lời tựa như lời xin lỗi từ cậu ấy,” Williams nói và bổ sung rằng, Clinton chỉ là “một trong nhiều” người phản đối cuộc chiến tranh mà ông từng giúp đỡ để tránh né quân dịch.
Vào ngày 21 tháng 3 năm 1970, Williams viết thư cho Bill để báo lại một lời nhắn từ đại tá Hawkins về việc ông có khả năng được gọi nhập ngũ bất chấp số quân dịch của ông. Trong cuốn tự truyện của mình, Bill có nhắc tới lời nhắn gửi của Williams, nhưng ông quên không nói tới lá thư chân tình mà ông đã gửi cho Williams chỉ mới hai tuần trước. Còn trong cuộc vận động tranh cử thì ông không công nhận lá thư nào cả.
Một lá thư khác mà Bill gửi cho Williams đề ngày 8 tháng 5 năm 1969 cũng tiết lộ quá nhiều điều đến mức ban vận động bầu cử phải giấu kín. Sau khi kể với Williams rằng “tôi đã bị động viên”, Bill trở nên mỉa mai và cay đắng. “Có vẻ như cuối cùng cũng đã đến lượt tôi can dự vào cuộc chém giết người Việt Nam, để ngăn ngừa con vi trùng ghê tởm của cái gọi là chủ nghĩa cộng sản thế giới khỏi lan tới xứ ấy. Thật là kỳ diệu cho những gì mà phương thuốc hùng mạnh này có thể làm được.” Lá thư này cũng như tất cả những thư từ khác vẫn còn nằm trong vòng bí mật, giống như phần lớn những tài liệu liên quan tới vấn đề quân dịch mà ban vận động tranh cử có được.
Trong nội bộ Đội bảo vệ của ban vận động, khi cập nhật tài liệu về quân dịch của Bill, họ thường ghi chú trong các thư nội bộ về “những mâu thuẫn” giữa những gì mà ban vận động nói với báo chí và những gì mà ban vận động biết là sự thật. Vào tháng chín, ban vận động bầu cử của ông Bush cố gắng tấn công ông Bill vì đã không nói hết sự thật về kinh nghiệm quân dịch của ông ta. Một cuộc tấn công như vậy, do Phó Tổng thống Dan Quayle thực hiện, diễn ra trong một cuộc phỏng vấn truyền hình. Nhưng chỉ vài ngày sau, quá trình phục vụ của chính ông Dan Quayle trong Vệ binh Quốc gia thời chiến tranh Việt Nam bị đem ra mổ xẻ sau khi tờ New York Times tìm thấy “một kiểu ưu ái kỳ lạ” chung quanh việc ông ta đăng ký vào Vệ binh Quốc gia bang Indiana. Những báo cáo này giúp dẹp yên sự phê phán đối với sự ưu ái dành cho Bill.
Khi cuộc vận động tiến gần tới cao trào, Đội bảo vệ bỗng nảy ra khát vọng lưu danh hậu thế. Đoàn làm phim của Pennebaker từ lâu đã theo sát công việc của Phòng Chiến tranh nhưng không có thước phim nào có giá trị lâu dài về tất cả những việc họ đã làm trong chiến dịch vận động tranh cử; mặc dù giúp ông Bill giành được chiến thắng vào Nhà Trắng, nhưng Đội bảo vệ trong thực tế vẫn là vô hình vô ảnh.
Người bạn thân của Hillary, bà Diane Blair, nghĩ ra cái ý tưởng cần phải viết chương cuối cùng của lịch sử. Bà đề cập ý tưởng đó với vợ chồng Clinton và họ lập tức tán thành. Đổi cái mũ chiến lược gia của chiến dịch vận động lấy cái mũ bà từng đội là giáo sư khoa chính trị, bà Blair cần cù thực hiện phỏng vấn các phụ tá cao cấp của ban vận động, kể cả các thành viên trong Đội bảo vệ. Những câu hỏi phỏng vấn của bà, được chuẩn bị rất kỹ lưỡng, gợi ra những nhận xét trung thực từ các phụ tá mà bà tin cậy. Bà ghi chép tỉ mỉ những thăng trầm của một cuộc vận động gian khó, nhùng nhằng và nhanh chóng làm ra một núi thông tin sâu sắc. Cuối cùng, bà đã biên soạn được bản báo cáo dài dằng dặc của mình – riêng phần giới thiệu đã hơn ba chục trang – thành một “hồ sơ nhiều tập”.
Bản báo cáo Blair chỉ có hai bản in. Bà đưa một bản cho vợ chồng Clinton khi họ đến thăm ngôi nhà bên hồ của gia đình bà ở Arkansas vào mùa thu năm 1993. Bà giữ bản còn lại cho riêng mình.
Diane Blair biết vợ chồng Clinton không muốn xuất bản bản báo cáo của bà. “Tôi chỉ biết những chuyện gì sẽ xảy ra” sau khi vợ chồng Clinton đã đọc nó. “Về cơ bản, hãy đợi đã,” họ nói. Trong suốt mùa hè dài đằng đẵng đầu tiên ở Washington, Tổng thống Clinton đã phải chịu đựng những cuộc tấn công chính trị mang tính chất khinh miệt của những người Cộng hòa trên đồi Capitol[2] và từ các nhà hoạt động ở khắp cả nước. Bill và Hillary đã thổ lộ với Diane Blair rằng họ rất lo lắng về cái dự án mà họ đã phê chuẩn mới mười tháng trước đó. Ban vận động phải đương đầu với một nhóm người hết lòng căm ghét Bill Clinton và nhóm này đã phản công với chiến thuật tấn công liên tục đến khi đạt được mục đích mới thôi. Đối với vị tân tổng thống và tân đệ nhất phu nhân dường như thế giới sẽ tốt đẹp hơn nếu mọi người không hề hay biết những gì Đội bảo vệ đã làm – và tại sao họ làm như vậy.
Tháng 5 năm 2000, trong lúc Blair miêu tả cái dự án của mình trong một cuộc phỏng vấn ghi âm cho kho lưu trữ lịch sử bằng tiếng nói của trường Đại học Arkansas, thì bà bị cắt ngang bởi một cuộc điện thoại của Hillary. Blair đã phải chiến đấu với căn bệnh ung thư phổi và những tác dụng phụ của quá trình hóa trị và Hillary, lúc ấy đang vận động tranh cử ghế nghị sĩ tại Thượng viện, đã dừng công việc đang làm để đến thăm người bạn cũ mỗi ngày.
Diane Blair qua đời một tháng sau đó tại Fayetteville. Bà Hillary đứng ra tổ chức lễ tang, đọc một bản điếu văn hết sức hùng hồn sau khi trải qua một chuyến bay mệt nhọc cùng với Bill từ châu Á trở về Fayetteville. Công trình nghiên cứu của Blair không bao giờ được công bố. Ngay cả chủ tịch chiến dịch vận động tranh cử của Bill cũng không biết tới sự tồn tại của bản báo cáo đó cho đến khi ông được hỏi vào năm 2007. Đối với hầu hết mọi người, di sản của chiến dịch tranh cử năm 1992 chỉ còn lại bộ phim tài liệu Phòng Chiến tranh. Chỉ có vài người biết tới món nợ mà Bill mang đối với công việc thầm lặng của Hillary và Đội bảo vệ của bà.
Cuối cùng thì cử tri quan tâm chủ yếu tới tình hình tài chính của họ và trạng thái của nền kinh tế chứ không phải tới đời sống riêng tư của các ứng cử viên. Kết quả là Bill Clinton đã đánh bại vị tổng thống một thời được nhiều người ưa chuộng – George H. W. Bush; những nỗ lực của ông được hỗ trợ bởi sự hiện diện của một ứng cử viên phe thứ ba được yêu thích một cách đáng ngạc nhiên là tỷ phú H. Ross Perot.
Những chiến thuật gây hấn đã giúp vợ chồng Clinton đi qua con đường vận động tranh cử một cách suôn sẻ và không bị bỏ lại phía sau khi họ lên đường đến thủ đô Washington. Thật vậy trong suốt tám năm sau đó, nền chính trị ở Washington đã trở nên bẩn thỉu hơn một thời kỳ dài trước đó, được xúc tác bởi một sắc thái đặc biệt của những tính cách nhân vật và sự trỗi dậy của các chương trình tin tức hai mươi bốn giờ mỗi ngày. Bill và Hillary nhanh chóng nhận ra rằng, con đường vận động tranh cử mà họ tưởng là đã kết thúc với việc Bill được bầu lên, thực tế là một con đường vĩnh viễn. Có những lúc tính vĩnh viễn đó giống như một con đường không có tận cùng, cứ luôn tiến về phía tiềm năng, có những lúc nó giống như một vòng luân hồi khủng khiếp. Khi đã vướng vào cái vòng lẩn quẩn này, gia đình Clinton thấy rằng những sự kiện của quá khứ cứ quay về ám ảnh họ. Một trong các bóng ma quá khứ đó chính là vụ Whitewater.
❀ ❀ ❀
[1] Selective Service System
[2] Trụ sở Quốc hội Mỹ - ND