Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Nghệ Thuật Biến Cái Không Thể Thành Có Thể

❊ ❊ ❊

Hillary viết trong cuốn tự truyện: “Tôi đến Wellesley mang theo niềm tin chính trị của cha tôi, mơ ước của mẹ tôi và còn lại là sự khởi đầu của chính tôi. Nhưng trong cái ngày đầu tiên ấy, khi cha mẹ lái xe ra về, tôi cảm thấy cô đơn, lạc lõng và nhỏ bé.”

Những cảm xúc lẫn lộn này hoàn toàn có thể hiểu được. Đại học nữ Wellesley là một thế giới xa cách hẳn thị trấn Park Ridge. Vào giữa thập niên 1960, phong trào hoạt động tích cực của sinh viên bắt đầu tăng nhanh khắp cả nước, được thúc đẩy bởi sự bất mãn ngày càng sâu sắc với cuộc chiến tranh ở Việt Nam và với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong nước. Trường Đại học Wellesley cũng bắt đầu thay đổi, dù chưa được quả quyết như các học xá đại học khác; nhưng vẫn cố giữ danh tiếng là nơi mà sinh viên quan tâm tới việc tìm một tấm chồng hơn là xây dựng một sự nghiệp. (Một cuộc khảo sát đăng trên tạp chí McCalls, trong những năm đầu sự nghiệp đại học của Hillary, đã ca ngợi những nữ sinh Wellesley như “những cô vợ tốt” và lưu ý rằng các sinh viên năm cuối đều hy vọng sẽ “đeo nhẫn vào mùa xuân”.) Khóa học của Hillary sẽ đẩy nhanh việc chuyển hóa trường Wellesley từ một hòn đảo quý phái thành một học xá đại học có nhiều điểm tương đồng với bầu không khí “hip-pi” của quảng trường Harvard Square.

Lúc Hillary đến vào tháng 9 năm 1965, trường Wellesley đã 90 năm tuổi và câu phương châm bằng tiếng La-tinh của nó – Non ministrari sed ministrate (Không để người giúp, mà mình giúp người) – tỏ ra đặc biệt hấp dẫn bởi vì nó rất gần với nhiều bài học mà cô từng học trong nhóm thanh niên theo giáo phái Methodist. Không phải chỉ mình Hillary cảm thấy như vậy. Những cô gái học khóa 69 xem câu phương châm này không chỉ như một câu thần chú trong gia đình mà còn như một lời kêu gọi lớn lao phải dấn thân: hãy đi ra thế giới bên ngoài, phương châm đó ra lệnh, và hãy thay đổi hiện trạng thông qua sở trường và khát vọng nghề nghiệp mà bạn đã lựa chọn. Cô bé Hillary Rodham mười bảy tuổi biết rõ, những kỳ vọng của một xã hội do nam giới thống trị đã hạn chế nghiêm trọng những cơ hội của mẹ cô đến mức nào, vì thế lời hứa hẹn ẩn trong câu phương châm của trường Wellesley lúc nào cũng văng vẳng trong tai cô.

Nhưng trước tiên Hillary phải chinh phục chính khu học xá, một ngôi nhà mới lộng lẫy mà vào thời điểm ấy đầy đe dọa và dễ sợ. Phần lớn các cô gái trẻ cùng khóa học với Hillary có vẻ giàu có và sành điệu; nhiều người đã đi du lịch khắp thế giới trong khi Hillary, phát âm bằng cái giọng mũi cố hữu của người vùng Chicago, và mới chỉ rời nước Mỹ một lần duy nhất để tham quan thác Niagara trên phần đất Canada. Một số sinh viên trong lớp nói được ít nhất một ngoại ngữ; vài người nói được ba, bốn, thậm chí năm ngoại ngữ, còn Hillary chỉ mới học tiếng La-tinh được hai năm ở bậc trung học. Nhiều bạn đồng trang lứa với Hillary là những cô gái thông minh và được nuông chiều, từng theo học những trường nội trú riêng biệt nhất ở vùng New England; còn Hillary là sản phẩm của một trường trung học công lập mà dường như đã không thể chuẩn bị đầy đủ cho cô tính chặt chẽ về tri thức của bậc đại học. Cô ngạc nhiên phát hiện ra rằng môn toán và địa chất học năm thứ nhất hóa ra chẳng giúp được gì, và cô nhanh chóng từ bỏ ý định trở thành bác sĩ hoặc nhà khoa học. Những môn xã hội có vẻ như thích hợp với cô hơn. Nhưng giáo viên tiếng Pháp của Hillary nói với cô: “Này em, tài năng của em nằm ở nơi nào khác ấy”. Hillary phải tập làm quen với việc mình không còn là ngôi sao trong học tập như hồi còn ở quê nhà.

Còn có thêm nhiều lý do để buồn phiền. Mỗi khi nhìn vào bất cứ đâu, trong phòng ngủ, thư viện, trên lớp học, cô đều thấy những cô gái trẻ trung xinh đẹp. Cô chú ý đến vẻ đẹp hấp dẫn của hai nữ sinh viên năm nhất mới bước vào đời và nhanh chóng gắn nhãn cho họ là “Carnegie” và “Shell Oil”. Ghét một sinh viên năm thứ nhất khác gọi là “kẻ đỏng đảnh” – cô gái này dường như chỉ thích thu hút sự chú ý của một nhóm những anh chàng đẹp trai ở Harvard Yard. Tin rằng mình rõ ràng là thất thế, Hillary quyết định đứng ngoài lề một cách có ý thức. Cô thường che giấu gương mặt xinh đẹp của mình sau những chiếc ly to cỡ chai Coca-Cola, và buộc tóc đuôi gà bằng sợi thun to hoặc búi lại rất chỉn chu. Đối với Hillary và bạn bè cô, dành ít thời gian hoặc không dành chút thời gian nào để chăm sóc vẻ bề ngoài là thể hiện “một khu vực an toàn... tránh lộ diện – theo đúng nghĩa của từ này – từ thứ hai đến tận chiều thứ sáu”. Trong khi đó, một số bạn học xinh đẹp của Hillary coi cô như một người xa lạ, một con mọt sách nhút nhát và đơn độc.

Ngày càng cô độc và phải tiếp tục cuộc chiến đấu với chính sự tự tin về học tập của mình, vào tháng mười, Hillary gọi điện cho cha mẹ để nói rằng cô muốn đầu hàng! Hillary nói thẳng với họ là cô không đủ khôn ngoan để thành công tại trường Wellesley. Phản ứng tức thì của cha cô không có gì lạ – ông bảo cô quay về nhà ngay lập tức. Nhưng bà Dorothy Rodham thì không như vậy. Bà bảo Hillary rằng bà đã không nuôi dưỡng một kẻ bỏ cuộc và việc bỏ học nửa chừng ở trường Wellesley là một sai lầm tai hại. Hillary nhận ra rằng, với lập trường của mẹ, cô không thể quay về nhà. Thế là cô bám trụ lại và dù có khó khăn thì vẫn phải cố gắng làm thật tốt.

“TINH HOA CỦA TINH HOA”.Ngay từ ngày đầu tiên ở khu học xá, các cô gái trẻ trường Wellesley được nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng họ tiêu biểu cho những gì tốt đẹp nhất, sáng chói nhất, nói theo cách rút gọn ưa thích của các cô là “tinh hoa của tinh hoa”. Hai mươi lăm năm sau, Johanna Branson, một vũ công đến từ Lawrence bang Kansas, đang theo học ngành lịch sử nghệ thuật và là bạn học cùng khóa của Hillary nhận xét rằng, cái nhãn “tinh hoa của tinh hoa” “ngày nay nghe thật láo và kiêu, nhưng vào thời ấy thì đó là câu nói tuyệt diệu, mà nếu bạn là con gái thì bạn sẽ muốn nghe... Bạn sẽ không phải xếp thứ hai sau bất cứ ai.”

Việc không phải xếp thứ hai sau bất cứ ai (và nhất là sau một chàng trai) là một lời mời gọi mạnh mẽ với Hillary. Bất chấp những nỗi e ngại ban đầu và khả năng học tập của mình, cô nhanh chóng hiểu ra rằng một trường đại học toàn nữ sinh sẽ mở ra hàng loạt cơ hội mà một trường gồm cả nam và nữ không thể nào có được. Một môi trường vắng sự cạnh tranh của nam giới đã khích lệ các nữ sinh cảm thấy tự do “chấp nhận rủi ro, phạm sai lầm, thậm chí thất bại ngay trước mặt người khác,” Hillary ghi lại điều đó trong cuốn tự truyện của mình. “Theo thông lệ, chủ tịch của khóa học, tổng biên tập của tờ báo và sinh viên dẫn đầu trong mọi lĩnh vực đều là phụ nữ. Và có thể là bất cứ ai trong số chúng tôi”.

Được khuyến khích nhờ sự phá luật của người mẹ, Hillary lập tức đặt mình vào một trong số những sinh viên ganh đua giành lấy vai trò lãnh đạo chính trị. Tuy mới là sinh viên năm thứ nhất, cô đã được bầu làm chủ tịch nhóm thanh niên Cộng hòa của trường đại học, một thành quả thật ấn tượng. Nhưng chẳng bao lâu sau cuộc bầu cử thắng lợi, cô bắt đầu dấy lên nỗi hoài nghi về chính sách của Đảng Cộng hòa đối với cuộc chiến tranh Việt Nam và vấn đề quyền dân sự. Quan điểm của Hillary thay đổi một phần do những bài giảng của các giáo sư khoa học chính trị có tư tưởng tự do. Cô cũng bắt đầu đọc tờ New York Times, một sự thể khiến cha cô rất buồn phiền. Trước khi năm học thứ nhất kết thúc, Hillary nhận ra rằng, còn tiếp tục làm chủ tịch nhóm Cộng hòa trẻ thì lương tâm cô khó mà thanh thản được. Vì thế cô từ chức và như đã thổ lộ, cô “đắm mình vào việc tìm hiểu bất cứ điều gì có thể tìm hiểu về Việt Nam.” Vào đầu năm 1967, khi Hillary học những tháng cuối cùng của năm thứ hai đại học, cuộc chiến nhanh chóng đổi hướng và những bất ổn liên quan tới cuộc đấu tranh cho quyền dân sự đã tăng lên nhiều. Như Hillary sau này thổ lộ, “những biến cố đang diễn ra đã cung cấp quá nhiều chất liệu,” để cô suy nghĩ lại về các lập trường bảo thủ mà cô đã ôm ấp trong những ngày còn ở Park Ridge.

Việc tự học về Việt Nam của Hillary trong chừng mực nào đó là không khó khăn lắm, vì gần như mọi người trong khu học xá đều bị cuộc chiến tranh ám ảnh. Vấn đề này cũng gây chia rẽ sâu sắc giữa những người trẻ tuổi, kể cả bạn bè của cô tại trường Wellesley và gây ra những cuộc tranh luận dài dòng, nảy lửa về ý nghĩa của cuộc chiến tranh. Ở những trường đại học có cả nam lẫn nữ, các cuộc tranh luận có thể có thêm yếu tố cá nhân. Trong cuốn tự truyện của mình, Hillary kể lại rằng, một số “thanh niên trong các chương trình dự bị động viên ROTC” rất sốt ruột muốn đến Việt Nam sau khi tốt nghiệp đại học, nhưng nhiều người khác công khai lên tiếng phản đối chế độ quân dịch. Vào thời ấy, cô coi sự xung đột quan điểm này là hợp lý, nhưng vào những lúc khác cô lại tin rằng đó là sai lầm. “Mặc dù là phụ nữ, tôi cũng biết rằng, tôi không thể bị động viên,” Hillary nói. “Tôi đã tốn không biết bao nhiêu thời gian đánh vật với những cảm xúc trái ngược của chính mình.”

Mặc dù hết sức phức tạp, Việt Nam chỉ là một vấn đề đơn giản so với nỗi khó khăn mà Hillary phải trải qua liên quan tới chính bản ngã của cô. Vấn đề mà cô phải đối mặt có tính chất hết sức căn bản: Ngay bây giờ, tôi muốn trở thành con người như thế nào? Lần đầu tiên cô vật lộn với vấn đề bản ngã là năm học thứ hai; cuộc đấu tranh đó được bộc lộ trong hàng loạt thư từ cô gửi cho người bạn học cùng lớp hồi trung học tên là John Peavoy. Trong những lá thư đó, Hillary phỏng đoán rằng cô đã trải qua ít nhất “ba bốn cuộc lột xác” trong một thời gian ngắn. Cô đã đặt ra hàng loạt khả năng, tự đặt ra những nhãn hiệu cho những mẫu người mà cô muốn trở thành:

– “nhà giáo dục và cải cách xã hội”

– “một nhà khoa học hàn lâm thờ ơ với cuộc đời”

– “người lập dị giả hiệu”

– “người ẩn dật giàu lòng trắc ẩn”

– “lãnh tụ chính trị”

Trong cuốn tự truyện của mình, Hillary không nói gì về giai đoạn bấn loạn tinh thần trong những năm đại học. Tất nhiên, trong quãng đời đại học, nhiều người đã thử đội nhiều chiếc mũ khác nhau. Nhưng việc Hillary vô cùng cẩn trọng để chọn một tính cách thích hợp nhất thì quá rõ ràng, phần nào do đường lối kiên định có tính toán của cô. Hillary cân nhắc từng chút thuận lợi, khó khăn, xem xét mỗi khả năng từ mọi góc độ. Những lá thư cô gửi cho Peavoy thể hiện hình ảnh không chỉ một sinh viên đại học đang chậm rãi và thận trọng đi vào cuộc đời, mà còn gần như là một sự dâng hiến mang tính khoa học cho công cuộc sáng tạo bản thân.

Hillary đã thử sắm vai “một nhà giáo dục và cải cải cách xã hội” bằng cách cố gắng kết bạn với vài sinh viên da đen trong khu học xá. Trước khi vào đại học, cô chỉ biết những người da đen làm việc cho cha mình hoặc làm việc ở nhà của họ. “Trước khi vào đại học tôi chưa từng có bạn bè, hàng xóm, hoặc bạn học là người da đen,” sau này cô nhớ lại. Khóa học của cô có bốn trăm sinh viên nhưng chỉ có sáu nữ sinh da đen. Hillary kết bạn với một trong sáu người đó, Karen Williamson, và vào một buổi sáng chủ nhật, hai người cùng đi lễ trong một nhà thờ bên ngoài khu học xá. Về sau Hillary thừa nhận rằng mình “hơi e dè và ý thức rất rõ rằng, tôi đang dần dần rời xa khỏi quá khứ của mình”.

Sau lần đi lễ nhà thờ với Karen Williamson, Hillary vội vã gọi điện cho gia đình và vài người bạn ở Park Ridge để thông báo ngay những tin tức mà cô cảm thấy rất thú vị. Thế nhưng họ không hề xúc động, lại còn phê phán cô là khoe khoang quá đáng về một hành vi chính trị lộ liễu. Sau này Don Jones kể lại rằng, gia đình và bạn bè Hillary “nghĩ rằng Hillary làm chuyện đó không phải bằng thiện chí mà là một cử chỉ đầy tính tượng trưng cho một giáo hội không chấp nhận người da đen.” Bản thân Hillary sau này công nhận rằng khi còn là một sinh viên năm thứ nhất, nếu có nhìn thấy một sinh viên da trắng cặp kè một sinh viên da đen đi tới nhà thờ, phản ứng tức thì của cô sẽ là, “Nhìn kìa, con bé đó đang cố thể hiện tư tưởng tự do của mình bằng cách đi lễ nhà thờ với một tên da đen!” Thế mà giờ đây cô đang nỗ lực trở thành một “con bé” như vậy.

Nhưng cô vẫn chưa sẵn sàng để ổn định. Đối với Hillary, tính cách của một “nhà khoa học hàn lâm thờ ơ với cuộc đời” có lẽ thoải mái hơn. Cô khao khát được đứng đầu lớp học; cô bỏ nhiều thời gian cả ban ngày lẫn ban đêm để học tập ở thư viện. Lần đầu tiên cô nếm được mùi vị nghiên cứu khoa học gian khổ là mùa hè năm thứ hai, khi cô được chọn làm trợ lý nghiên cứu cho giáo sư môn khoa học chính trị Anthony D’Amato. Vị giáo sư này về sau đã bị buộc phải rời trường Wellesley vì những quan điểm ly khai của mình. Hillary tôn sùng ông, cô háo hức kể cho bạn bè nghe rằng ông đã lấy bằng luật sư ở trường Harvard và đang làm luận án tiến sĩ ở trường Columbia. Trong ba tháng mùa hè năm đó, Hillary giúp giáo sư D’Amato làm nghiên cứu trong ngôi nhà kín đáo của ông trên bờ hồ Michigan.

Tính cách thứ ba mà Hillary thử vai là “một người giả hip-pi rắc rối”, và đúng như tiếp đầu ngữ “giả” cho thấy, đó là một lựa chọn đã trở thành một tuyên bố thời thượng hơn là một lối sống. Cô cố gắng trải nghiệm cuộc sống ấy thông qua bạn bè. Tháng 6 năm 1967, cô dự đám cưới của một người hip-pi ở Cape Cod và thích việc mình đã làm. Trong một bức thư gửi cho Peavoy, Hillary đùa cợt về một tin đồn thất thiệt đang lan truyền trong giới các bà nội trợ hàng xóm nhà Hillary ở Park Ridge rằng, cô đã bí mật hứa hôn trong lúc theo học ở Wellesley. Cô viết, “John à, không phải vậy. Tôi không hứa hôn. Tôi đã kết hôn rồi. Nói nghiêm chỉnh đấy. Suốt mùa hè tôi chỉ sống trong ‘tội lỗi’ ”. Nhưng tất cả chỉ là đùa cho vui. Trong khi khoác lên cái vẻ bề ngoài bất cần đời của giới “hip-pi”, cô chưa bao giờ tự coi mình là một hip-pi.

Phạm trù thứ tư, “một người ẩn dật giàu lòng trắc ẩn”, thật sự chỉ là một giấc mơ huyễn hoặc. Khi áp lực của cuộc sống đại học quá nặng nề, cô gái chỉ mơ tưởng viển vông tới một cuộc sống “giản dị xa lánh thị thành”, ở một chốn yên tĩnh nào đó, nơi cô có thể hiến mình cho việc giúp đỡ người khác và đọc sách. “Tất cả chúng ta sinh ra trong đời này là để giúp đỡ người khác,” cô thường bảo bạn bè như vậy. Nhưng Hillary biết rõ công việc như vậy đòi hỏi một tình yêu con người mãnh liệt và một lòng nhẫn nại sâu sắc; bẩm sinh cô không phải là một người như vậy. Mối xung đột cơ bản này cứ đeo đẳng cô mãi. “Có thể nào bạn vừa là một người ẩn dật mà vẫn yêu thương và tận hưởng các cá thể khác?” cô đã hỏi Don Jones như vậy trong một lá thư.

Vật lộn với những câu hỏi về bản sắc, Hillary phải chịu đựng một cơn trầm cảm hiếm thấy. Nó xảy đến vào tháng hai, trong năm học thứ hai của cô ở trường đại học, và thời tiết lạnh lẽo kéo dài làm nó càng trầm trọng. Bỗng dưng cô không muốn rời khỏi giường ngủ vào buổi sáng. Cô bắt đầu bỏ các buổi học và bê trễ trong việc làm bài tập. Các giáo sư lo lắng cho cô. Bị cơn khủng hoảng về bản ngã thiêu đốt, Hillary đau đớn bởi cùng một câu hỏi: Mình nên là người như thế nào? Mình muốn trở thành người như thế nào? Cái áp lực kế tiếp do việc không tìm được câu trả lời khiến cho cô chỉ muốn vùi mặt trong gối. “Suy nghĩ là điều nguy hiểm nhất đối với tôi,” cô thú nhận trong một lá thư gửi cho Don Jones.

Trong suốt thời kỳ đen tối đó, Hillary nhiều lần hỏi đi hỏi lại những người bạn thân nhất xem họ có hạnh phúc không, cô trầm ngâm suy nghĩ về chuyện làm thế nào để được hạnh phúc thật sự. Cô luôn luôn đặt từ hạnh phúc trong ngoặc kép, dường như đó là một cái gì đó rất đỗi phù du, một cái gì đó xảy đến cho những người khác thông qua một công thức huyền bí rất khó nắm bắt.

Hillary đã tự cứu mình thoát khỏi tình trạng đáng sợ này bằng cách làm cái việc mà cô sẽ làm đi làm lại nhiều lần trong đời: giảm bớt việc xem xét nội tâm. Ngay cả khi còn trẻ như vậy, Hillary đã giỏi ngăn chia cảm xúc – đóng sầm cánh cửa của căn phòng trong tâm hồn, nơi chứa chấp ý nghĩ nào đó không vui. Nếu cô bận tâm tới việc khuyên nhủ người khác làm cách nào để có thể vượt qua những vấn đề của chính họ – và tới việc giúp đỡ bạn bè cùng những người khác săn tìm các giải pháp cho chính họ – thì cô sẽ còn rất ít thời gian để lo lắng cho chính mình. Và nếu không còn thời gian nhìn vào nội tâm của mình, cô sẽ không có nhiều cơ hội khám phá xem điều gì đó bên trong tâm hồn có thể đã gây phiền muộn cho cô. Giải pháp này gần như có hiệu quả tức thời.

Điểm thứ năm và cũng là nhân cách cuối cùng, “nhà lãnh đạo chính trị”, chính là điều mà Hillary chuyên tâm theo đuổi sau khi cô đã vượt qua được cơn trầm cảm của mình. Nỗi lo lắng hồi tháng hai của cô không chỉ là sản phẩm của sự bất lực trong việc tìm một hướng đi. Trong một lá thư khác, cô nói với Peavoy, “Tôi vẫn chưa tự hòa hợp được mình với trạng thái không phải là ngôi sao.” Cô đã cam kết tiến hành cẩn thận ba bước đi kết hợp nhuần nhuyễn ở trường đại học: Trước tiên cô muốn được bổ nhiệm làm thành viên “Vil Junior”, một câu lạc bộ ở Wellesley; rồi cô muốn phục vụ trong ban đại diện sinh viên; và cuối cùng, cô nhắm đến chức chủ tịch Hiệp hội điều hành Đại học Wellesley.

Mặc dù đã trở thành lãnh đạo nhóm Thanh niên Cộng hòa từ năm thứ nhất, nhưng ký ức của Hillary về việc thất bại trong cuộc bầu cử lãnh đạo khối lớp ở trường trung học vẫn chưa phai mờ, ngay cả khi đã là thành viên Vil Junior, cô vẫn tỉ mỉ thiết lập nền tảng cho một cuộc chạy đua thành công giành chức chủ tịch ban điều hành sinh viên. Cô quan tâm tới mọi vấn đề và chấp nhận những vị trí liều lĩnh để trở thành gương mặt quen thuộc với đa số sinh viên trong trường. Ví dụ, sinh viên ghét việc bị buộc phải đọc kinh trước bữa ăn; Hillary vận động để chấm dứt việc đó. Sinh viên phản đối những đòi hỏi nghiêm khắc về học trình mà họ cho rằng đang hạn chế tính linh hoạt về học thuật và quyền lựa chọn của họ; Hillary cố gắng hết mức để thuyết phục ban quản trị nhà trường nới lỏng những quy định đó. Đa số sinh viên muốn chọn cách đánh giá qua thang điểm đạt-rớt; Hillary tích cực vận động cho điều đó. Các bạn học và các giáo sư muốn Wellesley trở thành một nơi đa dạng hơn, thế là Hillary xông xáo vận động để có thêm nhiều sinh viên và cán bộ giảng dạy thuộc sắc tộc thiểu số.

Nhưng không có việc gì khiến các cô gái trẻ của trường Wellesley khó chịu hơn việc nhà trường cứ nhất định cho mình là người đại diện phụ huynh sinh viên, có nghĩa vụ bảo vệ và trừng phạt họ. Trường đại học có một chính sách thay mặt phụ huynh rất nghiêm khắc, một chính sách mà sinh viên cho là tàn dư của thập niên 1950, theo đó, sinh viên bị đối xử như những học sinh chưa trưởng thành. Hillary nhớ lại, “Chúng tôi không được phép tiếp bạn trai trong phòng ký túc xá, trừ khoảng thời gian từ 2 giờ đến 5 giờ 30 chiều chủ nhật. Đó là khi chúng tôi được phép mở cửa phòng và tuân theo cái mà chúng tôi gọi là luật “hai bàn chân”: hai (trong bốn) bàn chân của chúng tôi lúc nào cũng phải đặt trên sàn nhà. Vào dịp cuối tuần, chúng tôi bị giới nghiêm vào lúc 1 giờ sáng và vào những tối thứ sáu, thứ bảy, xa lộ số 9 từ Boston về Wellesley cứ như đường đua xe công thức 1 khi các cặp sinh viên phóng xe như điên như cuồng trở về ký túc xá cho kịp giờ giới nghiêm, tránh những phiền phức không đáng có.” Hillary tuyên bố rằng đã đến lúc phải thay đổi những điều đó. Cô có lý do chính trị và lý do cá nhân để làm như vậy. Trong thời gian học ở Wellesley, cô có hai người bạn trai nghiêm túc – những sinh viên Ivy League[1]. Cả hai chàng trai đã thay nhau đi cùng Hillary về Park Ridge gặp cha mẹ cô, nhưng “cho dù thái độ của cha tôi đối với bất kỳ ai tôi đã hẹn hò có thế nào”, những cuộc gặp gỡ này vẫn “giống như một cuộc thử thách hơn là cuộc viếng thăm xã giao”.

Cuộc sống chính trị của Hillary mở rộng ra bên ngoài khu học xá. Năm 1968, những cuộc tranh luận gay gắt trong giới sinh viên về tính chính đáng của cuộc chiến tranh đã giảm đi rất nhiều; nhất là sau khi xảy ra cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân. Các bản tin buổi tối tràn ngập những hình ảnh đau lòng về những người Việt Cộng và bộ đội miền Bắc Việt Nam giáng những đòn thương vong nặng nề cho binh lính Mỹ ngay giữa trung tâm Sài Gòn, còn các ký giả báo in thì giải thích cuộc chiến tranh bằng những phương cách ngày càng bi quan. Đến lúc ấy Hillary không còn cố gắng hòa hợp những cảm xúc trái ngược về cuộc chiến, hoặc khuynh hướng cánh tả trong quan điểm chính trị của mình nữa. Cô bắt đầu tự gọi mình “nguyên là cô gái Goldwater”[2], chứng tỏ niềm tin chính trị mới xác lập của mình vô cùng ngoạn mục qua việc ủng hộ chiến dịch phản đối chiến tranh của Thượng nghị sĩ Eugene McCarthy bang Minnesota, trong cuộc tranh đua của ông nhằm thay thế tổng thống Lyndon B. Johnson với tư cách ứng viên của Đảng Dân chủ. Cùng với một số bạn học, Hillary đã đến Manchester, bang New Hampshire, trong những dịp cuối tuần để giúp bỏ thư và vận động cho Thượng nghị sĩ McCarthy.

Lúc đầu có thể Hillary cảm thấy bị đe dọa bởi bạn bè cùng trường, nhưng giờ đây những người bạn ấy đã hoàn toàn sững sờ bởi cách làm việc cần cù, kỹ năng tổ chức và cả tính cương quyết đến lạnh lùng của cô. Được tự do nhờ tập trung vào tương lai thay vì vào nội tâm, Hillary đặc biệt xuất sắc khi chạm tới vấn đề giúp đỡ bạn bè đặt ra các mục tiêu và giành được các mục tiêu đó. Đa số bạn học của Hillary không nhớ Hillary có bao giờ công khai nói về việc một ngày nào đó cô sẽ chạy đua vào bộ máy công quyền – nhưng cô không phải làm như vậy vì có nhiều người đã nói thay cô. Cô là người có năng khiếu. “Những người khác chung quanh cô ấy đã nói chuyện đó thay cho cô,” Jan Piercy, bạn học của Hillary nói. Karen Williamson – cô sinh viên da đen cùng đi nhà thờ với Hillary – cho biết, những nữ sinh viên trẻ trung và được nuông chiều ở Wellesley thường nói, nếu có một người phụ nữ trở thành tổng thống dân cử đầu tiên của Hoa Kỳ trong lúc họ còn sống, thì họ biết ngay rằng người đó phải là Hillary Rodham của khóa 1969.

Trong học kỳ hai năm thứ ba, Hillary chạy đua với hai bạn khác giành chức chủ tịch ban điều hành sinh viên. Cô dành ra ba tuần lễ để đi từ phòng này sang phòng khác trong ký túc xá, trình bày cho các bạn sinh viên biết cô có ý định cải thiện cuộc sống ở trường đại học của họ như thế nào.

Trong một cuộc tranh luận do báo Wellesley News tổ chức, Hillary phải đương đầu với hai đối thủ, Francille Rusan và Nonna Noto. Cô mặc một chiếc áo cổ chui màu đen, chiếc áo khoác len màu trắng, cặp kính gọng đen to đùng, và trả lời thẳng vào từng câu hỏi, ghép các câu hoàn chỉnh lại với nhau đến khi chúng tạo thành những đoạn văn khôn ngoan và sáng chói. Phong thái đĩnh đạc của cô thật khó bỏ qua. Trong số những người bị ấn tượng mạnh mẽ bởi sự nhiệt tình và cách giao tiếp mạch lạc, hợp lý của cô có ông Alan Schechter, một trong các giáo sư môn khoa học chính trị, mới hơn ba mươi tuổi. Schechter để ý thấy Hillary nói chuyện với các nhà quản trị cao cấp cũng dễ dàng như khi cô nói với các bạn sinh viên.

Vào một ngày lạnh thấu xương tháng 2 năm 1968, Hillary chiến thắng trong cuộc bầu cử chủ tịch. “Em không thể tin được chuyện mới vừa xảy ra!”, cô nói với một trong các giáo sư. “Em vừa được bầu làm chủ tịch ban điều hành sinh viên. Thầy có tin như vậy không? Thầy có tin chuyện đó đã xảy ra không?” Nhưng tất nhiên, chuyện đó chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả.

Cô có khoảng sáu tuần lễ để tận hưởng niềm vui chiến thắng. Vào ngày 4 tháng 4, Martin Luther King Jr. bị bắn chết trên ban công một nhà nghỉ ở Memphis, nơi ông đứng nói chuyện với một nhóm những người ủng hộ. Vụ ám sát làm cho Hillary tan nát cõi lòng. Một trong những người anh hùng, thần tượng đầu tiên của cô, đã ra đi. Ngay sau khi nghe tin dữ, cô lao vào phòng một người bạn và cứ vừa đập chiếc cặp sách vào tường vừa nức nở khóc, “Tôi không chịu đựng nổi chuyện này! Tôi không chịu nổi nữa! Tôi không chịu nổi!” Cô khóc và vật vã.

Thêm nhiều tin dữ tiếp tục đến ngay sau khi Hillary trở về nhà ở Park Ridge vào đầu tháng sáu. Mẹ cô đánh thức cô dậy lúc nửa đêm và bảo, “Lại có chuyện gì đó hết sức kinh khủng xảy ra”. Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy vừa bị bắn chết trong phòng hội nghị của một khách sạn ở Los Angeles. Ngày hôm sau, Hillary tuyệt vọng tự trấn an mình bằng cách nói chuyện điện thoại cả nửa giờ đồng hồ với người bạn Kevin O’Keefe, một chàng trai Chicago gốc Ireland và Ba Lan, rất yêu mến dòng họ Kennedy. Hai người nói về nỗi lo lắng của họ cho nước Mỹ khi bây giờ Jack và Bobby Kennedy đều đã ra đi.

Mặc dù “bị mất tinh thần” vì những vụ ám sát, nhưng ngay sau đó Hillary đã đến Washington để phục vụ chín tuần lễ trong chương trình tập sự của trường Wellesley. Chương trình này bố trí sinh viên vào các văn phòng của Quốc hội và Chính phủ để xem “chính phủ làm việc như thế nào”. Alan Schechter, Giám đốc chương trình, quyết định phân công Hillary đến Hội nghị Đảng Cộng hòa ở Hạ viện. Ông biết rằng cô đang bắt đầu rời khỏi sự dạy dỗ của Đảng Cộng hòa và ảnh hưởng của người cha, nhưng “ông ấy vẫn nghĩ đợt thực tập này sẽ giúp tôi tiếp tục đi theo con đường của mình – cho dù cuối cùng tôi có quyết định thế nào,” Hillary nói. Cô phản đối việc phân công nhưng tiếp tục báo cáo cho một nhóm lúc đó được dẫn đầu bởi Thượng nghị sĩ Gerald R. Ford, người lãnh đạo phe thiểu số, và các thành viên Quốc hội Melvin Laird, Charles Goodell. Trong ngày đầu tiên của đợt thực tập, các sinh viên được chụp ảnh chung với các thành viên Quốc hội. Bức ảnh chụp Hillary đứng với các lãnh tụ Đảng Cộng hòa làm cho cha cô vui mừng khôn xiết. Trong cuốn tự truyện, Hillary viết lại rằng ông đã treo bức ảnh đó trong phòng ngủ cho đến ngày qua đời.

Hillary, người dẫn đầu đoàn thực tập sinh của trường Wellesley, muốn học hỏi càng nhiều càng tốt về nền chính trị quốc gia. Cô gần gũi với Goodell, người đại diện cho cử tri miền Tây bang New York và là người được Thống đốc Nelson Rockefeller bổ nhiệm làm nghị sĩ tạm thời, thay thế Nghị sĩ Robert Kennedy cho đến khi một cuộc bầu cử đặc biệt được tổ chức. Khi đợt thực tập sắp kết thúc, Goodell yêu cầu Hillary và một vài sinh viên thực tập khác tháp tùng ông đến Đại hội Đảng Cộng hòa ở Miami Beach, để làm việc cho nỗ lực cuối cùng của thống đốc Rockefeller nhằm giành lấy sự đề cử của Đảng Cộng hòa từ tay Richard Nixon. Cho dù lòng trung thành chính trị của cô đang thay đổi, nhưng đây là một cơ hội quá tuyệt vời nên Hillary không thể bỏ qua.

Hillary choáng váng và hồi hộp bởi lần đầu tiên cô được nhìn lén vào phía sau những nhân vật chóp bu của nền chính trị Hoa Kỳ. Ở Florida, cô ở trong khách sạn Fontainebleau, một khách sạn khổng lồ trên bãi biển được trang trí nghệ thuật, mà mỗi vị tổng thống Hoa Kỳ, từ thời Eisenhower trở về sau, đều ghé thăm. Đây là “khách sạn thứ thiệt đầu tiên” mà Hillary ở; trước đó, cô chỉ quen với những nhà nghỉ ven đường trong các kỳ nghỉ hè. Đó là một tuần lễ xoay như chong chóng – trong số những người cô gặp có cả ca sĩ Frank Sinatra và John Wayne – và đầu óc cô quay cuồng vì những cuộc gặp gỡ như vậy. Nỗi hào hứng chỉ giảm nhẹ đôi chút bởi sự thất bại hiển nhiên của Rockefeller trong nỗ lực cuối cùng nhằm ngăn cản Richard Nixon. Về nhiều phương diện, Hillary đã không còn nghĩ mình như một người Cộng hòa vào cái đêm Nixon chấp thuận sự đề cử của đảng trong đại hội ở Miami Beach. “Việc đề cử Richard Nixon đã củng cố sự leo thang của ý thức hệ bảo thủ so với cánh ôn hòa trong Đảng Cộng hòa, một sự thống trị chỉ có thể ngày càng mạnh mẽ theo năm tháng khi đảng này tiếp tục cuộc chuyển dịch về cánh hữu, và cánh ôn hòa ngày càng bị thu hẹp cả về số lượng đảng viên lẫn ảnh hưởng trong đảng,” Hillary đã viết như vậy trong cuốn tự truyện của mình. “Đôi lúc tôi nghĩ rằng tôi đã không rời bỏ Đảng Cộng hòa mà đảng đã rời bỏ tôi”. Quả thực, mùa hè năm ấy, Đảng Cộng hòa chỉ còn là đảng của riêng cha cô chứ không còn là đảng mà hai cha con chia sẻ. Dù sao, nếu cánh ôn hòa trong đảng không bị thu hẹp về số lượng và ảnh hưởng, có lẽ đảng đã không đánh mất cô gái trẻ ấy một cách nhanh chóng đến như vậy.

Vài tuần sau khi Hillary từ Miami Beach trở về nhà, Đại hội Đảng Dân chủ khai mạc ở Chicago; cô bạn Betsy Johnson gọi Hillary và bảo, “Chúng mình phải đích thân đi xem vụ này thôi”. Một lần nữa, đây là cơ hội để Hillary ngồi vào hàng ghế đầu trong lịch sử và cô lập tức đồng ý.

Cả Hillary và Betsy đều không nói cho cha mẹ biết sự thật về nơi họ đến. Thay vào đó, họ bảo đi xem phim trong thành phố. Vào đêm cuối của đại hội, họ đi tham quan Grand Park, nơi xảy ra nhiều vụ phiền toái trong suốt tuần lễ ấy. “Bạn có thể ngửi thấy khói lựu đạn cay trước khi nhìn thấy hàng rào cảnh sát,” Hillary nhớ lại. Việc các sĩ quan cảnh sát trơ tráo biểu diễn bạo lực chống lại những người biểu tình trẻ tuổi làm Hillary choáng váng. Nhưng cô còn sững sờ hơn vì mặt khác của vấn đề: những người trẻ này cố gắng thay đổi thế giới thông qua bạo lực được ngụy trang bằng “sự bất mãn dân sự”. Sau nhiều lần trò chuyện dông dài với người bạn Kevin O’Keefe trong mùa hè ấy, Hillary quyết định rằng, bất chấp việc vỡ mộng với cái đích mà đất nước đang hướng đến, với cô, chính trị “là con đường duy nhất trong một nền dân chủ để đạt được sự thay đổi hòa bình và bền vững”.

Khi trở về trường Wellesley mùa thu năm ấy, Hillary quyết định dành việc làm luận văn năm học cuối để phân tích hoạt động của một nhà hoạt động cộng đồng khá nổi bật ở Chicago là Saul Alinsky – người mà cô đã gặp trong mùa hè trước. Không giống Hillary, Alinsky tin rằng cách thay đổi các chính phủ và các tập đoàn công ty là từ bên dưới, thông qua các tổ chức cơ sở và phải dùng các dữ kiện để đương đầu với quyền lực. Những nhà bình luận bảo thủ sau này thường dẫn ra mối liên kết Alinsky-Hillary như một bằng chứng cho cái gọi là chương trình hành động cấp tiến bí mật của Hillary. Nhưng dù thán phục lập luận của Alinsky rằng nhân dân cần được trao quyền lực để tự giúp mình, Hillary vẫn không thay đổi niềm tin của chính mình rằng, thay đổi sự vật từ bên ngoài là điều vô cùng khó. Thay vào đó, cô kết luận, “hệ thống có thể thay đổi từ bên trong”.

Mặc dù giữa họ có những bất đồng, Alinsky vẫn tạo cơ hội cho Hillary làm việc với ông sau khi cô tốt nghiệp đại học. Đây là một cử chỉ thân thiện, nhưng chấp nhận nó tức là trái với ý thức của Hillary về quyền lực và chính trị. Thay vì vậy, cô chọn con đường phía trong: cô sẽ theo học trường luật.

Hillary được cả trường Harvard và trường Yale nhận vào học. Cô không thể quyết định chọn trường nào cho đến khi tham dự một bữa tiệc trà tại trường Luật thuộc Đại học Harvard. Một người bạn giới thiệu cô với vị giáo sư, mà cô ta bảo, có vẻ như “vừa bước ra từ cuốn tiểu thuyết The Paper Chase.” Khi ông giáo sư nghe nói Hillary đang phân vân giữa trường Luật Harvard và “đối thủ cạnh tranh gần gũi nhất” của nó thì ông này vội nói ẩu, “Hừm, thứ nhất là chúng tôi không có đối thủ cạnh tranh gần gũi nào. Thứ hai, chúng tôi không cần có thêm phụ nữ ở Harvard”.

“Dù sao chăng nữa, tôi cũng thiên về trường Yale hơn,” nhiều năm sau Hillary nhớ lại. “Nhưng cuộc gặp gỡ này giải tỏa mọi nghi ngờ trong sự lựa chọn của tôi.”

Việc còn lại chỉ là lễ tốt nghiệp trường Đại học Wellesley mà Hillary tưởng rằng sẽ diễn ra suôn sẻ, không có sự kiện gì – quả là một ý nghĩ khá xa thực tế. Một người bạn học cùng khóa với Hillary, Eleanor “Eldie” Acheson, cháu nội của Dean Acheson, nguyên Ngoại trưởng dưới thời Tổng thống Truman, bỗng nảy ra ý tưởng phải có một sinh viên lên đọc diễn văn trong lễ phát bằng tốt nghiệp – một chuyện chưa từng có trong lịch sử của trường. Hiệu trưởng nhà trường, bà Ruth Adams, lập tức bác bỏ đề nghị đó.

Tuy nhiên Acheson không chấp nhận câu trả lời “không” của bà hiệu trưởng; cô tuyên bố sẽ tổ chức một buổi chống lại lễ phát bằng vào dịp cuối tuần ấy, và cô tin chắc người ông lừng danh của cô sẽ tham dự buổi lễ. Là chủ tịch ban điều hành sinh viên, Hillary bị triệu tập tới gặp bà hiệu trưởng Adams tại nhà bà trên bờ hồ Waban trong khu học xá.

“Vì sao bà phản đối?” Hillary hỏi.

“Vì chưa từng có việc như vậy,” bà Adams trả lời.

“Thế thì chúng ta có thể làm thử.”

“Chúng tôi không biết họ sẽ cử ai lên phát biểu,” bà Adams nói.

“Ồ, họ đã đề nghị em lên phát biểu.”

“Tôi sẽ suy nghĩ lại.”

Cuối cùng bà Adams cũng chấp nhận yêu cầu của sinh viên, có lẽ do bà đặt niềm tin nơi Hillary. Sau này Hillary thú nhận, “Tôi chưa hề mảy may có ý tưởng mình nên nói cái gì cho phù hợp với bốn năm dữ dội mà chúng tôi trải qua tại trường Wellesley.” Bạn bè xúm vào góp ý, đưa ra những bài thơ, những lời nhận xét. Tuy vậy, vào buổi tối cuối cùng trước ngày diễn ra lễ phát bằng, Hillary vẫn không biết chắc mình sẽ phát biểu những gì. Nhiều sinh viên khuyên cô nói về “lòng tin và việc thiếu lòng tin đối với chúng ta lẫn thiếu lòng tin vào cách chúng ta cảm nhận về người khác.” Ngay trong đêm, cô vội vã góp nhặt những ý tưởng ấy vào với nhau – “đêm thức trắng” cuối cùng trong quãng đời đại học của cô.

VÀO BUỔI SÁNG NGÀY 31 THÁNG 5 NĂM 1969, hơn hai ngàn phụ huynh, viên chức nhà trường, giáo sư và sinh viên tập trung dưới ánh nắng ấm áp trên bãi cỏ xanh, giữa ngôi nhà nguyện và thư viện trường để dự lễ phát bằng lần thứ 91 của Đại học Wellesley. Khi nhìn thấy Hillary sáng sớm hôm đó, bà hiệu trưởng Adams hỏi cô dự định phát biểu những gì. Hillary nói rằng bài phát biểu vẫn còn trong giai đoạn “suy ngẫm.”

Trong số quan khách dự lễ phát bằng có cha của Hillary, ông Hugh Rodham; ông từ Chicago đến Boston vào khuya hôm trước rồi đáp xe buýt vào khu học xá. Mẹ của Hillary, do cảm thấy không khỏe, đã không đến dự và điều đó làm cô thất vọng. “Về nhiều mặt, khoảnh khắc này là của bà cũng như của tôi vậy.”

Hillary, mệt mỏi vì mất ngủ, đang trong tâm trạng bồn chồn, lo âu. Cái mũ vuông đội trong lễ tốt nghiệp làm xáo trộn mái tóc và khiến cho bộ dạng của cô, theo lời cô nói, trông “thật kinh tởm”. Diễn giả chính của lễ phát bằng là Thượng nghị sĩ Edwards Brooke của bang Massachusetts, một người theo Đảng Cộng hòa và là thành viên người Mỹ gốc Phi châu duy nhất trong Thượng viện. Ông Brooke thừa nhận đất nước đang đương đầu với “những vấn đề xã hội sâu sắc và nặng nề”, nhưng ông phê phán “sự phản đối có tính gượng ép”. Bài diễn văn của ông “nghe như bài biện hộ cho chính sách của Tổng thống Nixon,” Hillary nhận xét. Cô bực bội vì ông Thượng nghị sĩ không hề nói tới Việt Nam, dân quyền, Martin Luther King hoặc Bobby Kennedy. “Ông thượng nghị sĩ dường như không có liên quan gì với cử tọa của mình – với bốn trăm nữ sinh viên trẻ, thông minh, hiểu biết và mang trong lòng nhiều câu hỏi,” cô nhớ lại.

Khi ông Brooke kết thúc bài phát biểu, bà hiệu trưởng Adams đứng lên và nói, “Bên cạnh việc mời Thượng nghị sĩ Brooke nói chuyện với các sinh viên tốt nghiệp sáng nay, khóa học 1969 bày tỏ mong muốn được nói với họ và về họ trong lễ phát bằng. Cho đến giờ, không có tranh cãi gì ngang với việc tôi biết chắc chắn ai sẽ là người phát ngôn cho họ – cô Hillary Rodham.” Bà Adams đề cao những thành tích học tập và hoạt động ngoại khóa của Hillary, rồi bà nói, “Cô cũng là một người đồng hành tốt, vui tính và có khiếu hài hước, một người bạn tốt của tất cả chúng ta. Và tôi rất sung sướng giới thiệu với tất cả quý vị, cô Hillary Rodham.”

Hillary bắt đầu, “Tôi rất sung sướng vì cô Adams đã nói rõ rằng điều tôi sẽ nói cho ngày hôm nay là tất cả chúng tôi – bốn trăm sinh viên – và chính tôi cũng đã tìm thấy mình trong một vị trí quen thuộc, đó là vị trí của phản ứng, một việc mà cho đến nay thế hệ chúng tôi đã thực hiện được phần nào. Chúng tôi chưa đứng vào vị trí lãnh đạo và nắm quyền, nhưng chúng tôi đã có một nhiệm vụ tối cần thiết là phê phán và phản đối trong tinh thần xây dựng; và tôi thấy mình đang phản ứng một cách ngắn gọn một số điều mà Thượng nghị sĩ Brooke vừa nói.”

Gần bốn thập niên sau đó, ông Brooke nhớ lại rằng Hillary đã dùng bài diễn văn “để giành lợi thế... Tôi ngồi đó, đại diện cho quyền lực, còn cô ấy đứng đó, đại diện cho tâm trạng vỡ mộng và thất vọng của thế hệ cô – một nhiệm vụ mà cô thực hiện hết sức hiệu quả.”

Bài diễn văn không mạch lạc lắm của Hillary đã đụng chạm đến những vấn đề về lòng tin cậy đối với công chức và các thể chế của Hoa Kỳ, tới sự tương kính giữa thế hệ trẻ và lớp cha anh, tới những thách thức đang chờ đợi các tân cử nhân. Hillary nói, khi họ đặt chân tới Wellesley, cô và các bạn cùng khóa nhận thấy “có một hố ngăn cách giữa kỳ vọng và thực tế. Nhưng đó không phải là hố ngăn cách làm người ta nản chí, nó không biến chúng tôi thành các bà già hoài nghi yếm thế và chua cay ở độ tuổi mười tám. Nó chỉ mang lại cảm hứng để chúng tôi phải làm một cái gì đó cho tình trạng ngăn cách ấy.”

Cô kết thúc bài diễn thuyết bằng một bài thơ do cô bạn cùng khóa Anne Scheibner sáng tác. Những dòng thơ cuối là:

Trái đất có thể công bằng. Bạn và tôi có thể tự do

Không phải cứu rỗi thế giới này bằng một cuộc

thập tự chinh vinh quang

Không phải tự giết mình bằng một nỗi đau vô danh

thường xuyên giày vò

Mà phải hành động bằng tất cả tài năng của

con người chúng ta

Biến cái không thể thành có thể.

Bài diễn văn của Hillary được các bạn cùng khóa hoan hô nhiệt liệt nhưng bà hiệu trưởng Adams thì rất bực bội với thông điệp mà nó đưa ra, nhất là với quyết định tức thời của Hillary phản pháo lại những nhận xét của diễn giả chính thức của lễ phát bằng. Bà nghĩ đó là một hành vi hỗn xược.

Vào cuối ngày hôm ấy, Hillary giã biệt Wellesley bằng cách phá vỡ các luật lệ của nó. Cô nhảy xuống hồ Waban gần ký túc xá – một khu vực tuyệt đối bị cấm bơi. Cô bỏ lại trên bờ cái quần jean bị cắt ống, chiếc áo thun và cặp kính râm kiểu phi công. “Tôi chẳng cần quan tâm tới thế giới này nữa khi bơi ra giữa hồ và vì tôi bị cận thị nên cảnh vật chung quanh hiện ra như một bức tranh theo phong cách ấn tượng.” Khi cô bơi trở vào bờ thì cặp kính và quần áo đã biến mất. Một nhân viên bảo vệ khu học xá nói với Hillary rằng, bà hiệu trưởng Adams từ trong nhà nhìn ra thấy Hillary đang bơi nên đã sai người ra tịch thu mấy thứ đó.

Có lẽ Hillary đã chọc giận bà hiệu trưởng Adams, nhưng dù sao bài diễn văn của cô cũng đã thu hút sự chú ý của cả nước. Những đoạn trích từ bài nói chuyện đó, cùng tấm ảnh của cô, đã được đăng trên tạp chí nổi tiếng Life số tháng 6 năm 1969; cô còn trả lời phỏng vấn của đài truyền hình Chicago. Mẹ của Hillary tận hưởng mối quan tâm mà giới truyền thông dành cho cô con gái duy nhất của bà; bà nói rằng mình đã nghe tất cả mọi phản ứng của công chúng, từ những lời khen tặng như “cô ấy đã phát ngôn cho cả một thế hệ”, cho đến những lời phê phán như, “con bé ấy tưởng mình là ai thế nhỉ?”

“Những lời xưng tụng và công kích ấy hóa ra mới chỉ là khúc dạo đầu cho những gì sẽ đến,” sau này Hillary nhớ lại.

❀ ❀ ❀

[1] Tập hợp 8 trường đại học danh giá nhất Hoa Kỳ - ND

[2] Barry Morris Goldwater: nhà chính trị bảo thủ Mỹ, thượng nghị sĩ đại diện bang Arizona trong giai đoạn 1953-1965 và 1969-1987, ứng cử viên tổng thống Mỹ năm 1964 nhưng không thành công - ND

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.