Christine Daaé, nạn nhân của những âm mưu mà chúng ta sẽ đề cập tới sau này, đã không lập tức giành lại được hào quang như đêm gala nổi tiếng kia tại Nhà hát Opera. Tuy nhiên, kể từ đó, cô đã có dịp hát ở chốn thị thành, tại tư gia của Nữ công tước xứ Zurich, nơi cô trình diễn những tác phẩm xuất sắc nhất trong tiết mục của mình; và đây là cách mà nhà phê bình lớn X. Y. Z., vốn là một trong những vị khách danh dự có mặt ở đó, đã nhận xét về cô:
«Khi nghe cô hát trong vở Hamlet, người ta tự hỏi liệu Shakespeare có từ chốn Champs-Élysées tìm đến để bắt cô diễn lại vai Ophélie... Đúng là khi cô khoác lên mình chiếc vương miện đầy sao của Nữ hoàng đêm tối, thì Mozart, từ cõi vĩnh hằng, chắc hẳn cũng phải rời bỏ chốn lưu trú của mình để tìm đến lắng nghe. Nhưng không, ông chẳng phải bận tâm làm gì, bởi chất giọng cao vút và rung động của nữ nghệ sĩ bậc thầy trong vở Cây sáo thần của ông đã tìm đến tận nơi ông ở trên Thiên đàng, chốn mà cô đã bước lên thật dễ dàng, tựa như cách cô đã xoay xở để bước, chẳng chút nhọc công, từ căn nhà tranh ở làng Skotelof đến cung điện vàng son bằng đá cẩm thạch do ngài Garnier xây dựng.»
Thế nhưng, sau buổi tối tại tư gia Nữ công tước xứ Zurich, Christine không còn hát ở bất cứ đâu trong giới thượng lưu. Thực tế là vào thời điểm đó, cô từ chối mọi lời mời, mọi thù lao. Không đưa ra lấy một lý do chính đáng, cô từ bỏ cả việc xuất hiện trong một buổi tiệc từ thiện mà trước đó cô đã hứa sẽ góp mặt. Cô hành xử như thể bản thân không còn làm chủ được định mệnh của chính mình, như thể cô đang sợ hãi một thắng lợi nào đó sắp ập đến.
Cô biết Bá tước de Chagny, vì chiều ý em trai, đã có những tác động rất tích cực với ngài Richard để giúp đỡ cô; cô viết thư cảm ơn ông và cũng để xin ông đừng nhắc về cô trước mặt những vị giám đốc đó nữa. Vậy thì đâu có thể là lý do cho thái độ kỳ lạ đến vậy? Có kẻ cho rằng đó là sự kiêu ngạo vô bờ, những kẻ khác lại trầm trồ về một sự khiêm nhường thánh thiện. Người ta chẳng khiêm nhường đến mức đó khi đứng trên sân khấu; thực tình, tôi không biết liệu mình có nên chỉ viết đơn giản một từ này hay không: sợ hãi. Phải, tôi thực sự tin rằng khi ấy Christine Daaé đang sợ hãi những gì vừa xảy đến với mình, và cô cũng kinh ngạc về điều đó chẳng kém gì tất cả những người xung quanh. Kinh ngạc ư? Thôi nào! Tôi có ở đây một lá thư của Christine (trong bộ sưu tập của người Ba Tư) liên quan đến những sự kiện thời bấy giờ. Chà, sau khi đọc lại nó, tôi sẽ không viết rằng Christine kinh ngạc hay thậm chí là sợ hãi vì thành công của mình đâu, mà phải là khiếp đảm. Phải, phải rồi... khiếp đảm! «Tôi không còn nhận ra chính mình khi cất tiếng hát!» cô nói.
Cô bé tội nghiệp, thuần khiết và dịu dàng ấy!
Cô chẳng xuất hiện ở bất cứ đâu, và Tử tước de Chagny đã cố tìm cách chặn đường cô nhưng vô vọng. Anh viết thư cho cô, xin phép được đến thăm, và đang tuyệt vọng vì không có hồi âm, thì một buổi sáng, cô gửi cho anh mẩu giấy này:
«Thưa ông, tôi không hề quên đứa trẻ nhỏ đã lặn lội xuống biển tìm chiếc khăn choàng cho tôi. Tôi không thể không viết điều này cho ông, vào chính ngày hôm nay khi tôi rời Paris để đi Perros, vì một bổn phận thiêng liêng. Ngày mai là ngày giỗ người cha tội nghiệp của tôi, người mà ông từng quen biết và rất quý mến. Ông ấy được chôn cất ở dưới đó, cùng với chiếc vĩ cầm của mình, trong nghĩa trang bao quanh ngôi nhà thờ nhỏ, dưới chân ngọn đồi nơi chúng ta từng chơi đùa thỏa thích thuở còn thơ; bên cạnh con đường nơi chúng ta, khi đã lớn hơn đôi chút, đã nói lời từ biệt lần cuối cùng.»
Khi nhận được mẩu giấy này từ Christine Daaé, Tử tước de Chagny vội vã lao đến bảng lịch trình tàu hỏa, vội vàng thay quần áo, viết mấy dòng gửi cho người hầu phòng của mình để chuyển lại cho anh trai, rồi phóng lên xe ngựa; chiếc xe rốt cuộc lại đưa anh tới sân ga Montparnasse quá trễ để kịp chuyến tàu buổi sáng mà anh đã dự định.
Raoul trải qua một ngày ủ rũ và chỉ thực sự tìm lại niềm vui sống vào chiều muộn khi đã yên vị trên toa tàu. Suốt dọc hành trình, anh đọc đi đọc lại lá thư của Christine, hít hà mùi hương trên đó; anh hồi tưởng lại hình ảnh dịu dàng của những năm tháng thanh xuân. Anh đã trải qua suốt cái đêm kinh khủng trên tàu ấy trong cơn mộng mị, một giấc mơ mà khởi đầu và kết thúc đều là Christine Daaé. Ngày bắt đầu hửng sáng khi anh đặt chân xuống Lannion. Anh chạy đến chỗ chiếc xe ngựa đi Perros-Guirec. Anh là hành khách duy nhất. Anh gặng hỏi người đánh xe. Anh biết được rằng tối hôm trước, một người phụ nữ trẻ trông dáng vẻ hoàn toàn giống người Paris đã thuê xe tới Perros và đã dừng chân tại nhà trọ Soleil-Couchant. Chỉ có thể là Christine. Cô đã đi một mình. Raoul buông một tiếng thở dài thườn thượt. Anh sẽ có thể, trong sự yên tĩnh tuyệt đối này, trò chuyện với Christine. Anh yêu cô đến nghẹt thở. Chàng trai cao lớn này, người đã đi khắp thế giới, vẫn trong trắng như một thiếu nữ chưa từng rời khỏi nhà mẹ đẻ.
Càng đến gần cô, anh càng sùng kính nhớ lại câu chuyện về cô ca sĩ nhỏ người Thụy Điển. Rất nhiều chi tiết trong đó đám đông vẫn còn chưa hề hay biết.
Ngày xưa, tại một thị trấn nhỏ gần Uppsala, có một người nông dân sống cùng gia đình, ngày thường thì canh tác ruộng đồng, ngày Chủ nhật thì hát ở bục giảng kinh. Người nông dân này có một cô con gái nhỏ mà ông đã dạy cho biết đọc bảng chữ cái âm nhạc từ rất lâu trước khi cô bé biết đọc chữ. Cha của Daaé, có lẽ không tự nhận thức được điều đó, là một nhạc sĩ vĩ đại. Ông chơi vĩ cầm và được coi là người chơi đàn giỏi nhất khắp vùng Scandinavia. Danh tiếng của ông lan xa và người ta luôn tìm đến ông để nhờ chơi nhạc cho các cặp đôi nhảy múa trong các lễ cưới và tiệc tùng. Người mẹ của Daaé, vốn tàn tật, đã qua đời khi Christine vừa bước sang tuổi thứ sáu. Ngay lập tức, người cha, vốn chỉ yêu con gái và âm nhạc của mình, đã bán mảnh đất nhỏ và lên đường tìm kiếm vinh quang tại Uppsala. Nhưng ở đó, ông chẳng tìm thấy gì ngoài sự nghèo túng.
Thế rồi, ông lại quay về nông thôn, đi hết hội chợ này đến hội chợ khác, kéo những bản nhạc Scandinavia, trong khi cô con gái, người chưa bao giờ rời xa ông, lắng nghe với vẻ say mê hoặc hát đệm theo ông. Một ngày nọ, tại hội chợ Limby, giáo sư Valérius đã nghe cả hai cha con biểu diễn và đưa họ về Gothenburg. Ông quả quyết rằng người cha là nghệ sĩ vĩ cầm số một thế giới và cô con gái có tố chất của một nghệ sĩ lớn. Người ta chu cấp cho việc giáo dục và học hành của cô bé. Ở đâu cô cũng khiến mọi người kinh ngạc bởi vẻ đẹp, sự duyên dáng và khao khát được nói hay, làm tốt. Những bước tiến của cô thật nhanh chóng. Trong khoảng thời gian đó, vợ chồng giáo sư Valérius phải chuyển đến định cư tại Pháp. Họ đưa Daaé và Christine đi cùng. Bà Valérius đối xử với Christine như con đẻ. Còn ông già Daaé, ông bắt đầu héo hon, bị nỗi nhớ quê hương giày vò. Tại Paris, ông chẳng bao giờ ra ngoài. Ông sống trong một kiểu giấc mơ mà ông nuôi dưỡng bằng cây vĩ cầm của mình. Hàng giờ liền, ông tự nhốt mình trong phòng với con gái, và người ta nghe thấy tiếng ông kéo vĩ cầm, hát khe khẽ, rất khẽ. Đôi khi, bà Valérius đến nghe họ sau cánh cửa, thở dài thườn thượt, lau một giọt nước mắt rồi lặng lẽ quay đi trên những đầu ngón chân. Bà cũng mang trong lòng nỗi hoài hương về bầu trời Scandinavia của mình.
Cha của Daaé dường như chỉ lấy lại sức lực vào mùa hè, khi cả gia đình đi nghỉ mát ở Perros-Guirec, một góc nhỏ ở Brittany mà lúc bấy giờ hầu như người Paris chưa hề hay biết. Ông rất yêu vùng biển này, nói rằng nó có cùng màu sắc với quê hương mình và, thường thường, trên bãi biển, ông chơi cho biển nghe những bản nhạc ai oán nhất, và ông quả quyết rằng biển cả cũng im lặng để lắng nghe. Và rồi, ông đã nài nỉ bà Valérius đến mức bà phải đồng ý với một cơn mê mới của ông già nghệ sĩ.
Vào thời điểm của những «lễ xá tội», những lễ hội làng, những điệu nhảy và những vũ điệu «dérobées», ông lại ra đi như ngày trước, với cây vĩ cầm, và ông có quyền mang theo con gái trong tám ngày. Người ta không bao giờ chán nghe họ đàn hát. Họ gieo rắc sự hòa âm cho suốt cả năm trời vào từng thôn xóm nhỏ nhất, và ngủ đêm trong những nhà kho, từ chối chiếc giường ở nhà trọ, nép vào nhau trên đống rơm, y như thuở họ còn nghèo khó ở Thụy Điển.
Tuy vậy, họ ăn vận rất chỉnh tề, từ chối những đồng xu người ta trao tặng, chẳng hề đi quyên góp, và những người xung quanh chẳng thể hiểu nổi cách cư xử của người nghệ sĩ vĩ cầm này, kẻ lang thang khắp các nẻo đường cùng cô bé xinh đẹp hát hay đến mức người ta cứ ngỡ là đang nghe một thiên thần từ thiên đường. Người ta dõi theo họ từ làng này sang làng khác.
Một ngày nọ, một cậu bé từ thành phố tới, đang đi cùng bảo mẫu, đã bắt bà phải đi một quãng đường dài, vì cậu nhất quyết không chịu rời xa cô bé có giọng hát dịu dàng và thuần khiết đến mức như đã mê hoặc cậu. Họ cứ thế đi tới tận bờ một lạch nước mà ngày nay người ta vẫn gọi là Trestraou. Thời đó, nơi này chỉ có bầu trời, biển cả và bờ cát vàng óng. Và, trên tất cả, có một cơn gió lớn đã cuốn chiếc khăn choàng của Christine ra biển. Christine thét lên và đưa tay ra, nhưng chiếc khăn đã trôi xa trên những con sóng. Christine nghe thấy một giọng nói bảo mình: —Đừng bận tâm, tiểu thư, tôi sẽ xuống biển nhặt lại chiếc khăn choàng cho cô.
Và cô nhìn thấy một cậu bé đang chạy, chạy thật nhanh, bất chấp tiếng la hét và sự phản đối phẫn nộ của một bà quý bà tốt bụng, toàn thân mặc đồ đen. Cậu bé lao xuống biển trong khi vẫn mặc nguyên quần áo và mang trả cô chiếc khăn. Cậu bé và chiếc khăn đều ướt sũng! Người đàn bà mặc đồ đen không thể nào nguôi giận, nhưng Christine cười hết cỡ, và cô ôm lấy cậu bé. Đó là Tử tước Raoul de Chagny. Lúc bấy giờ, cậu đang sống cùng dì mình tại Lannion. Trong suốt mùa hè, họ gặp lại nhau hầu như mỗi ngày và cùng chơi đùa với nhau. Theo lời yêu cầu của bà dì và qua sự dàn xếp của giáo sư Valérius, ông già Daaé đồng ý dạy vĩ cầm cho cậu tử tước trẻ. Thế là, Raoul học cách yêu những giai điệu đã làm say đắm tuổi thơ của Christine.
Họ có cùng một tâm hồn nhỏ bé, mộng mơ và tĩnh lặng. Họ chỉ thích những câu chuyện, những mẩu chuyện cổ Breton, và trò chơi chính của họ là đi gõ cửa từng nhà để "xin" chuyện, như những kẻ ăn mày. «Thưa bà hoặc thưa ông tốt bụng, ngài có một câu chuyện nhỏ nào kể cho chúng cháu nghe không ạ?» Hiếm khi nào người ta không «cho» họ. Có bà lão Breton nào mà chưa từng thấy, ít nhất một lần trong đời, lũ yêu tinh korrigan nhảy múa trên bãi thạch nam dưới ánh trăng?
Nhưng lễ hội lớn nhất của họ là khi hoàng hôn buông xuống, trong sự bình yên bao la của buổi tối, sau khi mặt trời đã lặn xuống biển, cha của Daaé ngồi xuống cạnh họ bên lề đường, và kể cho họ nghe bằng giọng nhỏ nhẹ, như thể sợ làm kinh động đến những hồn ma mà ông đang triệu hồi, những huyền thoại tươi đẹp, dịu dàng hoặc kinh khủng của vùng đất phương Bắc. Lúc thì nó đẹp như những câu chuyện cổ của Andersen, lúc thì buồn bã như những bài ca của nhà thơ lớn Runeberg. Khi ông im lặng, hai đứa trẻ lại nói: «Kể nữa đi ạ!»
Có một câu chuyện bắt đầu thế này: «Một vị vua ngồi trong một chiếc thuyền nhỏ, trên một trong những vùng nước tĩnh lặng và sâu thẳm mở ra như một con mắt sáng giữa những ngọn núi Na Uy...» Và một câu chuyện khác: «Cô bé Lotte nhỏ nghĩ về tất cả mọi thứ mà cũng chẳng nghĩ gì cả. Như một chú chim mùa hè, cô bé bay lượn trong những tia nắng vàng, đội trên những lọn tóc vàng óng chiếc vương miện xuân thì. Tâm hồn cô cũng trong sáng, xanh thẳm như ánh mắt cô. Cô cưng nựng mẹ, cô chung thủy với con búp bê, chăm chút cho chiếc váy, đôi giày đỏ và cây vĩ cầm của mình, nhưng hơn tất cả, cô thích nghe Thiên thần Âm nhạc khi đi vào giấc ngủ.»
Trong khi ông lão kể những điều ấy, Raoul ngắm nhìn đôi mắt xanh và mái tóc vàng của Christine. Và Christine nghĩ rằng cô bé Lotte thật hạnh phúc khi được nghe Thiên thần Âm nhạc khi đi vào giấc ngủ. Hầu như chẳng có câu chuyện nào của cha Daaé mà không có sự xuất hiện của Thiên thần Âm nhạc, và bọn trẻ cứ hỏi ông mãi không thôi những câu giải thích về Thiên thần này. Cha Daaé quả quyết rằng tất cả những nhạc sĩ vĩ đại, tất cả những nghệ sĩ lớn đều nhận được sự viếng thăm của Thiên thần Âm nhạc ít nhất một lần trong đời. Thiên thần này đôi khi ghé xuống nôi của họ, như đã xảy ra với cô bé Lotte, và đó là lý do tại sao có những thần đồng nhỏ tuổi chơi vĩ cầm ở tuổi lên sáu giỏi hơn cả những người đàn ông năm mươi tuổi, điều mà bạn phải thừa nhận là vô cùng phi thường. Đôi khi, Thiên thần đến muộn hơn nhiều, bởi bọn trẻ không ngoan và không chịu học hành tử tế, lơ là các bài tập luyện âm giai. Đôi khi, Thiên thần chẳng bao giờ đến, bởi người ta không có một trái tim thuần khiết hay một lương tâm thanh thản. Người ta không bao giờ nhìn thấy Thiên thần, nhưng Thiên thần sẽ cất tiếng cho những tâm hồn đã được chọn lựa. Thường thường, đó là vào những khoảnh khắc người ta ít ngờ tới nhất, khi họ buồn bã và nản lòng. Lúc ấy, đôi tai bất chợt cảm nhận được những hòa âm của thiên đường, một giọng nói thiêng liêng, và họ ghi nhớ điều đó suốt cả cuộc đời. Những người được Thiên thần viếng thăm dường như trở nên rực rỡ hẳn lên. Họ rung lên một nhịp đập mà những người phàm trần khác không sao biết tới. Và họ có đặc quyền là không thể chạm vào bất kỳ nhạc cụ nào hay mở miệng hát mà không thốt ra những âm thanh khiến tất cả những âm thanh khác của con người phải hổ thẹn vì vẻ đẹp của chúng. Những người không biết rằng Thiên thần đã viếng thăm những người này thì nói rằng họ có thiên tài.
Cô bé Christine hỏi cha mình liệu ông đã bao giờ nghe thấy Thiên thần chưa. Nhưng cha Daaé buồn rầu lắc đầu, rồi ánh mắt ông bừng sáng khi nhìn đứa con gái và bảo nó: «Con, con yêu của cha, một ngày nào đó con sẽ được nghe! Khi cha ở trên Thiên đàng, cha sẽ gửi Thiên thần đó đến với con, cha hứa đấy!» Cha Daaé bắt đầu ho vào thời kỳ đó.
Mùa thu đến, chia cắt Raoul và Christine.
Họ gặp lại nhau ba năm sau đó; giờ họ đã là những thanh niên. Chuyện này lại diễn ra tại Perros và Raoul giữ một ấn tượng sâu đậm đến mức nó đeo bám anh suốt cả cuộc đời. Giáo sư Valérius đã qua đời, nhưng bà Valérius vẫn ở lại Pháp, nơi lợi ích giữ bà lại cùng với ông già Daaé và con gái, cả hai vẫn luôn hát và chơi vĩ cầm, lôi cuốn người bảo trợ thân yêu của họ vào giấc mơ hài hòa ấy, người dường như chỉ còn sống bằng âm nhạc. Chàng trai trẻ tình cờ đến Perros và cũng theo cách ấy, anh bước vào ngôi nhà mà trước đây người bạn nhỏ của anh từng ở. Trước tiên, anh nhìn thấy ông già Daaé, người đứng dậy khỏi ghế với đôi mắt đẫm lệ và ôm lấy anh, nói với anh rằng họ vẫn giữ một ký ức trung thành về anh. Thực ra, hầu như chẳng có ngày nào trôi qua mà Christine không nhắc đến Raoul. Ông già đang nói dở thì cánh cửa mở ra, và cô gái trẻ, duyên dáng, vội vã bước vào, tay bưng khay trà đang bốc khói. Cô nhận ra Raoul và đặt vật trên tay xuống. Một chút rực rỡ thoáng qua trên khuôn mặt quyến rũ của cô. Cô đứng đó, do dự, lặng thinh. Người cha nhìn cả hai. Raoul bước tới gần cô gái và trao cho cô một nụ hôn mà cô không hề né tránh. Cô hỏi anh vài câu, hoàn thành tròn vai nghĩa vụ của người chủ nhà, cầm khay lên và rời khỏi phòng. Sau đó, cô đi lánh mình trên một chiếc ghế băng trong sự tĩnh lặng của khu vườn. Cô cảm nhận được những xúc cảm đang trào dâng trong trái tim tuổi mới lớn của mình lần đầu tiên. Raoul đi theo và họ trò chuyện cho đến tận chiều tối, trong một sự bối rối tột độ. Họ đã hoàn toàn thay đổi, không còn nhận ra những nhân vật của chính mình, những nhân vật dường như đã có được một tầm quan trọng đáng kể. Họ thận trọng như những nhà ngoại giao và kể cho nhau nghe những chuyện chẳng liên quan gì đến tình cảm đang nhen nhóm. Khi chia tay nhau bên lề đường, Raoul nói với Christine, khi đặt một nụ hôn đúng mực lên bàn tay run rẩy của cô: «Tiểu thư, tôi sẽ không bao giờ quên cô!» Và anh bỏ đi, hối tiếc vì lời nói táo bạo ấy, bởi anh biết rõ rằng Christine Daaé không thể là vợ của Tử tước de Chagny.
Về phần Christine, cô đến tìm cha và nói: «Cha không thấy là Raoul không còn đáng yêu như trước nữa sao? Con không còn yêu anh ấy nữa!» Và cô cố gắng không nghĩ về anh nữa. Cô thực hiện điều đó khá khó khăn và quay sang nghệ thuật, thứ chiếm hết mọi khoảnh khắc của cô. Những bước tiến của cô trở nên kỳ diệu. Những người lắng nghe cô dự đoán rằng cô sẽ là nghệ sĩ số một thế giới. Nhưng trong khoảng thời gian đó, cha cô qua đời, và ngay lập tức, cô dường như đã mất đi giọng hát, tâm hồn và thiên tài của mình cùng với ông. Cô chỉ còn đủ những thứ đó để vào Nhạc viện, nhưng cũng chỉ vừa đủ. Cô không hề nổi bật theo bất kỳ cách nào, theo học các lớp mà không chút nhiệt tình và giành được một giải thưởng chỉ để làm vui lòng bà mẹ Valérius già nua, người mà cô vẫn tiếp tục sống cùng. Lần đầu tiên Raoul gặp lại Christine ở Nhà hát Opera, anh đã bị mê hoặc bởi vẻ đẹp của cô gái trẻ và bởi sự gợi lại những hình ảnh dịu dàng ngày trước, nhưng anh khá ngạc nhiên về khía cạnh tiêu cực trong nghệ thuật của cô. Cô dường như tách biệt với mọi thứ. Anh quay lại nghe cô hát. Anh theo cô vào hậu trường. Anh đợi cô sau một tấm bình phong. Anh cố gắng thu hút sự chú ý của cô. Không dưới một lần, anh đi cùng cô đến tận cửa phòng thay đồ của cô, nhưng cô không nhìn thấy anh. Hơn nữa, cô dường như không nhìn thấy ai cả. Đó là sự thờ ơ đi ngang qua. Raoul đau khổ vì điều đó, bởi cô quá xinh đẹp; anh nhút nhát và không dám tự thú nhận với chính mình rằng anh yêu cô. Và rồi, đó là cú sốc của đêm gala: bầu trời rách toạc, một giọng hát thiên thần cất lên trên mặt đất để làm say đắm lòng người và thiêu đốt trái tim anh...
Và rồi, và rồi, có cả cái giọng đàn ông phía sau cánh cửa: «Phải yêu anh!» mà chẳng có ai trong phòng thay đồ...
Tại sao cô lại cười khi anh nói với cô, lúc cô vừa mở mắt ra: «Tôi là cậu bé đã nhặt chiếc khăn choàng của cô dưới biển»? Tại sao cô không nhận ra anh? Và tại sao cô lại viết thư cho anh?
Ồ! Bờ biển này dài quá... dài quá... Đây là cây thánh giá ở ngã ba đường... Đây là vùng đất hoang vắng, những bụi thạch nam lạnh lẽo, phong cảnh bất động dưới bầu trời trắng. Những ô cửa kính kêu lanh lảnh, vỡ tan trong tai anh... Chiếc xe ngựa này ồn ào quá mà lại tiến chậm chạp đến vậy! Anh nhận ra những mái nhà tranh... những khu rào, những bờ đất, những cái cây bên đường... Đây là khúc quanh cuối cùng của con đường, và rồi xe sẽ lao dốc xuống và đó sẽ là biển... vịnh Perros rộng lớn...
Vậy là, cô đã xuống tại nhà trọ Soleil-Couchant. Trời ạ! Chẳng còn chỗ nào khác nữa. Và hơn nữa, ở đó rất tốt. Anh nhớ rằng hồi trước, người ta thường kể những câu chuyện hay ở đó! Tim anh đập mạnh quá! Cô sẽ nói gì khi nhìn thấy anh đây?
Người đầu tiên anh bắt gặp khi bước vào căn phòng cũ kỹ đầy khói thuốc của nhà trọ là bà Tricard. Bà nhận ra anh. Bà dành cho anh những lời khen ngợi. Bà hỏi điều gì đã đưa anh tới đây. Anh đỏ mặt. Anh nói rằng, nhân tiện có việc ở Lannion, anh đã muốn «ghé qua đây để chào bà». Bà muốn dọn bữa trưa cho anh, nhưng anh nói: «Để lát nữa.» Anh dường như đang chờ đợi một thứ gì đó hoặc một ai đó. Cánh cửa mở ra. Anh đứng dậy. Anh không nhầm: chính là cô! Anh định nói, rồi lại ngã khuỵu xuống. Cô đứng trước mặt anh mỉm cười, không hề ngạc nhiên. Gương mặt cô tươi tắn và hồng hào như trái dâu tây mọc trong bóng râm. Chắc hẳn, cô gái trẻ đang xúc động vì một chuyến đi vội vã. Lồng ngực chứa đựng một trái tim chân thành đang phập phồng nhẹ nhàng. Đôi mắt cô, những tấm gương trong vắt màu xanh nhạt, màu của những hồ nước đang mơ màng, bất động, tận đằng xa phía bắc thế giới, đôi mắt cô bình thản mang đến cho anh hình ảnh phản chiếu tâm hồn thuần khiết của cô. Chiếc áo lông thú hở ra một vòng eo mềm mại, một đường cong hài hòa trên cơ thể trẻ trung đầy duyên dáng của cô. Raoul và Christine nhìn nhau thật lâu. Bà Tricard mỉm cười và, một cách tinh tế, lặng lẽ rút lui. Cuối cùng Christine lên tiếng: —Anh đã đến và điều đó chẳng làm tôi ngạc nhiên chút nào. Tôi đã linh tính rằng tôi sẽ gặp lại anh ở đây, trong quán trọ này, khi tôi từ nhà thờ về. Có người đã nói với tôi điều đó, ở đằng kia. Vâng, người ta đã báo trước cho tôi biết anh sẽ đến. —Ai cơ? Raoul hỏi, tay cầm lấy bàn tay nhỏ bé của Christine mà cô không hề rụt lại. —Nhưng, cha tội nghiệp của tôi đã mất rồi.
Có một sự im lặng giữa hai người trẻ.
Rồi Raoul tiếp lời: —Có phải cha cô đã nói với cô rằng tôi yêu cô, Christine, và tôi không thể sống thiếu cô?
Christine đỏ mặt tận mang tai và quay đầu đi. Cô nói, giọng run rẩy: —Tôi ư? Anh điên rồi, bạn của tôi.
Và cô bật cười để, như người ta nói, lấy lại vẻ tự nhiên.
—Đừng cười Christine, chuyện này rất nghiêm túc.
Và cô đáp lại, nghiêm giọng: —Tôi không hề bảo anh đến đây để anh nói với tôi những điều tương tự như vậy.
—Cô đã «bảo tôi đến» Christine; cô đã đoán được rằng lá thư của cô sẽ không khiến tôi thờ ơ và tôi sẽ lao đến Perros. Làm sao cô có thể nghĩ được điều đó, nếu cô không nghĩ rằng tôi yêu cô?
—Tôi đã nghĩ rằng anh sẽ nhớ lại những trò chơi thời thơ ấu mà cha tôi thường tham gia cùng. Thực ra, tôi không biết rõ mình đã nghĩ gì... Có lẽ tôi đã sai khi viết thư cho anh... Sự xuất hiện đột ngột của anh tối hôm trước trong phòng thay đồ của tôi đã đưa tôi trở về quá khứ, thật xa, rất xa, và tôi đã viết cho anh như một cô bé mà tôi đã từng là lúc bấy giờ, người sẽ cảm thấy hạnh phúc khi được gặp lại, trong một khoảnh khắc buồn bã và cô đơn, người bạn nhỏ bên cạnh mình...
Trong một thoáng, họ im lặng. Trong thái độ của Christine có điều gì đó mà Raoul không thấy tự nhiên mà chẳng thể xác định chính xác suy nghĩ của mình. Tuy nhiên, anh không cảm thấy cô thù địch; ngược lại... sự dịu dàng đau đớn trong đôi mắt cô đã cho anh biết đủ điều. Nhưng tại sao sự dịu dàng ấy lại đau đớn?... Đó có lẽ là điều cần phải biết và là điều đang khiến chàng trai trẻ cảm thấy khó chịu...
—Khi cô nhìn thấy tôi trong phòng thay đồ, đó là lần đầu tiên cô thấy tôi phải không, Christine?
Cô ấy không biết nói dối. Cô nói: —Không! Tôi đã thấy anh vài lần trong lô của anh trai anh. Và rồi cả trên sân khấu nữa.
—Tôi đã nghi vậy! Raoul nói, mím môi. Nhưng tại sao, khi cô thấy tôi trong phòng thay đồ của cô, dưới chân cô, và nhắc cho cô nhớ rằng tôi đã nhặt chiếc khăn choàng của cô dưới biển, tại sao cô lại trả lời như thể không hề quen biết tôi và tại sao cô lại cười?
Giọng điệu của những câu hỏi này quá gay gắt đến mức Christine nhìn Raoul, ngạc nhiên, và không trả lời anh. Chàng trai trẻ chính anh cũng sửng sốt trước cuộc cãi vã đột ngột này, điều mà anh dám làm ngay vào khoảnh khắc anh tự hứa sẽ nói với Christine những lời dịu dàng, yêu thương và phục tùng. Một người chồng, một người tình có đủ mọi quyền hạn, cũng sẽ không nói chuyện khác đi với vợ hay tình nhân của mình nếu họ xúc phạm anh ta. Nhưng anh tự thấy khó chịu vì lỗi lầm của mình, và tự đánh giá mình thật ngu ngốc, anh không tìm ra lối thoát nào cho tình huống nực cười này ngoài quyết định dữ dằn là tỏ ra đáng ghét.
—Cô không trả lời tôi! anh nói, giận dữ và đau khổ. Chà, tôi sẽ trả lời thay cô! Là vì có ai đó trong phòng thay đồ đó đã khiến cô khó xử, Christine! ai đó mà cô không muốn cho thấy rằng cô có thể quan tâm đến một người khác ngoài anh ta!...
—Nếu có ai đó khiến tôi khó xử, bạn của tôi! Christine ngắt lời bằng một giọng lạnh băng... nếu có ai đó khiến tôi khó xử vào tối hôm đó, thì đó hẳn phải là anh, vì chính anh là người tôi đã đuổi ra khỏi cửa!...
—Vâng!... để ở lại với kẻ kia!...
—Anh đang nói gì vậy, thưa ông? cô gái trẻ nói, hổn hển... và kẻ kia nào đang được nhắc đến ở đây?
—Kẻ mà cô đã nói: Tôi chỉ hát cho mình anh nghe! Tôi đã trao cho anh tâm hồn mình tối nay, và tôi đã chết!
Christine nắm lấy cánh tay Raoul: cô siết chặt lấy anh với một sức mạnh mà người ta không thể ngờ tới ở con người mong manh này.
—Vậy là anh đã nghe lén sau cánh cửa ư?
—Vâng! Bởi vì tôi yêu cô... Và tôi đã nghe thấy tất cả...
—Anh đã nghe thấy gì? Và cô gái trẻ, trở nên bình tĩnh một cách lạ lùng, buông cánh tay Raoul ra.
—Hắn đã nói với cô: Phải yêu anh!
Trước những lời này, một sự tái nhợt như tử thi lan tỏa trên khuôn mặt Christine, đôi mắt cô trũng xuống... Cô lảo đảo, cô sắp ngã. Raoul lao tới, đưa tay ra, nhưng Christine đã vượt qua cơn choáng váng nhất thời đó, và, bằng giọng nói nhỏ nhẹ, gần như tắt lịm:
—Nói đi! hãy nói nữa đi! hãy nói tất cả những gì anh đã nghe!
Raoul nhìn cô, do dự, chẳng hiểu gì về những chuyện đang xảy ra.
—Nhưng, nói đi chứ! Anh thấy rõ là anh đang giết tôi rồi!...
—Tôi còn nghe thấy hắn trả lời cô, khi cô nói với hắn rằng cô đã trao cho hắn tâm hồn của mình: Tâm hồn của con thật đẹp, con yêu, và ta cảm ơn con. Chẳng có vị hoàng đế nào từng nhận được món quà như vậy! Các thiên thần đã khóc tối nay!
Christine đặt tay lên tim. Cô nhìn Raoul với một sự xúc động không thể diễn tả. Ánh mắt cô sắc lạnh đến mức, cố định đến mức, trông như ánh mắt của một kẻ điên. Raoul khiếp đảm. Nhưng rồi đôi mắt Christine trở nên ướt át và trên đôi má trắng như ngà của cô lăn dài hai viên ngọc, hai giọt lệ nặng trĩu...
—Christine!...
—Raoul!...
Chàng trai muốn ôm lấy cô, nhưng cô trượt khỏi tay anh và bỏ chạy trong sự hỗn loạn tột độ.
Trong khi Christine vẫn giam mình trong phòng, Raoul tự trách mình hàng ngàn lần vì sự thô bạo của bản thân; nhưng mặt khác, sự ghen tuông lại bắt đầu phi nước đại trong những mạch máu đang rực cháy của anh. Để cô gái trẻ thể hiện một sự xúc động như vậy khi biết rằng bí mật của mình bị phát hiện, thì bí mật đó hẳn phải vô cùng quan trọng! Chắc chắn, Raoul, bất chấp những gì đã nghe, không hề nghi ngờ sự thuần khiết của Christine. Anh biết cô có tiếng là người khôn ngoan và anh không phải là kẻ khờ khạo đến mức không hiểu sự cần thiết mà đôi khi một nghệ sĩ bị dồn vào thế phải nghe những lời yêu đương. Cô đã trả lời điều đó bằng cách khẳng định rằng cô đã trao đi tâm hồn mình, nhưng rõ ràng, tất cả những chuyện này chỉ là về ca hát và âm nhạc. Rõ ràng ư? Vậy thì, tại sao lại có sự chấn động lúc nãy? Chúa ơi, Raoul thật bất hạnh! Và, nếu anh túm được gã đàn ông đó, cái giọng đàn ông đó, anh đã bắt hắn giải thích cho rõ ràng rồi.
Tại sao Christine lại bỏ chạy? Tại sao cô không xuống dưới?
Anh từ chối ăn trưa. Anh vô cùng phi thường và đau đớn khi thấy trôi xa khỏi người thiếu nữ Thụy Điển ấy những giờ phút mà anh đã hy vọng là sẽ thật ngọt ngào? Tại sao cô không đi cùng anh dạo quanh vùng đất nơi họ có chung biết bao kỷ niệm? Và tại sao, vì cô dường như chẳng còn việc gì để làm ở Perros và, thực tế, cô cũng chẳng làm gì cả, cô lại không lập tức quay về Paris? Anh đã biết rằng sáng hôm đó, cô đã cho làm lễ cầu hồn cho người cha Daaé và đã dành hàng giờ dài để cầu nguyện trong ngôi nhà thờ nhỏ và trên mộ của người nghệ sĩ.
Buồn bã, chán nản, Raoul đi về phía nghĩa trang bao quanh nhà thờ. Anh đẩy cửa bước vào. Anh lang thang một mình giữa những ngôi mộ, đánh vần những dòng chữ khắc, nhưng khi anh đi ra phía sau hậu cung nhà thờ, anh lập tức được báo hiệu bởi mùi hương nồng nàn của những đóa hoa đang thở dài trên mặt đá mộ và tràn lan ra tận lớp đất trắng. Chúng tỏa hương thơm ngát cả một góc lạnh lẽo của mùa đông Breton. Đó là những đóa hồng đỏ kỳ diệu trông như vừa nở vào buổi sáng, trong làn tuyết. Đó là một chút sự sống giữa những người chết, vì cái chết, ở đó, hiện hữu khắp nơi. Nó cũng tràn ra từ mảnh đất đã thải hồi những xác chết quá tải. Những bộ xương và sọ người hàng trăm cái được xếp chồng lên nhau tựa vào bức tường nhà thờ, chỉ được giữ bằng một mạng lưới dây thép mỏng manh để lộ ra toàn bộ cấu trúc kinh hoàng. Những cái đầu lâu, được xếp chồng, xếp hàng như những viên gạch, được củng cố ở các khoảng trống bằng những đoạn xương được làm sạch rất gọn gàng, dường như tạo thành lớp nền đầu tiên mà trên đó người ta đã xây nên những bức tường của phòng thánh lễ. Cửa của phòng thánh lễ này mở ra ngay giữa đống xương cốt ấy, kiểu mà người ta thường thấy nhiều dọc theo các nhà thờ Breton cổ kính.
Raoul cầu nguyện cho Daaé, rồi, bị ám ảnh một cách thê lương bởi những nụ cười vĩnh cửu trên khuôn miệng của những chiếc sọ người, anh rời khỏi nghĩa trang, leo lên sườn đồi và ngồi xuống rìa vùng đất hoang nhìn ra biển. Gió gào thét hung dữ trên những bãi cát, sủa vang đuổi theo ánh sáng nhạt nhòa, đáng thương của ngày. Ánh sáng ấy chịu thua, bỏ chạy và chỉ còn là một vệt tái nhợt nơi chân trời. Sau đó, gió im bặt. Đó là buổi tối. Raoul bị bao trùm bởi những bóng tối lạnh lẽo, nhưng anh không cảm thấy lạnh. Mọi suy nghĩ của anh lang thang trên vùng đất hoang vắng và tiêu điều, mọi ký ức của anh. Chính ở nơi này, tại chỗ này, anh đã thường đến, vào lúc hoàng hôn, cùng với cô bé Christine, để xem lũ yêu tinh korrigan nhảy múa, ngay thời điểm mặt trăng nhô lên. Về phần mình, anh chưa bao giờ nhìn thấy chúng, và dù rằng anh có đôi mắt rất tốt. Ngược lại, Christine, vốn hơi cận thị, lại quả quyết rằng cô đã nhìn thấy rất nhiều. Anh mỉm cười với ý nghĩ đó, rồi, bất thình lình, anh giật mình. Một hình bóng, một hình bóng rõ ràng, nhưng đã đến đó tự lúc nào mà anh không biết, không một tiếng động nào báo hiệu, một hình bóng đứng bên cạnh anh, cất tiếng:
—Anh có tin là lũ yêu tinh korrigan sẽ đến tối nay không?
Đó là Christine. Anh muốn nói. Cô lấy bàn tay đeo găng bịt miệng anh lại.
—Hãy nghe em, Raoul, em đã quyết định nói với anh một điều nghiêm trọng, rất nghiêm trọng!
Giọng cô run rẩy. Anh chờ đợi.
Cô tiếp tục, nghẹn ngào.
—Anh có nhớ không, Raoul, huyền thoại về Thiên thần Âm nhạc?
—Nếu anh nhớ! anh đáp, anh tin chắc rằng chính ở đây cha cô đã kể cho chúng ta nghe lần đầu tiên.
—Chính ở đây, ông ấy cũng đã nói với em: «Khi cha ở trên thiên đàng, con yêu, cha sẽ gửi Thiên thần đó đến với con.» Chà! Raoul, cha em đang ở trên thiên đàng và em đã nhận được sự viếng thăm của Thiên thần Âm nhạc.
—Anh không nghi ngờ điều đó, chàng trai trẻ trả lời một cách nghiêm túc, vì anh tin rằng trong một ý nghĩ sùng kính, bạn mình đang pha trộn ký ức về người cha với ánh hào quang của thành công cuối cùng của cô.
Christine có vẻ hơi ngạc nhiên trước sự bình tĩnh mà Tử tước de Chagny đón nhận tin cô đã nhận được sự viếng thăm của Thiên thần Âm nhạc.
—Anh hiểu điều đó như thế nào, Raoul? cô hỏi, nghiêng gương mặt tái nhợt lại gần mặt chàng trai đến mức anh có thể tin rằng Christine sắp hôn mình, nhưng cô chỉ muốn đọc, bất chấp bóng tối, trong đôi mắt anh.
—Anh hiểu, anh đáp, rằng một sinh vật phàm trần không thể hát như cô đã hát tối hôm đó mà không có một phép màu nào can thiệp, không có bàn tay của thiên đường. Chẳng có người thầy nào trên trái đất có thể dạy cô những cung bậc như vậy. Cô đã nghe thấy Thiên thần Âm nhạc, Christine ạ.
—Vâng, cô nói một cách long trọng, trong phòng thay đồ của em. Đó là nơi ngài đến để dạy em những bài học hàng ngày.
Giọng điệu cô nói điều đó quá thấm thía và kỳ lạ đến mức Raoul nhìn cô lo lắng, như người ta nhìn một người nói ra một điều khủng khiếp hoặc khẳng định một thị kiến điên rồ nào đó mà cô tin bằng tất cả sức mạnh của bộ não ốm yếu tội nghiệp của mình. Nhưng cô đã lùi lại và giờ đây, bất động, cô chỉ là một chút bóng tối trong đêm.
—Trong phòng thay đồ của cô? anh lặp lại như một tiếng vang ngu ngốc.
—Vâng, chính ở đó em đã nghe thấy ngài và em không phải là người duy nhất nghe thấy...
—Ai nữa đã nghe thấy, Christine?
—Anh, bạn của em.
—Anh? Anh đã nghe thấy Thiên thần Âm nhạc sao?
—Vâng, tối hôm đó, chính ngài là người đã nói chuyện khi anh nghe lén sau cánh cửa phòng thay đồ của em. Chính ngài đã nói với em: «Phải yêu anh!» Nhưng em đã tin chắc rằng mình là người duy nhất nghe thấy giọng của ngài. Vậy nên, hãy hình dung sự ngạc nhiên của em khi sáng nay em biết rằng anh cũng có thể nghe thấy ngài...
Raoul bật cười. Và ngay lập tức, màn đêm tan biến trên vùng đất hoang vắng và những tia sáng đầu tiên của mặt trăng tràn đến bao bọc đôi trẻ. Christine đã quay lại, đầy thù địch, về phía Raoul. Đôi mắt cô, thường ngày rất dịu dàng, đang phóng ra những tia chớp.
—Tại sao anh cười? Anh tưởng mình đã nghe thấy một giọng đàn ông sao?
—Trời ạ! chàng trai trả lời, người đang bắt đầu rối bời trước thái độ chiến đấu của Christine.
—Chính anh, Raoul! chính anh là người nói với em những điều đó! một người bạn nhỏ cũ của em! một người bạn của cha em! Em không còn nhận ra anh nữa! Nhưng anh nghĩ gì vậy? Em là một cô gái lương thiện, thưa ngài Tử tước de Chagny, và em không hề nhốt mình với những giọng đàn ông trong phòng thay đồ. Nếu anh mở cửa, anh đã thấy rằng chẳng có ai ở đó cả!
—Đúng vậy! Khi cô rời đi, tôi đã mở cửa đó và tôi không tìm thấy ai trong phòng thay đồ...
—Anh thấy rõ rồi đó... vậy thì sao?
Vị tử tước kêu gọi hết can đảm.
—Vậy thì, Christine, tôi nghĩ người ta đang đùa giỡn với cô đấy!
Cô thét lên và bỏ chạy. Anh chạy theo sau, nhưng cô ném lại về phía anh, với một sự bực tức dữ dội:
—Để tôi yên! Để tôi yên!
Và cô biến mất. Raoul quay lại quán trọ, rất mệt mỏi, rất chán nản và rất buồn bã.
Anh biết rằng Christine vừa lên phòng và cô đã thông báo sẽ không xuống ăn tối. Chàng trai trẻ hỏi liệu cô có bị bệnh không. Bà chủ quán tốt bụng trả lời một cách mơ hồ rằng, nếu cô ấy thấy không khỏe, thì đó hẳn là một căn bệnh không mấy nghiêm trọng, và, vì bà tin vào sự hờn dỗi của hai người đang yêu nhau, bà bỏ đi, nhún vai và bày tỏ một cách tinh quái lòng thương hại cho những người trẻ, những kẻ đang lãng phí những giờ phút mà Chúa ban cho họ trên mặt đất vào những cuộc cãi vã vô ích. Raoul ăn tối một mình, bên góc lò sưởi và, như bạn có thể hình dung, theo một cách rất ủ rũ. Sau đó, trong phòng mình, anh cố đọc sách, rồi trên giường, anh cố ngủ. Không có tiếng động nào vang lên ở căn phòng bên cạnh. Christine đang làm gì? Cô ấy có ngủ không? Và nếu cô ấy không ngủ, cô ấy đang nghĩ gì? Còn anh, anh đang nghĩ gì? Liệu anh có đủ khả năng để nói ra không? Cuộc trò chuyện kỳ lạ mà anh đã có với Christine đã khiến anh hoàn toàn rối loạn!... Anh nghĩ về Christine ít hơn là nghĩ xung quanh Christine, và cái «xung quanh» đó thật mơ hồ, mờ mịt, khó nắm bắt đến nỗi anh cảm thấy một sự khó chịu rất kỳ lạ và rất lo âu.
Vậy là những giờ trôi qua rất chậm chạp; có lẽ đã là mười một giờ rưỡi đêm khi anh nghe thấy rõ ràng tiếng bước chân trong căn phòng cạnh phòng mình. Đó là một bước chân nhẹ nhàng, lén lút. Vậy là Christine chưa đi ngủ? Không suy tính hành động của mình, chàng trai trẻ vội vã mặc quần áo, chú ý tạo ra tiếng động nhỏ nhất. Và, sẵn sàng cho mọi thứ. Sẵn sàng cho điều gì? Anh có biết không? Tim anh đập mạnh khi nghe thấy cửa phòng Christine xoay chậm rãi trên bản lề. Cô đi đâu vào giờ này khi mọi thứ đang nghỉ ngơi ở Perros? Anh hé mở cửa thật khẽ và có thể nhìn thấy, trong một tia trăng, dáng vẻ trắng ngần của Christine đang lướt đi một cách thận trọng trên hành lang. Cô tới cầu thang; cô xuống dưới và, anh, ở phía trên cô, nghiêng mình trên tay vịn. Đột nhiên, anh nghe thấy hai giọng nói đang nói chuyện nhanh chóng. Một câu nói lọt vào tai anh: «Đừng đánh mất chìa khóa.» Đó là giọng của bà chủ quán. Ở dưới nhà, người ta mở cửa hướng ra vịnh. Người ta đóng lại. Và mọi thứ trở về với sự tĩnh lặng. Raoul lập tức quay lại phòng mình và chạy đến cửa sổ mà anh mở ra. Dáng vẻ trắng ngần của Christine đứng sừng sững trên bến cảng vắng vẻ.
Tầng một này của quán trọ Soleil-Couchant chẳng cao là bao và một cây thân leo đang chìa những cành cây đến những cánh tay thiếu kiên nhẫn của Raoul cho phép anh ở ngoài mà bà chủ quán không thể nghi ngờ sự vắng mặt của anh. Thế nên, sự sửng sốt của bà chủ quán tốt bụng vào sáng hôm sau lớn đến thế nào, khi người ta mang đến cho bà chàng trai trẻ gần như đông cứng, sống dở chết dở, và bà biết rằng người ta đã tìm thấy anh nằm dài trên những bậc của bàn thờ chính của ngôi nhà thờ nhỏ ở Perros. Bà vội vàng chạy đi báo tin cho Christine, người vội vã xuống và tận tình, với sự giúp đỡ của bà chủ quán, chăm sóc lo âu cho chàng trai trẻ, người không lâu sau đã mở mắt và tỉnh lại hoàn toàn khi nhìn thấy phía trên mình gương mặt quyến rũ của bạn mình.
Vậy chuyện gì đã xảy ra? Vài tuần sau đó, khi bi kịch ở Nhà hát Opera dẫn đến hành động của Bộ Tư pháp, ngài ủy viên Mifroid đã có dịp thẩm vấn Tử tước de Chagny về những sự kiện đêm ở Perros, và đây là cách mà chúng được ghi lại trên những tờ hồ sơ điều tra. (Mã số 150.)
Câu hỏi.—Cô Daaé đã không nhìn thấy anh xuống từ phòng mình theo con đường kỳ lạ mà anh đã chọn chứ?
Trả lời.—Không, thưa ngài, không, không. Tuy nhiên, tôi đã đến phía sau cô ấy mà quên mất việc làm giảm tiếng bước chân của mình. Lúc đó tôi chỉ cầu một điều, đó là cô ấy quay lại, nhìn thấy tôi và nhận ra tôi. Thực ra, tôi vừa tự nhủ rằng việc mình theo dõi cô ấy là hoàn toàn không đúng đắn và cách thức rình mò mà tôi đang thực hiện là không xứng đáng với tôi. Nhưng cô ấy dường như không nghe thấy tôi và, thực tế, cô ấy hành động như thể tôi không hề ở đó. Cô ấy thản nhiên rời khỏi bến cảng và rồi, bất thình lình, nhanh chóng leo lên con đường. Đồng hồ nhà thờ vừa điểm mười hai giờ kém mười lăm, và có vẻ như tiếng chuông đã quyết định sự vội vã trong bước chân của cô, vì cô gần như bắt đầu chạy. Vậy là cô đến cửa nghĩa trang.
H.—Cửa nghĩa trang có mở không?
T.—Vâng, thưa ngài, và điều đó khiến tôi ngạc nhiên, nhưng dường như chẳng hề làm cô Daaé ngạc nhiên chút nào.
H.—Không có ai trong nghĩa trang chứ?
T.—Tôi không nhìn thấy ai. Nếu có ai đó, tôi đã nhìn thấy rồi. Ánh trăng chói lòa và lớp tuyết bao phủ mặt đất, phản chiếu những tia sáng của nó, làm cho đêm càng sáng rõ hơn.
H.—Người ta không thể trốn sau những ngôi mộ sao?
T.—Không, thưa ngài. Đó là những bia mộ nghèo nàn đang biến mất dưới lớp tuyết và những cây thánh giá xếp hàng ngang mặt đất. Những bóng đen duy nhất là bóng của những cây thánh giá đó và bóng của hai chúng tôi. Nhà thờ rực rỡ ánh sáng. Tôi chưa bao giờ thấy ánh sáng đêm nào như vậy. Nó rất đẹp, rất trong suốt và rất lạnh. Tôi chưa bao giờ đến nghĩa trang vào ban đêm, và tôi không biết rằng người ta có thể tìm thấy một ánh sáng tương tự ở đó, «một ánh sáng không nặng chút nào».
H.—Anh có mê tín không?
T.—Không, thưa ngài, tôi là người có đức tin.
H.—Anh ở trong trạng thái tinh thần nào?
T.—Thực lòng, tôi rất tỉnh táo và rất bình tĩnh. Chắc chắn, việc ra ngoài bất thường của cô Daaé đã khiến tôi vô cùng bối rối lúc đầu; nhưng ngay khi tôi thấy cô gái trẻ đi vào nghĩa trang, tôi tự nhủ rằng cô đến đó để thực hiện một lời nguyện nào đó trên mộ cha, và tôi thấy điều đó tự nhiên đến mức tôi lấy lại được hoàn toàn sự bình tĩnh. Tôi chỉ đơn giản ngạc nhiên rằng cô ấy vẫn chưa nghe thấy tôi bước đi sau lưng, vì tuyết kêu lạo xạo dưới chân tôi. Nhưng chắc hẳn cô ấy đã hoàn toàn chìm đắm trong ý nghĩ sùng kính của mình. Vả lại, tôi quyết định không làm phiền cô và, khi cô đã đến mộ cha, tôi dừng lại cách cô vài bước phía sau. Cô quỳ xuống trong tuyết, làm dấu thánh giá và bắt đầu cầu nguyện. Lúc này, chuông điểm mười hai giờ. Tiếng chuông thứ mười hai vẫn còn vang bên tai tôi thì, bất thình lình, tôi thấy cô gái trẻ ngẩng đầu lên; ánh mắt cô nhìn chằm chằm vào vòm trời, đôi tay cô vươn về phía ánh trăng; cô dường như đang xuất thần và tôi vẫn đang tự hỏi đâu là lý do đột ngột và quyết định cho sự xuất thần đó thì chính tôi cũng ngẩng đầu lên, tôi ném một ánh nhìn điên cuồng xung quanh mình và toàn bộ con người tôi hướng về phía Vô hình, cái Vô hình đang chơi nhạc cho chúng tôi. Và âm nhạc gì vậy chứ! Chúng tôi đã biết nó rồi! Christine và tôi đã từng nghe nó trong thời trẻ. Nhưng chưa bao giờ trên cây vĩ cầm của cha Daaé, nó lại được thể hiện với một nghệ thuật thần thánh đến vậy. Vào khoảnh khắc đó, tôi không thể làm gì khác hơn là nhớ lại tất cả những gì Christine vừa nói với tôi về Thiên thần âm nhạc, và tôi không biết phải nghĩ gì về những âm thanh không thể quên đó, nếu chúng không từ thiên đường giáng xuống, thì chúng cũng chẳng để ai biết nguồn gốc trên mặt đất. Chẳng có nhạc cụ hay bàn tay nào điều khiển cây vĩ cầm ở đó cả. Ồ! tôi nhớ lại giai điệu tuyệt vời ấy. Đó là bài Sự phục sinh của Lazare, mà cha Daaé vẫn thường chơi cho chúng tôi nghe trong những giờ buồn bã và đức tin. Thiên thần của Christine có tồn tại đi chăng nữa cũng không thể chơi hay hơn vào đêm đó với cây vĩ cầm của người nghệ sĩ quá cố. Lời cầu nguyện của Chúa Jesus mê hoặc chúng tôi thoát khỏi mặt đất, và, thề có Chúa, tôi gần như chờ đợi thấy tảng đá mộ của cha Christine nhấc lên. Tôi cũng nảy ra ý nghĩ rằng Daaé đã được chôn cất cùng với cây vĩ cầm của mình và, thực tình, tôi không biết trí tưởng tượng của mình đã đi đến đâu, trong phút giây tang tóc và rực rỡ này, ở sâu trong cái nghĩa trang tỉnh lẻ nhỏ bé, khuất nẻo này, bên cạnh những chiếc sọ người đang cười với chúng tôi bằng tất cả những khung hàm bất động của chúng, không, tôi không biết trí tưởng tượng của mình đã đi đến đâu, hay nó đã dừng lại ở đâu.
Nhưng âm nhạc đã im bặt và tôi lấy lại giác quan. Tôi dường như nghe thấy tiếng động từ phía những chiếc sọ người trong đống xương cốt.
H.—À! à! anh đã nghe thấy tiếng động từ phía đống xương cốt sao?
T.—Vâng, có vẻ như những chiếc sọ người lúc này đang cười nhạo và tôi không thể không rùng mình.
H.—Anh đã không nghĩ ngay rằng đằng sau đống xương cốt có thể đang ẩn nấp chính người nhạc sĩ thiên đường vừa mê hoặc anh sao?
T.—Tôi đã nghĩ điều đó rõ ràng đến mức tôi không còn nghĩ gì khác, thưa ngài ủy viên, và tôi quên mất việc theo chân cô Daaé, người vừa đứng dậy và thản nhiên đi về phía cửa nghĩa trang. Còn về phần cô, cô ấy quá chìm đắm, nên chẳng có gì ngạc nhiên khi cô không nhìn thấy tôi. Tôi không hề cử động, đôi mắt dán chặt về phía đống xương cốt, quyết tâm đi đến tận cùng của cuộc phiêu lưu khó tin này và biết được kết cục của nó.
H.—Và sau đó, chuyện gì đã xảy ra khiến người ta tìm thấy anh vào buổi sáng, nằm hấp hối trên những bậc của bàn thờ chính?
T.—Ồ! chuyện đó xảy ra rất nhanh... Một chiếc sọ người lăn dưới chân tôi... rồi một chiếc khác... rồi một chiếc nữa... Cứ như thể tôi là mục tiêu của trò chơi ném bóng tang tóc này. Và tôi đã tưởng tượng rằng một cử động sai lầm nào đó đã làm hỏng sự hòa hợp của giàn giáo mà người nhạc sĩ của chúng tôi đang ẩn nấp sau đó. Giả thuyết này đối với tôi có vẻ hợp lý hơn vì một bóng đen bất chợt lướt qua bức tường rực rỡ của phòng thánh lễ.
Tôi lao tới. Bóng đen đã đẩy cửa, bước vào nhà thờ. Tôi có đôi cánh, bóng đen có một chiếc áo choàng. Tôi đủ nhanh để túm lấy một vạt áo choàng của bóng đen. Lúc này, chúng tôi, bóng đen và tôi, đang đứng ngay trước bàn thờ chính và những tia trăng, qua ô cửa kính màu lớn của hậu cung nhà thờ, chiếu thẳng phía trước chúng tôi. Vì tôi không buông chiếc áo choàng, bóng đen quay lại và, chiếc áo choàng mà nó khoác lên người hé mở, tôi đã nhìn thấy, thưa ngài thẩm phán, như tôi đang nhìn thấy ngài, một chiếc sọ người đáng sợ đang phóng vào tôi một ánh nhìn mà ngọn lửa địa ngục đang cháy rực. Tôi nghĩ mình đã đụng độ chính Satan và, trước sự xuất hiện từ cõi âm này, trái tim tôi, bất chấp mọi lòng can đảm, đã suy sụp, và tôi không còn ký ức gì nữa cho đến khoảnh khắc tôi tỉnh dậy trong căn phòng nhỏ của mình ở quán trọ Soleil-Couchant.