Các cầu thủ đang ăn chiều khi tôi đến gần bàn ăn, trên khuôn mặt họ lộ vẻ lo lắng. Tôi hiểu rằng toàn đội đang muốn hỏi tin tức. Ai là người sốt ruột nhất? Đó là huấn luyện viên Hô-li-de:
- Người ta bảo, trong khách sạn lại vừa xảy ra chuyện gì nữa. Các nhà báo nói với chúng tôi như vậy. Chuyện này nó liên quan gì tới cái chết của Pích-le không?
Các nhà báo đã kịp gặp kiểm sát viên và cán bộ có trách nhiệm của Bộ Ngoại giao.
- Cuộc điều tra đang tiến hành và rất tiếc là tôi không thể trả lời câu hỏi của ông lúc này được. Pích-le không tự tử, chuyện đó đã rõ cả. Có điều, tôi cần yêu cầu các ông giúp sức. Sau năm phút nữa sẽ có ba người được đưa tới đây. Các ông hãy cố nhớ xem có gặp ai trong số họ trên hành lang tầng các ông ở không? Có ai đã từng nói chuyện với Pích-le không?
Tôi quay lại với Cuốc và hai nhân viên an ninh chưa từng đến khách sạn này bao giờ để không ai có thể “phát hiện” ra. Chúng tôi cùng xuống phòng ăn và ba người lặng lẽ đi dọc cạnh bàn.
Cuộc thử không đem lại kết quả. Không một cầu thủ nào quen mặt Cuốc, chỉ có Lan-ghê nói rằng anh chàng tóc sáng ấy có vẻ quen quen. Hình như anh ta đã gặp ở đâu. Có thể là ở khách sạn, còn anh chàng kia có nói chuyện với Pích-le hay không, thì không biết.
Và tôi lại nảy ra một ý mới. Tôi đề nghị một trong các cầu thủ cho tôi mượn một đôi giày đá bóng và hứa là chiều nay hoặc sáng mai thôi, là sẽ trả lại.
- Ông cứ lấy đi, tôi không cần giầy lúc này đâu. Buổi sáng mai tôi sẽ tập bằng giầy bát-kết. Và nếu cần để tìm ra thủ phạm giết Pích-le, thì tôi sẵn sàng hy sinh đôi giày này.
Ca-bi-sếch mời bà trực tầng và hai bà quét dọn đến phòng 201. Họ được nhận diện ba người kia với câu hỏi: họ có nhìn thấy ai trong số mấy người ấy trên tầng, vào Thứ Ba hay Thứ tư không. Một bà quét dọn phía hành lang các cầu thủ đang ở, nói rằng thấy có một người hơi quen mặt. tiếc rằng lại không phải là Cuốc, mà bà chỉ vào một nhân viên của chúng tôi.
Tôi đưa Ca-bi-sếch đôi giầy, nhưng không để Cuốc nhìn thấy. Sau đó chúng tôi ra khỏi khách sạn bằng cửa sau, lên xe và về cục. Sê-đi-vu ở lại phòng 201 làm người liên lạc. Các kỹ thuật viên lại tiếp tục xem xét một lần nữa phòng 316, lần này kỹ hơn.
- Chúng tôi đem so sánh các lời khai của Cuốc một lần nữa, và trong khi anh ta ngồi đợi ở một phòng khác, chúng tôi chuẩn bị kế hoạch một cú tấn công quyết liệt. Ca-bi-sếch đặt đôi giày lau nhẵn bóng trên bàn, cạnh chiếc va-li con. Tôi lấy tờ báo phủ lên trên.
Sau đó, tôi đề nghị mang cà phê đến.
- Các anh dẫn Cuốc vào đây!
Khi bước vào, nét mặt anh ta tỏ ra dữ tợn.
- Tôi mệt lắm rồi. Các ông hãy để tôi yên!
- Ông cũng sắp được nghỉ ngơi, tuy nhiên, chúng tôi cần xác định thêm vài chi tiết thôi. Trước tiên, Vi-ne đưa cho ông vé xem đá bóng vào lúc nào, và ông đi ra sân vận động vào lúc nào?
Anh ta nghĩ ngợi một lát, sau đó ngửng đầu lên:
- Vé thì đưa cho tôi khoảng một giờ trưa. Tôi cũng không biết là ông ta có vé. Sau bữa ăn trưa, tôi đến sân Xtơ-ra-hốp, khoảng hai giờ, suýt nữa thì muộn. Bên cạnh, tôi thấy có mấy thương gia buôn mạch nha người Hà lan, các ông có thể hỏi họ làm minh chứng. Chính là họ đưa vé cho Vi-ne, nhưng ông ta cảm thấy không được khỏe, nên mới cho tôi vé đi xem.
Ca-bi-sếch gọi điện cho Sê-đi-vư, nhờ kiểm tra lại các chi tiết về vé đá bóng, và có đích thực là Cuốc ngồi trên sân vận động cạnh hai người Hà lan kia không. Ngoài ra, cũng cần phải lưu ý tới mấy thương gia đi buôn mạch nha này. Hai ngài Van Tôn-béc-ghen và Can-ken-kai cũng dính líu tới Vi-ne khá nhiều chuyện lôi thôi rồi đấy!
Tôi đề nghị Cuốc lại gần chiếc bàn. Rồi lật ngay tờ báo lên và cầm lên tay chiếc giầy bên phải.
- Ông kiểm tra xem, trong này có gì không? - Tôi nói nhanh. Anh ta cầm chiếc giầy lên rất cẩn thận, cầm vào dây giày, hé mắt nhìn vào trong và nhìn tôi vẻ ngờ vực.
- Ông hay nhìn sâu vào trong phía mũi giày, đấy, thấy gì không? Nếu không, ông cho tay vào sờ thử xem.
Tôi hiểu rằng những thí nghiệm kiểu này không phù hợp với các nguyên tắc tiến hành điều tra của chúng tôi, nhưng chúng tôi không còn cách nào khác. Cuối cùng, đành buộc phải dùng lối cưỡng chế này.
Anh ta đứng yên vài giây không động đậy, sau đó cầm chiếc giầy bằng tay trái, còn tay phải hết sức thận trọng sờ sờ khe khẽ vào bên trong giầy.
- Can đảm lên, chúng tôi có thuốc giải độc mà! Những lời của tôi có tác động giống như một tiếng sét. Anh ta vứt bịch chiếc giày xuống sàn và đứng trân trân trước mặt tôi, mắt mở trừng trừng. Mặt anh ta tái nhợt.
Tôi nhặt chiếc giày lên.
- Thế là đủ. Bây giờ, sau trò đùa dai này, ông phải thay đổi lại mọi lời khai. Đừng vỡ vĩnh nữa.
Cuốc cúi đầu rũ xuống. Nhưng chưa chịu đầu hàng
- Tôi không biết gì cả!
- Nhưng Pích-le đã bị giết như thế nào thì rõ ràng là ông biết! Ông hãy nói rõ sự thật và chúng tôi sẽ để ông yên.
- Không phải tôi, mà là Vi-ne!
Anh ta bắt đầu gào lên, nhảy lên vật vã. Và Ca-bi-sếch cùng hai người giúp sức phải vất vả mới giữ nổi anh ta. Kiệt sức, anh ta nặng nề gieo phịch người xuống ghế tựa.
- Ông ta là kẻ sát nhân, còn tôi, tôi không biết gì cả, không phải tôi, mà là ông ta…
Cuốc lặp đi lặp lại mãi một câu ấy, cho đến lúc giọng khàn hẳn. Những lời cuối cùng, anh ta lầm bầm đến nổi không thể hiểu được rồi im lặng.
- Ông có hút thuốc không?
Anh ta khuỵu xuống sàn. Không ai phá vỡ sự yên tĩnh này cả. Cuối cùng anh ta thều thào:
- Vâng cho tôi cà phê và thuốc lá, rồi để tôi ngủ. Xin các ông hãy buông tha tôi ra.
Cũng có thể là anh ta thực sự quá mệt mỏi rồi, hoặc cũng có thể là anh ta tìm cách phá ngang.
- Xin mời ông, thuốc lá đây. Còn cà phê sẽ được mang đến ngay giờ. - Tôi đưa vào tay anh ta điếu thuốc và bật lửa.
- Ông sẵn sàng thay đổi lời khai trước chứ?
- Tôi chẳng sẵn sàng gì cả, tôi cũng không làm gì cả! Tôi thừa nhận rằng, tôi có biết chuyện Vi-ne đã làm cách nào để trừ khử Pích-le, ngoài ra, tôi không biết gì hơn nữa, đó là sự thật!
Điếu thuốc rơi xuống sàn nhà và Ca-bi-sếch tắt nó đi.
Cuốc run rẩy, đầu gục xuống ngực, hai tay bỏ thõng mềm oặt, bọt mép sùi ra.
- Đưa anh ta đến trạm y tế, gọi bác sĩ. - Tôi ra lệnh - Khi nào anh ta có thể nói được hãy báo cho tôi ngay.