Có ai lay mạnh vai tôi. Mất vài giây, tôi mới nhớ ra rằng mình đang ở đâu. Một vành trăng đang chiếu vào khuôn cửa sổ trông như con mắt của loài cá nào đó. Ca-bi-sếch đang đứng cạnh tôi. Anh ta đặt tách cà-phê lên mép bàn.
- Dậy thôi, đã một giờ đêm rồi. - Tôi nghe giọng của Gô-mô-la. Để đến phiên tôi ngủ thay cậu chứ! Dậy đi, tôi đang có một tin hay cho cậu đây.
Mí mắt Gô-mô-la cũng díp lại. Hai này nay ông cũng ít ngủ, giỏi lắm, chỉ ngủ hơn tôi độ một tiếng là cùng.
Hai ngụm cà-phê nóng làm tôi tỉnh táo lại. Tôi lại bồn rửa mặt và gội đầu dưới vòi nước lạnh.
Gô-mô-la đưa lại mấy trang giấy đánh máy và ảnh chụp.
- Vi-ne quả là một con cá mập. Tôi đã đề nghị để anh em tìm kiếm, lục lọi hết mọi thứ trong hồ sơ lưu trữ mật những gì cần cho cậu. Tôi chắc cậu sẽ nhận ra hắn trên bức ảnh này.
Quả thực, chính đó là Vi-ne, trẻ hơn nhiều nhưng chính là hắn. Bảnh bao trong bộ quần áo dân sự, đứng khiêm tốn bên cạnh một nhóm người. Toàn là sĩ quan SS., chỉ trừ có hắn đứng đằng sau.
Lúc ấy hắn mang tên là gì, không ai biết, Đơ-vô-giắc bảo là Soi-man. Hắn là hắn có không ít tên họ khác nhau. Và cũng không ai biết gì thật rõ ràng, đầy đủ về hắn, đến bây giờ chắc ai vẫn còn nhớ thì chỉ có thể dự đoán rằng, hắn vốn là một viên chức cỡ bự của cơ quan tình báo phát-xít.
Gô-lô-man nhìn vào trang đánh máy và chỉ tay lên một đoạn đáng lưu ý:
- Không loại trừ khả năng là Vi-ne đến đây không chỉ vì cuốn mi-crô-phim do Pích-le đánh cắp kia đâu. Có thể hắn còn những công việc khác ở đây nữa. Vì thế, cậu hãy khai thác thêm ở Cuốc. Hắn là Vi-ne không những chỉ làm việc cho cơ quan tình báo Tây Đức, mà còn cả cho bọn Mỹ nữa. Và cũng có khả năng cộng tác với nhiều tổ chức chuyên môn khác. Rất tiếc là hắn lại bị giết mất… Dù đó là kết cục tất yếu của một kẻ như hắn. Bây giờ đi ngủ đã. Nếu có gì cần cứ đánh thức, đừng ngại…
Chỉ còn lại tôi và Ca-bi-sếch. Tôi bảo:
- Ta đi thôi!
Và hai chúng tôi cùng xuống cầu thang đi đến y xá chỗ Cuốc. Chúng tôi ở đó độ một giờ, nhưng cũng không phát hiện được gì thêm. Cuốc không biết gì về những việc khác của Vi-ne và không giấu điều đó. Anh ta cũng không cung cấp được gì khác hơn là tên người và số điện thoại đã được ghi trên mẩu giấy bị đốt cháy mất.
- Ông Cuốc, xin hỏi ông câu cuối cùng: Pích-le có gọi điện đúng theo số đã ghi trên đây không? Ông có nhớ chính xác là Vi-ne đã nói với ông như vậy không?
- Tôi nhớ chính xác. Vi-ne rút nó từ trong sổ ghi của Pích-le. Sau đó giở cẩn thận từng tờ, xem có phát hiện thêm được gì đáng lưu ý nữa không. Mảnh giấy thì ông ta tìm thấy ngay, vì ông ta nhớ rõ Pích-le đã giấu vào đâu. Vì thế, ông ta phải lấy ngay cuốn sổ, vì sợ khi khám xét đồ đạc của Pích-le các ông phát hiện ra và sẽ săn đuổi theo dấu vết.
- Vi-ne có thể nhầm lẫn?
- Tôi nghĩ là không. Vi-ne gây cho tôi một ấn tượng rằng, ông ta là một người nắm rất vững việc mình làm và không bao giờ bị mất phương hướng. Khi cầm mảnh giấy có số điện thoại, ông ta nói: “Phơ-ri-đrích, cậu nhớ hộ những gì được ghi trên này. Đây chính là kẻ bán phim cho Pích-le. Theo số điện này, Pích-le đã gọi điện cho người mà anh ta phải gặp trong quán cà-phê.” Tôi rất nhớ những lời của ông ta.
Sau đó, chúng tôi lại cho dẫn Đơ-vô-giắc tới. Hắn ta không ngủ, và lo lắng, cứ đi đi lại lại mãi trong phòng tạm giam. Hắn gọi xin một cốc sữa và chiếc bánh sừng bò, ngoài ra không muốn ăn gì nữa. Mặt hắn tái xám. Tôi nghĩ, ngay cả tôi và Ca-bi-sếch chắc trông cũng tiều tụy thế.
Hắn có thể nói được gì thêm không? Chưa quá nửa giờ sau, chúng tôi đã hoàn toàn tin chắc rằng hắn không biết gì hơn so với những điều đã kể.
Khoảng ba giờ rưỡi sáng, chúng tôi lại mời Gô-li-kô-va, ông anh họ và Clô-vi-sếch, người chụp ảnh, lên hỏi. Trước tiên, chúng tôi hỏi chuyện từng người biệt lập, rồi sau đó mới để ngồi cùng. Cuối cùng chúng tôi cho cả Đơ-vô-giắc tới. Nhưng tất cả đều vô ích. Đưa họ trở lại chỗ tạm giam xong, tôi ra lệnh chuyển vụ án của họ sang Viện kiểm sát. Ca-bi-sếch kiếm đâu được một chai bia Pli-đen. Từ sáng, cơn mệt đã giảm bớt, và sau khi uống cốc bia, kể cũng lạ, tôi lại thấy người phấn chấn hẳn lên.
“Khoảng năm giờ, tôi gọi điện đến khách sạn “Các-lơ-tôn”. Sê-đi-vư lập tức nhấc ống nghe lên, như thể đang chờ tôi. Ở khách sạn yên tĩnh, không có gì đặc biệt. Nếu anh ta không được đổi phiên, anh ta sẽ buồn ngủ chết mất! Tôi đã định bảo anh ta rằng anh ta phải sẵn sàng ngồi ở đó vô hạn định, không khéo đến già mới xong việc, nhưng thấy anh có vẻ nản quá, nên tôi lại hứa là sẽ đến trực vào sáu giờ sáng.
Anh ta còn muốn nói điều gì nữa, nhưng tôi cắt ngang:
- Hôm nay có mấy người đi khỏi khách sạn?
Sê-đi-vư trả lời là khoảng ba chục người, và bắt đầu đọc danh sách những ai đi đâu, vào giờ nào, vv… Nhưng tôi một lần nữa lại ngắt lời và bảo anh, thôi để đến sáng khi anh về đây, mang theo danh sách cũng được. Mỗi người này sẽ bị khám xét cá nhân - một thủ tục không được thích thú lắm - ở biên giới. Các chiến sĩ hải quan và công an biên phòng đã sẵn sàng. Gô-mô-la quan tâm đến việc ấy từ hôm kia.
Nhưng tôi đã nhầm to: Xmi-ran té ra không ngủ. Cả đêm, anh ta ngồi nghiên cứu các tập danh bạ điện thoại, và đúng sáu giờ, anh đến phòng tôi, mang theo tập sách dày cộp:
- Tôi đã nghiên cứu và tin rằng cầu thủ Nô-vắc nói đúng. Không có sổ danh bạ điện thoại nào của các thành phố lớn Tây Đức lại có điện thoại năm chữ số cả. Ban đêm, tôi còn đến trung tâm điện thoại quốc tế, xem cả danh bạ điện thoại các thành phố lớn của các nước khác. Tôi bỏ hai tiếng ra thử nói chuyện và hỏi những người có quan hệ ở Luân Đôn, Pa-ri, Mi-an, Duy-rích, Xtốc-khôm. Tôi nhìn thấy cả số ở Cô-lô-nhơ của Pích-le và của Éc-nét Nô-vắc. Tôi kiếm tất cả các tên Nô-vắc ở tất cả các quyển danh bạ. Thật điên đầu! Chỉ riêng ở các thành phố lớn Tây Đức đã có hơn 300 người cùng họ là Nô-vắc! Và không một người nào trong số đó có điện thoại 5 chữ số!
Ca-bi-sếch cũng lật lật các cuốn danh bạ dày ra, và gật gật đầu khi nghe Xmi-ran nói. Tôi cầm lấy cuốn sổ điện thoại ở Cô-lô-nhơ, lật ra vần “N”, có hai mươi bảy người có họ là Nô-vắc hoặc Nốp-vắc. Nhưng chưa phải là nhiều, nếu so với số điện thoại “Pra-ha”, ở đó có 648 người họ Nô-vắc và còn thêm 165 người họ Nô-va-kốp nữa!
- Biết làm gì bây giờ với đống danh bạ này? Hay cứ để tạm ở đây đã nhé?
- Phải gọi đến trung tâm điện thoại bảo rằng chúng ta sẽ trả đống sổ sách này vào đầu giờ chiều nay.
Xmi-ran đi ăn sáng. Sau đó anh đến thay cho Sê-đi-vư ở khách sạn “Các-lơ-tôn”.
Tôi rút từ trong ngăn kéo bàn cuốn danh bạ điện thoại Pra-ha. Có 648 Nô-vắc, trong số ấy một phần tư là có điện thoại năm chữ số. Có ai trong số người này đã bán cuốn mi-crô-phim có các bản vẽ kỹ thuật cho Pích-le hay không? Khoảng mười lăm phút, trong phòng làm việc hoàn toàn im lặng, chỉ có tiếng giở giấy sột soạt. Khi Gô-mô-la xuất hiện ở ngưỡng cửa, trong đầu tôi đã hoa lên vì các con số.
- Có gì mới không, các cậu?
- Không. Chúng tôi đang mụ mị vì đống danh bạ điện thoại này đây!
Thiếu tá quay ra và bỏ đi, còn tôi lại cắm cúi vào với các con số điện thoại: Nô-vắc A-dôn-phơ, Nô-vắc An-tô-ni. Khoan đã, hãy hỏi chỗ Ban giải mã xem họ có thông báo gì mới không nhỉ?
- Không có gì thêm, đồng chí thượng úy ạ. Chúng tôi đã đề nghị vài phương án để họ tìm cách giải. Họ cũng cho vào máy điện tử, nhưng những câu trả lời là vô ý nghĩa. Chúng tôi sẽ còn thử, nhưng có vẻ như hướng này không có kết quả. Đến lúc đó, chúng tôi sẽ báo ngay để đồng chí rõ.
Quỉ quái thật, vậy những con số kia có ý nghĩa gì? Ở Ban giải mã có máy điện tử hiện đại nhất, cái máy chiếm gần hết gian phòng, vậy mà nó cũng chẳng giúp được gì! Hoặc là các con số này được nghĩ ra, hoặc là Cuốc nhầm, hoặc các cách giải mã hãy còn đơn giản, và nếu bằng cách tính toán phức tạp hơn nữa thì máy cũng chịu chăng?
Mắt tôi lại bắt đầu muốn díp lại.
- Đừng ngủ! - Ca-bi-sếch lay vai tôi. - Mình đã để ý cậu được năm phút. Cứ tưởng cậu đang nghiên cứu danh bạ, té ra là cậu bắt đầu ngáy ngon lành rồi!
Tôi lại ra rửa mặt dưới vòi nước lạnh. Sau đó mở toang cửa sổ, và thở hít vài cái thật sâu.
- Có cà-phê chưa? Mình cũng biết là mình trông buồn cười lắm, nhưng chỉ vì các con số cứ quay đảo trước mắt như những vòng đua ngựa ấy! Lúc chưa sờ vào đống danh bạ này, mình vẫn ngồi đúng tư thế lắm! Nhưng bây giờ thì hỏng quá. Giống như cái việc đuổi mèo mà chỉ nắm lấy đuôi! Nhưng dù sao cũng rõ như ban ngày, rằng các con số ấy sẽ như một đường dây dẫn đến người đã bán phát minh kia…
- Được rồi, bây giờ hãy uống cà-phê đã, rồi sau hãy hay…
Cà-phê cũng chẳng giúp gì được tôi. Có lẽ phải uống một viên. Tôi ngồi vào bàn, thò tay lục lọi ở ngăn kéo dưới. Thuốc để mãi ở sâu bên trong, phía phải. Có lẽ lần tìm ra được. Tôi có trí nhớ rất tốt, và tôi nhớ rõ là mình đã để ở đâu. Tôi cúi xuống bàn, nheo mắt và lục kỹ trong ngăn kéo. Đây rồi, à không phải, hộp khác… Chính nó đây rồi…
Nhưng tôi không tìm thuốc uống nữa! Vì khi cúi người xuống, mắt tôi cách mặt bàn khoảng mười phân, trên đó có đặt bản danh bạ điện thoại Pra-ha và có một ý nghĩ vụt lóe sáng trong đầu tôi, y như tỉnh thức: “Xong rồi! Bí mật đã được khám phá ra!”
Đầu tiên, tôi không tin ở mắt mình. Rồi tôi vụt đứng lên. Chiếc ghế sau tôi đổ kềnh.
- Phran-ta, mình hiểu ra rồi! Danh sách những người làm việc ở Viện ô-tô đâu? Cái bản Ơ-bla-sếch mang về ấy?
Ca-bi-sếch lúc ấy đang đổ nước nóng từ ấm đun sôi vào các tách đặt trên chiếc bàn con, nghe tôi nói, anh há hốc mồm kinh ngạc, đứng lặng như một pho tượng thánh. Đến nỗi lần đầu tiên tôi mới nhìn rõ ở hàm răng trên anh có một chiếc răng bịt vàng. Nước sôi đổ cả ra tay và anh giẫy nẩy người lên. Anh đặt ấm xuống và nói khàn khàn:
- Danh sách trên tấm bảng gấp có bản lề.
Tôi lấy xuống, giở ra, trang một, hai, ba… Đúng rồi. Hắn đây!
- Nhanh lên, gọi điện đến Viện, số mấy? Ơ-bla-sếch ngồi đâu? Nhanh lên kẻo lỡ mất.
Quyển danh bạ rơi xuống bàn, chúng tôi cùng cúi xuống nhặt nó và, y như trong một vở hài kịch vụng về, chúng tôi đập trán vào nhau. Ca-bi-sếch nhanh nhẹn hơn, anh đã kịp quay số và đưa ống nghe cho tôi.
Chỉ cần Ơ-bla-sếch đừng đi vắng đâu lúc này! Tiếng chuông réo khoảng mười giây, tôi bắt đầu nóng ruột. Vậy là cuối cùng đã tìm ra!... Ơ-bla-sếch đã cầm máy lên.
- Không còn thì giờ để nói gì thừa nữa. Cậu đọc thật nhanh tên và địa chỉ tất cả những Nô-vắc làm việc trong Viện. Tất cả! - Tôi nói với Ơ-bla-sếch.
Tôi chờ. Ca-bi-sếch chưa hỏi gì tôi cả, vẫn cứ mang một tách cà phê đến cho tôi.
- Cảm ơn, để khoan đã, mình còn kiểm tra… Đúng cả rồi! Cậu chú ý nhé! Cậu hãy đi tìm ngay lập tức tên người cuối cùng cậu đọc này và báo cho mình những gì cần biết ngay. Mình chờ nhé!
Trong lúc tôi ghi lại địa chỉ, tên họ người kia từ sổ danh bạ ra. Ca-bi-sếch lại gần tôi.
Một tay vẫn giữ ống điện thoại, tay kia tôi đẩy cho Ca-bi-sếch nhìn sổ danh bạ và lấy tay ra hiệu là dấu hiệu gì đã bất thần đẩy tôi đến ý nghĩ mới mẻ này.
Cuối cùng Ơ-bla-sếch đã quay lại. Anh gọi cho tôi, thông báo ngắn nhưng rất có ích: người kia tóc bạc, khoảng 54 tuổi.
- Tuyệt lắm! Chúng ta sẽ lại nhà hắn, đưa hắn về đây...
Và, trong lúc tôi đã bình tĩnh lấy ngón tay lần lượt dò theo danh sách những người cùng têm là Nô-vắc trên sổ danh bạ, Ca-bi-sếch đã phát lệnh:
- Sĩ quan trực nhật đâu? Nhóm của thượng úy Pa-tốt-xky đây. Gọi ngay một xe ô-tô có bộ đàm, ba phút nữa chúng tôi cần đi. Mời cả kiểm sát viên Ben-đu tới Cục, khoảng một tiếng đồng hồ nữa, còn thiếu tá Gô-mô-la à, để chúng tôi tự thông báo lấy.
Sô-đi-vơ xuất hiện trước cửa. Anh báo cáo là đã tạo râu, ăn sáng và sẵn sàng làm nhiệm vụ.
- Rất tốt. Cậu đi với chúng mình: Có súng đấy chứ?
Anh mở to mắt:
- Sẽ chạm trán đấy à?
- Phải. Nhưng cậu nhanh lên!
Thiếu tá nghe tôi báo cáo chỉ nửa câu đã hiểu ngay.
- Các cậu đi ngay. Tôi sẽ đi theo. Cẩn thận nhé!