Trong phòng ăn, một vẻ im lặng chết chóc. Tất cả các cầu thủ ăn sáng, đầu cúi thấp, chẳng một ai buồn nhìn tôi nữa. Có thể thấy rõ là nhiều người mất ngủ. Đa số cầu thủ định ăn sáng xong sẽ lại về phòng ngủ tiếp. Huấn luyện viên thì muốn đề nghị họ sau bữa ăn trưa ra khởi động một chút để đội giữ vững được nền nếp tập luyện. Việc cho phép sử dụng đường chạy và bể bơi là thuộc quyền lãnh đội “Đu-cơ-la”. Huấn luyện viên hỏi tôi có phản đối việc luyện tập này không.
- Ơ, thưa các ông, tôi không hề hạn chế gì các ông. Chỉ xin yêu cầu, mỗi lần đi đâu, các ông để lại cho một mảnh giấy ghi rõ ai đi đâu vào thời điểm đó. Để phòng khi cần thiết, chúng tôi khỏi phải đi tìm các ông khắp cả Pra-ha. Và thêm một đề nghị nữa. Các ông hãy cân nhắc khi nói chuyện với các nhà báo. Họ đều muốn có những chi tiết giật gân. Nhưng tôi tin rằng, các ông sẽ chỉ nói sự thật và không thêm thắt gì nữa. Vì trong sự việc này đang còn nhiều cái chưa rõ. Và đề nghị cuối cùng - cũng giống như chiều và tối hôm qua: có thể có ai trong đội các ông giúp chúng tôi làm sáng tỏ được hơn nguyên nhân cái chết của Pich-le không?
Tất cả đều im lặng, và tôi cũng quay xuống tiền sảnh. Trong khi Ca-bi-sếch kiểm lại từng phút một các lộ trình của từng người ngày hôm qua - ai đi với ai, ở những đâu, có gặp Pich-le không, có ai nhìn thấy không và anh ta đã gọi điện ra sao vv… thì tôi làm việc với phòng trực điện thoại, và hỏi chi tiết hơn về các khách đến. Ai ở trong khách sạn hôm qua, ở phòng nào. Ai hôm nay mới đến. Và có ai đi khỏi khách sạn hôm qua hay sớm nay. Sau đó, lại hỏi kỹ nhân viên quản trị khách sạn, là có thể có người lạ nào vào trong phòng khách sạn được không.
- Tôi nghĩ là điều đó cũng không loại trừ, dù rằng ít có ai dám mạo hiểm làm việc đó. Đồng chí cũng biết rằng những người ở khách sạn thay đổi luôn luôn. Do đó, phải nhớ được chính xác khi khách tự báo rằng mình ở phòng nào có thực đúng hay không là điều không thể làm được.
Trong khi người này gọi điện cho nhân viên quản trị thứ hai, mà hôm qua đã trực ở đây, thì tôi quan sát những gì đang xảy ra trước mắt. Quả thực là một cảnh tượng lộn xộn hết sức. Và tôi lại càng chắc chắn rằng việc lọt vào phòng người khác trong khách sạn không phải là khó. Một bà người Anh dắt con chó từ phòng ăn tầng dưới đi ra và xin chìa khóa phòng 503. Người trực nhật, đang mải nói chuyện gì đó ở bàn người quản trị khách sạn, lập tức đưa cho bà ta chìa khóa, hoàn toàn không cần biết là có thực bà ta đang ở phòng ấy hay không!
Người quản trị đặt ống nói xuống, bảo với tôi rằng nhân viên quản trị trực hôm qua đang ở nhà, và chúng tôi có thể đến gặp. Tôi bèn cử Sê-đi-vư đến đấy, còn mình thì lên tầng hai gặp giám đốc khách sạn. Ông ta mời tôi ngồi vào ghế bành, mời thuốc hạng đắt tiền, rồi hỏi:
- Sao, các đồng chí đã biết được những gì rồi?
- À, cũng mới một vài điểm. Còn ở khách sạn đồng chí công việc ra sao? Chắc hẳn tất cả đều đã biết câu chuyện này…
- Tất nhiên rồi. Một tin như thế thì giấu ai cho được. Hơn nữa, ở đây lại có hơn 40 nhà báo phương Tây nữa. Đồng chí mà xuống quầy rượu ban đêm nhỉ - ở đấy ngoài chuyện này ra người ta chẳng còn nói chuyện gì khác. Hôm qua, người đông chật cứng, và vào bốn giờ sáng, hai nhà doanh nghiệp Tây Đức đã đánh cuộc với hai người Pháp - liệu có tìm ra thủ phạm hay không? Người ở đâu cũng giống nhau - dù là ở Đuy-rích, Bu-ê-nốt Ai-rét hay Pra-ha! Thế đồng chí đến tôi có việc gì thế?
- Tôi đang cầm trong tay một bản danh sách những người sống ở khách sạn. Những người mới đến hôm qua hoặc sáng nay không phải đối tượng tôi quan tâm. Nhưng đồng chí có thể kể gì thêm cho chúng tôi về những người đã sống ở đây lâu hơn chăng? Tất nhiên, nếu như đồng chí biết họ.
- Tôi biết khá nhiều người. Có lẽ phải đến năm chục người. Đây là những khách thường xuyên của chúng tôi, tất nhiên, tôi phải dành cho họ sự ưu tiên. Đồng chí cũng biết rằng, một khách sạn quốc tế quan tâm đến uy tín của mình, tất nhiên phải biết kính trọng những khách hàng thường xuyên. Nhưng các đồng chí chắc quan tâm hơn cả đến những khách đến từ Cộng hòa Liên bang Đức. Tiếc là tôi không biết ai trong số các cầu thủ cả…
Ông ta nhìn bản danh sách chăm chú, đánh dấu riêng những người thường xuyên đến Pra-ha do công tác, hoạt động doanh nghiệp, hoặc do việc riêng. Tôi không chỉ quan tâm đến các khách Tây Đức và tôi đề nghị ông kể chi tiết hơn cho tôi cả vềcác vị khách khác nữa.
Sau nửa tiếng chuyện trò, tôi trở về “bản doanh” - phòng 201. Ca-bi-sếch báo cho tôi biết, rằng ngày hôm nay sẽ có hai ngài Mát-xne và Tơ-rơ-min bay về Phơ-răng-phua. Và khoảng một chục người sẽ đi về bằng ô-tô, trong số đó có cả Hốc-ne ở Hăm-bua.
- Làm sao bây giờ? - Ca-bi-sếch nhìn tôi dò hỏi.
- Tất nhiên phải khám xét họ, nhưng đó không phải là một thủ tục dễ chịu gì. Và mặc dù chúng ta tập trung vào đám người Tây Đức này, chúng ta vẫn không quên là ở khách sạn còn rất nhiều người thuộc các dân tộc khác, kể cả người Tiệp Khắc. Không ai cho chúng ta quyền được khám xét tất cả khách sạn.
Béc-na-sếch tới. Anh đã trò chuyện với cô bạn gái của Gô-rắc là Gia-mi-la Đô-u-kô-va và tìm ra người chụp ảnh ở Câu lạc bộ khiêu vũ. Anh ta là Ca-ren Clô-u-sếch, thợ sửa máy ảnh trong tổ hợp “Đru-ốp-ta”. Gô-rắc hứa với Clô-u-sếch sẽ trả 300 cua-ron cho mấy tấm ảnh rửa thật đẹp kia. Ngoài ra, Clô-u-sếch không biết gì thêm về người đàn ông và cô gái mà anh ta phải chụp. Đô-u-kô-va cũng vậy, nếu tin vào lời cô ta, thì đây là lần đầu tiên cô nghe nói đến các chuyện này. Còn về Gô-rắc, cũng có phát hiện thêm một vài vụ việc cũ của hắn nữa, cũng là dọa dẫm tống tiền và ăn cắp vặt. Những việc này thì cô bạn gái của hắn có biết sơ sơ. Nhưng dù sao, những điều này không trực tiếp liên quan đến công việc của chúng tôi hiện tại.
Máy com-pa-ra-tơ không phát hiện được sự giống nhau giữa các dấu tích trên viên đạn của súng. Gô-rắc và các dấu tích cũ ở các vụ đã được lưu trữ lại. Gô-rắc thú nhận, là anh ta đã ăn cắp khẩu súng từ năm 1952 do bất ngờ thấy nó trên một chiếc bàn nhỏ, ban đêm trong một căn nhà ở Pra-ha. Anh ta còn nhớ cả số nhà và Béc-na-sếch sau đây sẽ đến tìm người kia - bây giờ chỉ còn là người chủ cũ của khẩu súng.
Chúng tôi bắt tay vào phân loại tỉ mỉ các khách đến đây - theo dân tộc, quốc tịch, nghề nghiệp, mục đích đến - du lịch hay công việc. Ai đến lần đầu, ai đã từng ở đây, ai có ô-tô riêng, ai đi máy bay tới, và ai sẽ rời vào những thời hạn nào. Nhưng tìm mãi, chúng tôi vẫn không thấy ai trong số họ liên quan đến công nghiệp ô-tô cả. Chỉ có các nhà ngoại giao, các nhà kinh doanh bia, các chuyên gia về cẩu trục, bốn nhà vật lý người Nhật - khách của Viện Hàn lâm khoa học, con của hoàng tử Cô-oét với đoàn tùy tùng, đám nhà giàu người Mỹ đi du lịch Châu Âu, bảy nhà văn, ba mươi lăm nhà báo thể thao Tây Đức, hai bình luận viên Đài truyền hình, sáng nay đã chuẩn bị lên xe hơi trở về, và còn cả bầy nhà báo từ nhiều nước tới nữa.
Rất nhiều ngành nghề, mối quan tâm khác nhau! Nhiều người đem theo con cái. Lại cả một bà người Mỹ đem theo ba con chó nữa! Đến 12 giờ kém 15, tôi mệt mỏi gạt tờ danh sách sang một bên.
- Thật vô nghĩa, nếu định câu được một mẻ gì từ mớ danh sách này! Đây là một mớ bòng bong trong một mớ bòng bong lớn hơn, và tìm tòi kiểu này sẽ chẳng đi tới đâu cả. Tốt hơn hết, hãy đến gặp những cầu thủ nổi tiếng cái đã. Hy vọng là, sau một đêm không yên ổn, họ đã kịp nghỉ bù…
Tôi đã cầm vào nắm đấm cửa thì đột nhiên cửa mở tung ra trong một tiếng va mạnh. Giám đốc khách sạn, mặt tái mét, ùa vào phòng như chạy. Ông nắm khuỷu tay một bà phụ nữ có tuổi, lôi vào theo:
- Tôi đến điên lên mất! Lại một vụ tội phạm tiếp theo nữa vừa xảy ra trong khách sạn. Pa-ni Páp-kô-va - ông ngoảnh về phía người phụ nữ đang hoảng hốt - sẽ kể lại cho các đồng chí nghe mọi chuyện.
Ông gieo phịch người xuống ghế, hai tay ôm lấy đầu. Tôi dìu người phụ nữ ngồi xuống một ghế bành khác.
- Có chuyện gì xảy ra vậy bà?
- Tôi… tôi không thể vào đó được nữa, khủng khiếp quá… ở trên kia - bà chỉ lên trên trần - một người đàn ông đang nằm sóng sượt!
- Bà hãy bình tĩnh lại đã. Ở đâu?
- Phòng 16, à, nghĩa là… 316. Ông ta hầu như trần truồng, xung quanh đổ vỡ cả, cứ y như bom nổ…
Ca-bi-sếch lật nhanh như chớp tờ danh mục: phòng 316 đó là ngài Cuốc Vi-ne và Phơ-ri-đrích Cuốc, cả hai đều từ Phơ-răng-phua tới.