Đầu tiên, Cuốc tự tạo ra một bộ mặt ngây thơ: không biết gì hết. Nhưng dần dần anh ta bắt đầu nói.
Ngày hôm qua, Vi-ne đã bảo Cuốc là phải vứt hết mọi thứ thiết bị mang theo mình. Nhưng Cuốc cảm thấy tiếc khi phải dìm xuống lòng sông Vôn-ga-ta “đồ chơi” quý giá đó.
Cuốc trả lời chúng tôi hơn một tiếng, lời cung của anh ta chiếm hết nửa băng cát-xét. Anh ta đổ hết tội cho Vi-ne, chỉ nhận rằng mình đóng vai trò thư ký và lái xe.
- Tất nhiên, người ta trả lương cho tôi rất hậu. Nhưng chỉ với điều kiện là tôi không tham gia gì vào việc của họ. Hoàn toàn làm ngơ. Tôi không có khái niệm gì hết về Pích-le và chỉ đến trưa ngày thứ Ba…
Ban quản trị khách sạn đã gặp họ vào chiều Thứ Hai để đề nghị họ giải phóng khỏi tầng năm, do con trai hoàng tử Cô-oét và đoàn tùy tùng bất ngờ đến thuê. Vi-ne nói với nhân viên quản trị rằng ông ta sẵn sàng chuyển phòng, nhưng xin được dọn đến phòng 316, vì cạnh đó là các thương gia Hà Lan đang ở, những người này buôn bán mạch nha, và Vi-ne có quen biết họ. Ban quản trị đồng ý. Vào buổi sáng Thứ Ba, Vi-ne đã đục lỗ và ròng dây cáp để nghe ngóng và theo dõi những gì xảy ra ở bên dưới, là phòng 216. Cuốc nói là không biết gì hết, chỉ đến trưa Thứ Ba, anh ta mới bị lôi vào chuyện này.
- Vi-ne đã vào phòng Pích-le bằng cách nào, điều ấy đến giờ tôi cũng không hề biết. Từ sáng sớm, tôi lái xe đi, còn khi tôi trở về, mọi thứ đã sắp đặt xong. Cho tới giờ phút này, tôi cũng không hề hay biết là trong chiếc va-li nhỏ kia có chứa cái gì! Tôi cứ nghĩ là chỉ có quần áo của Vi-ne. Sau đó ông ta bảo tôi phải làm gì, và theo dõi Pích-le. Khi nào Pích-le rời phòng, Vi-ne phái tôi đi theo. Để làm gì, thì tôi không biết. Tôi cho rằng Vi-ne muốn ăn trộm tiền của Pích-le. Còn về cái chết của Pích-le, mãi tới chiều tối, người ta mới kể cho tôi nghe ở trong quầy rượu. Vi-ne sai tôi đến đấy, bảo tôi ở đó, đừng về phòng cho tới nửa đêm, vì trong thời gian ấy, ông ta bận việc riêng.
- Cứ cho rằng ông là người mới, vô can và không có gì liên quan đến cái chết của Phơ-răng Pích-le, nhưng vì sao ông không thông báo với các cơ quan an ninh của Tiệp Khắc, rằng ông Vi-ne, người mà ông đang muốn trút hết tội lỗi lên đầu, đã đặt ca-mê-ra thu hình và thiết bị nghe trộm ở phòng Pích-le? Chả lẽ, chuyện giết người là một chuyện bình thường, đến nỗi không cần phải lưu tâm gì đến nó. Ông Cuốc, chúng tôi không tin một lời nào của ông về những thứ ông vừa ngụy tạo ra. Chẳng phải là ông đã biết rõ mục đích chuyến đi ngay từ Phơ-răng-phua rồi là gì? Chả lẽ ông sẽ còn khẳng định rằng ông không hề quen biết cả Vi-ne trước chuyến đi này nữa?
- Quen thì tôi có quen, nhưng không biết ông ta là người thế nào…
Vi-ne là một thương gia. Đôi lần ông ta thực hiện các đơn đặt hàng của Ban Liên hiệp chủ khách sạn ở thành phố Phơ-răng-phua. Thỉnh thoảng ông ra nước ngoài, không những mua bia mà cả rượu vang và cá, ở Pháp thì mua sò huyết, ở I-ta-li-a thì mua dầu ô-liu. Phơ-ri-đrích Cuốc với tư cách người đi chào hàng, vẫn đi cùng với Vi-ne. Khoảng ba tháng trước đây, trước lễ phục sinh, Vi-ne đề nghị Cuốc làm thư ký riêng cho ông ta. Cuốc nhận lời. Nhưng anh ta không biết gì chi tiết hơn về Vi-ne.
- Thường thường ông ta phái tôi đến nhà băng hoặc giao cho vài nhiệm vụ cụ thể tương tự như vậy. Tôi thực sự biết rất ít về ông ta. Đi lo việc kinh doanh với ông ta trong một thời hạn dài như thế này, thì mới là lần đầu. Buổi sáng nay ông ta cảm thấy không được khỏe lắm và cho tôi đi ra ngoài thành phố … Biết thế này thì tôi nhận làm thư ký cho ông ta làm gì! Để rồi bị liên lụy vào một chuyện như vậy!...
- Vi-ne đã vào phòng Pich-le như thế nào?
- Tôi không biết. Tôi có hỏi, nhưng ông ta không nói gì…
- Thế ông sẽ nói ra sao về chiếc chìa khóa để trong va-li? Một thứ dụng cụ mở khóa đặc biệt, được chế tạo ở Anh, đã được bằng sáng chế, có thể mở được 27 loại khóa khác nhau lại không có ý nghĩa gì với ông sao?
- Tôi không biết đến dụng cụ mở khóa nào cả!
- Ông có biết! Ông Cuốc, ông biết rất rõ! Chính nó đấy,- và tôi vứt bộ móc chìa khóa vạn năng ra bàn.
Anh ta nhún vai:
- Chắc hẳn là các ông không tin tôi, nhưng thực tình tôi rất sợ. Tuy nhiên, Vi-ne thuyết phục tôi, rằng sẽ không có chuyện gì xảy ra với Pích-le, rằng ông ta chỉ cần biết Pích-le làm gì ở Pra-ha và gặp ai ở đây? Tôi theo dõi Pích-le khi anh ta ở trong phòng, và tôi không thấy ai lạ mặt vào phòng anh ta. Trong thành phố, thì người theo dõi Pích-le là bản thân Vi-ne. Khi tôi hỏi Vi-ne, rằng ông ta cần gì, ông ta đã trả lời: “Tôi cần người mà Pích-le phải gặp”. Ông ta có nói loáng thoáng về một cô gái nào đó mà Pích-le đi cùng trong một Câu lạc bộ ban đêm, rồi sau đó nghỉ lại ở nhà cô ta, nhưng hình như không phải đấy là đối tượng cần tìm…
- Vi-ne có nói với ông ta là tại sao cuộc gặp mặt giữa cô gái kia với Pích-le không có ý nghĩa gì với ông ta không?
- Ông ta không nói thẳng, chỉ nói hàm ý thế. Pích-le cần phải gặp một người Tiệp nào đó và ký kết một hợp đồng với anh ta. Tôi nghĩ rằng Vi-ne muốn ngăn trở công việc đó, hoặc muốn đoạt lấy của Pích-le một vật gì đó. Nhưng Vi-ne có là kẻ sát nhân không thì tôi không được biết. Tối hôm qua, khi từ quầy rượu trở về, tôi có kể cho ông ta về cái chết của Pích-le. Nhưng hoặc là ông ta ngủ, hoặc là giả vờ ngủ, không nói gì.
Cuốc đã nói dối, điều ấy đã rõ. Vi-ne thuê một người thư ký để làm gì, nếu như mọi việc ông đều làm lấy cả, như lời Cuốc nói. Bây giờ, khi Vi-ne đã chết, chuyện gì cũng có thể đổ lên đầu ông ta. Có điều là cần phải chứng minh được là Cuốc đã nói dối.
Những người chết thì đã im lặng.
Tất cả những điều Cuốc nói, cần phải kiểm tra kỹ lại. Ca-bi-sếch nhận làm việc đó. Dưới sự chỉ huy của anh, có hàng chục nhân viên của chúng tôi kiểm đi kiểm tra lại những gì có liên quan đến Vi-ne và Cuốc. Hai người đã chuyển lên tầng ba như thế nào, khi nào thì họ biết các cầu thủ Cô-lô-nhơ sẽ đến sống ở “Các-lơ-tôn”, khi nào thì việc đến ở đấy được quyết định, và những phòng nào được dành riêng cho họ thuê từ trước, vân vân… Từ các chi tiết riêng lẻ Ca-bi-sếch đã lập được một bức tranh lắp ghép kiểu mê-đai-cơ. Anh vẫn có sở trường làm việc đó. Anh còn tỏ ra thích thú khi phải lần mò trong các mớ chi tiết đang rối ren như vậy.
Có một điều rõ: dù Cuốc có liên quan như nào đến vụ này, việc giết Vi-ne không phải là hành động của anh ta.
Vậy ai là người thứ ba? Ai hành hung Vi-ne?
Ai biết được rằng Vi-ne đã đánh cắp được ở Pích-le và làm chủ được một vật quý đáng giá đến mức phải giết người để đoạt lấy nó? Ý nghĩ của tôi ngày càng quay trở lại với chiếc khuy áo đáng nguyền rủa kia.
Cuốc hết sức ngoan cố bảo vệ các lời mình đã khai. Chúng tôi không có hy vọng khai thác được gì thêm ở anh ta nữa.
Ở trong khách sạn, Vi-ne gặp gỡ một số người, đại thể toàn là các nhà kinh doanh cả. Nhưng có ai trong số họ cần thiết phải gây ra cái chết của Vi-ne thì Cuốc không biết.
Tôi ghi tên họ tất cả những ai Vi-ne đã gặp.
- Vi-ne đã vào phòng Pích-le mấy lần?
- Tôi không rõ, nhưng hẳn là phải từ hai lần trở lên. Khi tôi hỏi ông ta vào hôm Thứ Ba, rằng ông ta theo dõi Pích-le để làm gì, và làm thế nào ông ta có thể vào được phòng Pích-le, ông ta đã gay gắt ngắt lời tôi. Tôi buộc phải dàn hòa. Khi Pích-le ở trong phòng, tôi theo dõi anh ta. Tất nhiên tôi phải hỏi là tôi cần chú ý đến điều gì nhất, Vi-ne trả lời rằng phải lưu tâm tới mọi hành động, nhưng đặc biệt phải chú ý đến cuộc gặp gỡ giữa anh ta với một người lạ mặt. Khi các cầu thủ khác vào phòng, có thể ngừng quan sát. Pích -le cần phải gặp một người nào đấy ở địa phương kia. Để làm gì? Điều đó tôi không biết. Phải quan sát cả ban đêm nữa. Pích-le có thể trở dậy và đi mất, và Vi-ne sẽ mất dấu về cuộc gặp gỡ kia. Tôi ngồi ở máy theo dõi suốt đêm, từ Thứ Ba sang Thứ Tư, nhưng Pích-le vẫn ngủ rất say.
Như tôi đã nói, khi Pích-le rời phòng, Vi-ne đi theo anh ta. Vào chiều Thứ Hai, ông ta đi xem ca kịch tạp kỹ, Thứ Ba đi xem phim, còn sáng hôm qua thì đi theo Pích-le và nhóm cầu thủ đi dạo phố Pra-ha. Sau bữa ăn trưa, Vi-ne đưa cho tôi vé đi xem đá bóng. Bản thân ông ta không đi, và nói rằng ông ta còn bận việc. Buổi chiều, khi tôi về phòng thì ca-mê-ra đã được tháo ra, va-li đã xếp sắp xong. Vi-ne nằm trên giường.
Ông ta đẩy tôi đi ăn chiều và bảo rằng tôi không cần về phòng trước nửa đêm. Ông ta nói rằng là ông ta rất bận. Đêm đó ở quầy rượu, tôi nghe tin Pích-le bị đầu độc. Tôi nghĩ rằng Vi-ne có thể dính dáng đến vụ này. Khi tôi kể cho ông ta tin đó, ông ta không hề phản ứng gì. Sáng hôm sau, tôi lại nói về chuyện đó.
- Và ông ta bảo sao?
- Ông ta nhảy bổ đến trước mặt tôi, gào lên rằng tôi hãy liệu giữ mồm giữ miệng, nếu như tôi không muốn dính vào một chuyện bẩn thỉu. Tôi đi ăn sáng. Rồi ông ta cũng xuống và đã tỏ ra bình tĩnh hơn. Ông ta nói rằng tôi được tự do và có thể không cần vội về khách sạn. Ông ta sẽ chờ tôi khoảng một tiếng. Chúng tôi cùng ăn trưa và đi đến nhà máy. Còn những chuyện sau đó, các ông đã biết cả…
Có thể thấy rõ rằng Cuốc đã nghĩ ra rất cẩn thận lời cung khai của mình. Tôi không khẳng định là anh ta hoàn toàn thêu dệt cả, nhưng ngược lại, chúng tôi hoàn toàn không cần gì phải bám níu vào những lời ấy. Tôi chỉ tin chắc rằng anh ta nói dối khi đả động đến vai trò của bản thân mình trong chuyện ấy.
- Như vậy là cái khuy áo mạ vàng trên áo vét của Pích-le, ông không nhìn thấy ở Vi-ne chứ?
Anh ta nhìn tôi kinh ngạc và lắc đầu.
- Và ông không có khái niệm gì về việc Pích-le phải ký một hợp đồng nào đó ở đấy chứ, việc ấy anh ta làm cho ai?
- Không. Hôm qua trong quầy rượu người ta chỉ nói rằng Pích-le là con rể ông Ốp-pen-hai-mơ, chủ Công ty liên hợp sản xuất ô-tô “MWF”, vậy ở đây hẳn có chuyện dính líu tới ô-tô gì đấy.
- Ông có biết, Pích-le bị đầu độc bằng cách nào không?
- Không. Người ta chỉ nói là anh ta bị một mũi tiêm. Hôm qua tôi nghe thấy nói thế, trong quầy rượu…
Tất cả trò cung khai này thật vô nghĩa! Tôi đề Cuốc đi ăn chiều. Nhóm công tác đặc biệt được cử đến khách sạn để lắp vào phòng 316 thiết bị “ti-vi” và nghe trộm, đúng như nó đã được lắp vào hôm Thứ Ba và Thứ Tư vừa rồi. Sau một tiếng nữa, tôi sẽ đi cùng Cuốc đến đấy.