Đầu tiên, chúng tôi muốn vào xem tất cả các phòng có thành viên đội bóng ở, nhưng kiểm sát viên khuyên chúng tôi không nên làm thế. Cố gắng ấy có thể trở thành vô ích. Hơn nữa, tội phạm không dại gì mà lại giấu cái khuy áo ác hiểm ấy ở ngay trong phòng mình. Còn nếu cất giấu, thì phải nghĩ cách để không ai vào mà dễ tìm được.
Tôi lại xem lại phòng 216. Trên sàn, chỗ hôm qua đặt đôi giầy cầu thủ của Pích-le khi anh ta chưa ra sân bóng, chúng tôi đã đánh dấu bằng phấn. Chúng tôi quanh quẩn ở trong phòng khoảng hơn mười lăm phút, và khi đi ra, chúng tôi đã nghe thấy tiếng nói rì rầm từ máy ghi âm ở bên cạnh. Thì ra Ca-bi-sếch đã lại mở máy, và bắt đầu thận trọng so sánh, đối chiếu các lời cung khai, tập trung theo từng vấn đề chúng tôi đã khai thác được.
Khoảng một tiếng rưỡi chúng tôi làm việc yên tĩnh, sau đó có tiếng gõ cửa: nhân viên phòng xét nghiệm mang kết quả xét nghiệm bụi và rác ở phòng 216 đến. Có cả mấy chuyên viên về chất độc cũng đến. Họ xác nhận rằng Pích-le bị chết vì co thắt cơ tim, chất độc rất mạnh, nhưng họ chưa thể khẳng định được rằng đó là chất gì. Trong thời đại chúng ta, biết bao nhiêu độc tố đã được sản xuất ra, và không ai có thể biết hết tên gọi của chúng. Cũng có thể đây là một loại chất độc mới, được chế tạo đặc biệt. Chất độc đó đã được tẩm vào đầu kim.
Đôi giày cầu thủ của Pích-le đã được tháo rời từng mảnh trong phòng xét nghiệm và xem lại rất kỹ. Nhưng cũng không tìm thấy gì khác nữa. Còn chiếc kim thì không có nhãn hoặc mác sản xuất. Tất nhiên, điều ấy cũng dễ hiểu.
Sau đó là bản thông báo về những thứ ở trong va-li của bác sĩ Ghi-xman. Toàn là thuốc thông thường, kim tiêm, bông băng, moóc-phin. Ngoài ra còn là glu-cô-xan, xtê-nô-lon và duy-a-bô-lin những thứ thuốc làm tăng tổng hợp an-bu-min mà các nhà thể thao thường hay dùng. Từ những thứ thuốc này tiến đến dùng đô-pinh (thuốc kích thích) cũng chỉ còn dấn thêm một bước. Va-li của Ghi-xman được kiểm tra kỹ càng trong phòng xét nghiệm, và không phát hiện ra một dấu hiệu nào chứng tỏ có chất độc.
Gô-mô-la nhận được bản sao tất cả các biên bản và báo cáo, đã khuyên chúng tôi gác sang một bên mọi kiểu cách giữ kẽ, rầy rà, cứ việc đi đánh thức từng cầu thủ một để hỏi chuyện họ, cho đến khi nào hết lượt những người ở cánh phải tầng hai khách sạn mới thôi.
Tất nhiên, đó không phải là một thủ tục dễ chịu gì, nhất là vào thời điểm bốn giờ sáng. Nhưng chúng tôi không còn thì giờ mà quan tâm tới thủ tục. Tôi đề nghị mời huấn luyện viên Hô-li-de đến đầu tiên, khi ông bước vào, tôi cảm thấy ngay rằng ông ngủ không say. Hô-li-de ngồi thoải mái xuống ghế, gác chân lên nhau và đưa bao thuốc “Lucky” mời tôi. Tôi rút một điếu và gọi người mang cà phê đến cho ông.
Chúng tôi nói chuyện với nhau chừng hai mươi phút. Câu chuyện không đem lại kết quả gì. Ông cho biết Phơ-răng được toàn đội yêu mến, không có ai thù địch với anh, cả cầu thủ cũng như lãnh đội.
- Ông cũng biết rằng khi có những thất bại, trong đội có thể xẩy ra những lủng củng, cằn nhằn nhau. Tôi không muốn nói nương nhẹ đi đâu-vì người ta trả tiền tôi để cho toàn đội phải đá ra trò-nhưng những cuộc cãi vã trong chốc lát không thể nào biến thành hằn thù, tôi không thể tưởng tượng là có điều đó được. Hơn nữa, thời gian gần đây, đội chúng tôi hầu như đạt được thắng lợi liên tiếp, mùa bóng vừa qua chúng tôi chơi tốt, trận thắng nọ tiếp trận thắng kia. Chúng tôi đã thắng trong giải vô địch Cộng hòa Liên bang Đức. Mùa bóng năm nay chúng tôi cũng đang dẫn đầu bảng. Cầu thủ hưởng lương cao, không có ai phàn nàn điều gì…
- Thưa ông Hô-li-de, ông có thể cho biết, trong đội bóng có người nào tỏ ra sợ Pích-le không? Hoặc là Pích-le đã biết về người đó quá nhiều, nhiều hơn mức cho phép?
- Ông muốn nói là có một mưu mô mờ ám gì ở đây chăng? Tôi không biết, nhưng chắc chắn không có lý do gì để giết người ở đây được. Tôi xin đảm bảo rằng không có chuyện gì mà tôi không để mắt tới, đầu óc tôi không hề lơi lỏng chút nào. Trong đội tôi mà lại có thể giết lẫn nhau! Đó chỉ có thể là một cơn ác mộng…
- Thế ngộ nhỡ vấn đề đặt ra là Pích-le đã bị thủ tiêu chỉ vì anh ta là kẻ ngáng trở hoặc gây phiền hà cho một ai đó? Ông cũng biết rằng anh ta là cons rể Ốp-pen-hai-mơ. Nếu như đây là hành động trả thù Ốp-pen-hai-mơ hoặc đối với Công ty “MWF.” thì sao?
Hô-li-de lại hút một điếu thuốc. Ông bỏ bao thuốc xuống bàn và đẩy nó lại phía tôi:
- Tôi cũng đã nghĩ về chuyện đó. Nhưng đấy cũng là điều phi lý! Vì sao lại phải hạ sát Pích-le ở Pra-ha, trong khi làm việc đó ở nhà đơn giản hơn nhiều? Vì trong trường hợp ở đây, số người bị tình nghi nằm trong phạm vi rất hẹp, trên thực tế là chỉ còn lại các thành viên trong đội bóng. Điểm lại trong đầu, tôi không thể hình dung ra ai có thể làm được việc đó. Phải, Pích-le hẳn rồi sẽ được dùng trong đội ngũ chỉ huy cả nền công nghiệp ô-tô của chúng tôi. Chủ tịch Câu lạc bộ chúng tôi, ngài Muy-khơ-lây-xen cũng là thành viên ban lãnh đạo Công ty liên hợp “MWF.” Tôi không nghĩ rằng ông lại cần trừ khử Pích-le đi. Và dù trong trường hợp nào chăng nữa, thì ai là người dám làm việc đó ở đây? Dàm làm việc đó, phải có đầu óc ngông cuồng bạt mạng. Ông thử nghĩ xem, giết Phơ-răng ở Pra-ha này làm gì? Thủ phạm sẽ sa bẫy nhanh chóng. Còn nếu ở nhà, mọi chuyện sẽ đơn giản hơn nhiều…
Tiếp đó, các thành viên khác của đội, cứ từng đôi một, đến phòng tôi, theo thứ tự họ sống trong các phòng. Cả bà vợ ông Muy-khơ-lây-xen, suốt đêm không chợp mắt, cũng có đến. Mỗi người đều sẵn sàng giúp đỡ cho việc điều tra, họ tự đề nghị chúng tôi có thể đến xem xét phòng ở và đồ đạc của họ. Không ai trong số họ có một nguyên cớ gì để thù ghét Pích-le. Thậm chí nhiều người còn không thể đoán ra được lý do của việc giết người này.
Vào lúc sáu giờ sáng, Gô-mô-la gọi điện:
- Cậu biết không, đầu tiên tôi cứ tưởng rằng cắm kim tẩm thuốc độc trong giầy là trò giết người mới nghĩ ra theo kiểu găng-xtơ Si-ca-gô. Nhưng cậu thử hình dung xem, hoàn toàn không phải thế. Đây là những tư liệu lưu trữ được, cậu thử nghe này!...
- Anh chờ cho một lát, để tôi bật máy ghi âm đã…
- Được rồi, như thế là kiểu giết người dùng kim độc nói chung là không phải mới mẻ gì đối với Châu Âu. Chỉ trong những năm gần đây thôi, người ta đã hai lần dùng đến nó! Tám năm trước đây là ở I-ta-li-a, còn sáu năm trước đây là ở Pháp. Trong cả hai trường hợp, nạn nhân là những viên chức cao cấp. Công chúng không khám phá ra được, tại sao hai người ấy lại bị chết. Ở Pháp, viên chức Bộ Nội vụ là Lu-y Pi-an-tô-ni, còn ở I-ta-li-a, trong thành phố Tu-ri-nô, là ông Bê-nút-tơ ấy là người nắm giữ các bản sáng chế phát minh ở cấp Nhà nước! Bê-nút-tơ lúc đó đang có nhiệm vụ phải chuyển giao các bản vẽ, miêu tả quy trình kỹ thuật thay đổi hầu như hoàn toàn trong việc sản xuất các hộp phát sóng. Phát minh này, vậy là chưa hề được đem áp dụng, vì tác giả của nó-một kỹ sư Pa-vi-na-tô nào đó-trước kia làm ở Công ty “Fer-ra-ri” cũng bị chết bất ngờ do một tai nạn ô-tô sau đó ít lâu… Nói chung, tài liệu lưu trữ đã có người làm rất cẩn thận, cậu lưu ý mọi thứ trong cái “tổ kiến lửa” của cậu, cần gì thêm thì anh em sẽ giúp. Cần gắng cho cái tổ kiến ôn dịch ấy chóng vỡ bung ra!...
Tôi tắt máy ghi âm.
- … À, mà cậu nên nghĩ về điều này nữa nhé! Có thể không một ai ở trong đội bóng có liên quan đến chuyện này. Biết đâu, một kẻ hoàn toàn bên ngoài lại dúng vào đấy!
Tôi và Ca-bi-sếch kiểm tra lại lần nữa danh sách những người sống trong khách sạn. Danh sách có tất cả mười trang đánh máy, gồm hai trăm hai mươi ba người. Trong số đó hai trăm linh năm là người nước ngoài, từ khắp nơi đến-từ Bắc Kinh đến Phi-le-đen-phi-a. Mười tám người Tiệp Khắc, chủ yếu là các nhà ngoại giao, sống ở các cơ quan đại diện nước ngoài, và được gọi về nước công tác một thời gian ngắn. Riêng Bộ Ngoại giao Tiệp Khắc bao giờ cũng đặt trước năm phòng thường xuyên ở khách sạn này.
Hai trăm hai mươi ba người, lại phải thêm vào đó toàn thể nhân viên khách sạn, nghĩa là hai trăm sáu mươi người tình nghi. Thêm nữa bất kỳ người ngoài phố nào chẳng có thể bất ngờ vào khách sạn? Những người thuê lại còn dẫn khách của mình về phòng riêng nữa. Và nếu như hôm qua Pích-le cũng cho khách vào phòng thì sao, và người khách đó, chúng ta lại chưa biết được tý gì!...
- Cậu thử hỏi giúp mình xem, người trực tầng và hai bà quét dọn phòng thường đến làm việc từ mấy giờ?
Ca-bi-sếch ngạc nhiên nhìn tôi:
- Cậu thật sự nghĩ rằng kẻ giết người không ở trong đội bóng, mà lại là một người khác, đã vào phòng này từ quãng chín giờ rưỡi sáng đến mười hai giờ trưa à? Thế nhưng E-véc khẳng định là cửa vẫn khóa kia mà! Khi anh ta quay về, Pích-le đã về trước ít ra là năm phút. Ổ khóa hoàn toàn không bị cậy, không một người lạ nào có thể vào đây. Chỉ còn có thể là khách của Pích-le…
- Hãy khoan đã, cậu đừng vội thuyết phục mình, khi bản thân mình cũng biết rất rõ sự việc. Và cậu cũng đừng quá ngây thơ - “không một người lạ nào có thể vào đây!”. Ở bàn trực nhật khách sạn quốc tế nào chả có khá đông người ra vào. Và nếu khách hỏi người trực chẳng hạn: “Cho tôi xin chìa khóa phòng 216” mà lại nói bằng tiếng Đức, trong khi chìa khóa thực của anh ta là số 316 hay 416, thì tôi tin rằng người trực vẫn cứ đưa như thường, khi anh ta đã mệt mỏi, vì đến trực từ sáu giờ sáng! Thậm chí anh ta còn không thể biết là tôi có thực sống ở trong khách sạn hay không nữa kia! Nếu may mà anh ta nhớ thoáng qua khuôn mặt của tôi, thì lại cũng không thể nhớ được rõ, là tôi có ở trong thành phần đội bóng ấy hay không! Vậy là tôi bình tĩnh vào phòng Pích-le, sau đó quay trở xuống và trả chìa khóa, thậm chí có thể nói rằng, trực nhật đã đưa nhầm chìa khóa! Và trong thời gian ấy…
- … Có thể làm mọi sự, kể cả việc dập một chiếc chìa khóa khác chứ gì. - Ca-bi-sếch ngắt lời tôi…
- Nếu chỉ cần gắn một đầu kim vào giầy của Pích-le, thì cần gì phải dập chìa khóa khác! Nhưng thôi, ta hãy kết thúc các suy luận này. Tốt hơn hết là anh hãy đi hỏi kỹ về người trực tầng và các bà dọn phòng. Nếu họ không ở khách sạn lúc này, thì cho người đi kiếm họ.
Sau đó, tôi bắt đầu phân loại những người sống trong khách sạn theo nghề nghiệp và quốc tịch. Tôi đếm kỹ, chẳng hạn như ở khách sạn “Các-lơ-tôn” có 14 nhà doanh nghiệp, 38 nhà báo, 20 khách từ Cộng hòa Liên bang Đức tới, 25 khách du lịch Công hòa Dân chủ Đức, 19 người Pháp, 16 người Anh, 20 người Mỹ… Chính trong lúc ấy, cửa bật mở và Béc-na-sếch cùng Gô-li-kô-va với một người đàn ông khác bước vào
- Ai thế? - Tôi hướng về phía người đàn ông hỏi Béc-na-sếch.
- Một người cũng biết Pích-le - Béc-na-sếch đẩy người đàn ông lên phía trước-Anh ta muốn gặp và nói chuyện với Pích-le, và đã lần đến nhà Gô-li-kô-va vào 6 giờ sáng. Quả thực, cần phải tìm hiểu kỹ, đáng ngờ lắm!
Tôi phải thầm tán đồng rằng việc này đáng ngờ thật.
- Mời anh ngồi. Còn cô Gô-li-kô-va, cô có thể tạm sang đợi ở phòng riêng “của cô”, phòng bên cạnh.
Người đàn ông ngồi xuống.
- Đây là người-theo lời anh ta khai, và cả Gô-li-kô-va cũng xác nhận, tên là Ca-ren Gô-rắc, anh họ của cô ta. Không đem theo giấy tờ gì trong người, nhưng lại có vật này mang theo tùy thân đây!
Béc-na-sếch đặt lên bàn khẩu súng Brao-ning Thụy Sĩ và một vài bức ảnh mới được rửa và tráng xô-da hãy còn dính.
- Anh có ý định ám sát Pích-le à?
- Không, không! - Người đàn ông vội vã trả lời, - để tôi sẽ trình bày rõ. Tôi không hề có ý định gì xấu đối với ông ta…