Ludwig Breyer, Albert Troßke và tôi đang trên đường đến trường, cần phải bắt đầu lại những bài học. Chúng tôi từng là học sinh của trường Sư phạm, và người ta đã không tổ chức kỳ thi tốt nghiệp sớm cho chúng tôi. Các chiến binh từ trường trung học may mắn hơn. Nhiều người trong số họ đã kịp thi tốt nghiệp trước khi vào lính hoặc trong kỳ nghỉ phép, số còn lại trong đám lính không được may mắn như vậy, bắt buộc phải trở lại lớp học. Karl Bröger cũng vậy.
Chúng tôi đi ngang qua nhà thờ. Những tấm đồng màu xanh lá cây trên các tòa tháp đã bị dỡ và thay vào đó là những tấm tôn lợp xám xịt. Mái vòm phủ rêu và gỉ sét, vì vậy nhà thờ trông gần giống một nhà máy.
Những tấm đồng đã bị đun chảy đúc lựu đạn.
"Thậm chí trong mơ đức Chúa trời cũng không ngờ có cảnh này,"
Albert nói.
Tòa nhà hai tầng của trường Sư phạm nằm trong một ngõ cụt phía tây của nhà thờ. Trường trung học nằm chênh chếch phía trước. Xa hơn là con sông và hàng cây bồ đề. Trước khi chúng tôi đi lính, những tòa nhà này là toàn bộ thế giới của chúng tôi. Sau đó, các chiến hào đã thay thế chúng. Bây giờ chúng tôi lại ở đây. Nhưng đây không còn là thế giới của chúng tôi. Các chiến hào vẫn mạnh hơn.
Đến trước trường trung học, chúng tôi gặp người bạn chơi chung từ thuở bé là Georg Rahe. Câu ta từng là trung úy và chỉ huy đại đội, hoàn toàn có cơ hội để thi tốt nghiệp, nhưng hễ nghĩ phép là cậu ta chỉ uống rượu và ngồi không, chẳng nghĩ gì đến tấm bằng tốt nghiệp trung học. Vì vậy, cậu ta phải về học lại năm cuối, nơi cậu ta đã bị lưu ban tới hai lần.
"Thế nào Georg," tôi hỏi, "có phải ở mặt trận cậu đã trở thành chuyên gia số một về tiếng Latinh không?"
Cậu ta cười và sải bước với đôi chân dài như cẳng cò vào trường trung học. "Cậu coi chừng đừng để bị xơi điểm bốn hạnh kiểm nhé," cậu ta gọi với theo tôi.
Trong sáu tháng chiến tranh cuối cùng cậu ta là phi công. Cậu ta đã bắn rơi bốn máy bay của người Anh, nhưng tôi không nghĩ rằng cậu ta còn có thể chứng minh được định lý Pythagore.
Chúng tôi đi tiếp đến trường Sư phạm. Ngõ hẻm chen chúc những bộ quân phục. Xuất hiện những gương mặt gần như đã quên, những cái tên hàng năm trời không nghe nói đến. Hans Walldorf khập khiễng tiến lại gần. Tháng mười một dập nát về hậu cứ. Cậu ấy đã bị cưa chân đến tận đùi. Giờ đây cậu ấy mang một chiếc chân giả nặng có khớp nối gõ ầm ĩ mỗi khi bước đi. Kurt Leipold xuất hiện và cười cười tự giới thiệu: "Götz von Berlichingen[1] với bàn tay sắt". Tay phải của cậu ta là một cánh tay giả.
Rồi một người đi ra từ góc cổng và nói líu ríu: "Còn tớ, chắc các cậu không nhận ra, hả?"
1. Götz von Berlichingen (1480 - 1562) là một hiệp sĩ đánh thuê nổi tiếng trong lịch sử Đức.
Tôi nhìn vào gương mặt, đúng ra là thứ còn lại của gương mặt. Một vết sẹo đỏ, rộng cắt ngang trán, kéo dài đến tận con mắt trái, nơi đó một cục thịt mọc lồi lên, khiến con mắt nhỏ lại và tụt sâu vào trong. Nhưng vẫn còn là con mắt. Mắt phải bất động, chỉ là một viên thủy tinh. Mũi đã biến mất, một miếng vải đen che đi chỗ đó. Mấy vết sẹo chạy ra từ bên dưới miếng vải cắt ngang miệng hai lần. Sẹo nơi miệng chỗ lồi lên, chỗ rúm ró, nên tiếng nói khó nghe. Răng toàn răng giả, nhìn thấy cả khung đỡ. Tôi phân vân nhìn mà không đoán được. Cái giọng líu ríu bèn nói: "Paul Rademacher."
Bây giờ thì tôi nhận ra cậu ta. Đúng rồi, đây là bộ đồ màu xám có sọc của cậu ta. "Chào Paul, cậu thế nào?"
"Cậu thấy đấy," cậu ta cố chu môi, "hai cú táng bằng xẻng. Lại được thêm cái này nữa." Cậu ta giơ bàn tay thiếu mất ba ngón. Cậu ta buồn rầu nháy một con mắt của mình. Mắt kia nhìn thẳng bất động. "Giá mà tớ biết, liệu tớ còn có thể trở thành thầy giáo được không. Tớ nói quá tệ. Cậu nghe có hiểu tớ không?"
"Hiểu tốt," tôi nói. "Mà rồi từ từ sẽ ổn dần. Sau này chắc còn có thể phẫu thuật lại."
Cậu ta nhún vai và im lặng. Xem ra cậu ta không hy vọng nhiều. Nếu có thể phẫu thuật thì người ta đã làm. Wiliy vội vã phi đến chỗ chúng tôi để thuật lại những sự kiện mới nhất. Chúng tôi nghe tin Borkmann chết vì vết thương ở phổi. Cậu ta bị mắc thêm bệnh lao phổi tiến triển nhanh.
Henze đã tự sát bằng súng khi biết rằng với vết thương ở tủy sống, mình sẽ chỉ còn nước ngồi xe lăn suốt đời. Điều này có thể hiểu được: cậu ấy từng là cầu thủ bóng đá giỏi nhất của chúng tôi. Meyer chết trận trong tháng chín, Lichtenfeld vào tháng sáu. Lichtenfeld mới ra trận được hai ngày.
Đột nhiên chúng tôi sững lại giữa câu chuyện. Một anh chàng xấu xí, nhỏ thó đứng trước chúng tôi.
"Cái gì, Westerholt đây sao?" Willy nghi ngờ hỏi.
"Vẫn tớ đây, đồ nấm ruồi!" cậu kia trả lời.
Willy sửng sốt. "Tớ cứ ngỡ cậu chết rồi."
"Vẫn chưa," Westerholt đáp thoải mái.
"Nhưng tớ đã đọc được trên báo hẳn hoi.”
"Thì là thông tin sai," anh chàng nhỏ thó nhoẻn cười.
"Thật không thể tin vào cái gì nữa,” Willy lắc đầu nói. "Tớ cứ nghĩ lũ giun đã xơi xong cậu từ lâu rồi."
"Sau cậu, Willy!" Westerholt tự mãn đáp. "Cậu sẽ đi gặp chúng trước.
Những người tóc đỏ có bao giờ sống thọ đâu."
Chúng tôi đi vào trường. Cái sân, nơi chúng tôi thường ăn bánh mì bơ lúc mười giờ, các phòng học với bảng đen và ghế băng, hành lang với những dãy móc treo mũ - tất cả vẫn y nguyên như trước, nhưng với chúng tôi dường như chúng xuất hiện từ một thế giới khác. Chúng tôi chỉ nhận ra mùi của những căn phòng tranh tối tranh sáng này; mùi không nồng lắm, nhưng giống mùi trong các doanh trại.
Chiếc đàn organ lớn với hàng trăm cái ống sáng lấp lánh trong hội trường. Nhóm giáo viên đứng bên phải đàn. Trên bục hiệu trưởng có hai chậu cây, lá lẩu như bằng da thuộc. Trước bục treo một vòng hoa nguyệt quế với những dải ruy băng. Ông hiệu trưởng mặc áo choàng dài. Nghĩa là sẽ có một buổi lễ chào mừng trọng thể. Chúng tôi đứng chen chúc túm tụm thành một đám. Không ai muốn đứng ở hàng đầu. Chỉ có Willy hồn nhiên đứng lên phía trước. Mái tóc đỏ của cậu ta sáng lên trong bóng tối nhập nhoạng của gian phòng hệt như ngọn đèn đỏ trong quán rượu.
Tôi quan sát đám giáo viên. Trước kia với chúng tôi họ có ý nghĩa nhiều hơn những người khác; không chỉ vì họ là bề trên, mà vì về căn bản chúng tôi tin họ, cho dù đôi lúc có lấy họ ra làm trò đùa. Còn nay trong mắt chúng tôi họ chỉ là một nhúm người lớn tuổi hơn, những người chúng tôi thân ái xem thường.
Lúc này họ đang đứng kia và muốn dạy dỗ lại chúng tôi. Nhìn họ thì thấy họ sẵn sàng hạ bớt lòng tự tôn. Nhưng họ có thể dạy chúng tôi gì chứ?
Giờ đây chúng tôi hiểu đời hơn họ, chúng tôi đã có được những kiến thức khác, gian khổ, đẫm máu, tàn khốc và không khoan nhượng. Lẽ ra hôm nay chúng tôi có thể dạy họ, nhưng họ đâu cần!... Nếu bây giờ có một cuộc tấn công bất ngờ vào hội trường, chắc hẳn họ sẽ sợ hãi và bất lực như một lũ thỏ nhảy tán loạn không biết chui vào đâu, trong khi không ai trong chúng tôi mất bình tĩnh. Bình tĩnh và cương quyết, chúng tôi sẽ lập tức hành động hợp lý nhất, cụ thể là nhốt họ lại để họ không làm vướng chúng tôi, và bắt đầu đánh trả đối phương.
Hiệu trưởng hắng giọng bắt đầu bài phát biểu. Những lời nói tròn trịa và trơn tru tuôn ra khỏi miệng ông. Phải thừa nhận ông là một diễn giả tuyệt vời. Ông nói về cuộc chiến đấu anh hùng của các binh đoàn, về trận đánh, về chiến công và lòng can đảm. Nhưng bất chấp những lời đẹp đẽ, tôi cảm thấy nhói đau, có lẽ chính do những lời đẹp đẽ đó. Cuộc chiến đâu có trôi chảy và tròn trịa như vậy. Tôi nhìn Ludwig, cậu ấy nhìn tôi; Albert, Walldorf, Westerholt, Reinersmann, những lời kia chẳng thuận tai ai cả.
Ông hiệu trưởng càng nói càng phấn khích. Lúc này ông không chỉ tôn vinh những người hùng ngoài mặt trận, mà cả những anh hùng lặng lẽ ở hậu phương.
"Cả chúng ta ở quê hương cũng đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ của mình, chúng ta đã đồng cam cộng khổ và chịu đói vì binh sĩ của chúng ta, chúng ta đã lo sợ, đã run rẩy, đã sống một cuộc sống vất vả, và nhiều khi việc gồng mình chịu đựng đối với chúng ta có lẽ còn khó hơn là đối với những người lính dũng cảm của chúng ta ngoài mặt trận..."
"Ái chà," Westerholt nói. Tiếng xì xầm nổi lên. Ông già liếc xéo về phía chúng tôi và tiếp tục: "Hiển nhiên chúng ta không thể đem so sánh những công trạng của mình. Các bạn đã chẳng hề sợ hãi nhìn thẳng vào bộ mặt sắt đá của thần chết và đã hoàn thành nghĩa vụ to lớn của mình, và cho dù thắng lợi cuối cùng đã không thuộc về chúng ta, giờ đây chúng ta hãy sát cánh bên nhau hơn nữa trong tình yêu nồng nàn với Tổ quốc vừa trải qua bao thử thách nặng nề. Chúng ta hãy xây dựng lại bất chấp mọi thế lực thù địch, theo tinh thần của thi hào bậc thầy Goethe[1] , người đã bền bỉ xuyên nhiều thế kỷ nhắc nhở đến tận thời buổi rối ren này của chúng ta: Hãy tranh đấu chống lại mọi cường quyền!"
1. Johann Wolfgang von Goethe (1749 — 1832) là đại thi hào người Đức.
Một số tác phẩm nổi tiếng của ông bao gồm: Faust, Nỗi đau của chàng Werther...
Ông hiệu trưởng hạ giọng chuyển sang phần thứ ba của buổi giảng đạo. Lúc này giọng ông như đeo khăn tang và mới xức dầu thánh. Có sự chuyển động lan tỏa trong đám tối sẫm của các giáo viên. Gương mặt họ đầy tập trung và nghiêm trang.
"Đặc biệt, chúng ta muốn tưởng nhớ các em học sinh của trường chúng ta đã ngã xuống; họ đã hăng hái xung phong ra chiến trường để bảo vệ quê hương và đã nằm lại trên miền đất của danh dự. Hai mươi mốt chàng trai không còn ở bên chúng ta — hai mươi mốt chiến sĩ đã hy sinh oanh liệt trong chiến đấu — hai mươi mốt anh hùng đã yên nghỉ trên mảnh đất xa lạ, rời xa những tiếng gầm của trận chiến và ngủ giấc ngủ vĩnh hằng dưới thảm cỏ xanh..."
Đúng lúc đó vang lên một tiếng cười to, khô khốc. Ông hiệu trưởng khó chịu, lúng túng dừng lại. Tiếng cười bắt đầu từ Willy đang đứng đó với vóc dáng to kềnh càng như cái tủ. Mặt cậu ta đỏ tía vì quá tức giận.
"Thảm cỏ xanh, thảm cỏ xanh..." cậu ta lắp bắp, "giấc ngủ vĩnh hằng sao? Họ đang nằm trong những hố đạn bẩn thỉu, bị bắn nát người, thân xác te tua, bị chìm trong bùn... Thảm cỏ xanh! Chúng tôi ở đây không phải trong giờ học hát!" Cậu ta vung tay như một cái cối xay gió trong cơn bão.
Hy sinh oanh liệt! Các người tưởng tượng mới hay ho chứ! Ông có muốn biết Hoyer bé nhỏ đã chết như thế nào không? Cả ngày cậu ấy nằm trên hàng dây thép gai và la hét, và từ bụng cậu ấy ruột xổ ra treo lủng lẳng như mì ống. Rồi một mảnh đạn pháo đã cắt lìa các ngón tay của cậu ấy, hai giờ sau phạt đứt thêm một phần chân, vậy mà cậu ấy vẫn còn sống và vẫn cố gắng lấy bàn tay còn lại nhét đống ruột vào bụng, và phải đến tối cậu ấy mới tắt thở. Vào ban đêm, khi chúng tôi mò được đến nơi, người cậu ấy đã bị thủng lỗ chỗ như cái sàng. Ông hãy thử kể cho mẹ cậu ấy nghe xem cậu ấy chết như thế nào, nếu ông có can đảm!"
Hiệu trưởng tái mặt. Ông không biết nên làm gì: nghiêm khắc để giữ kỷ luật hay xoa dịu chúng tôi. Nhưng ông không kịp lựa chọn giải pháp nào.
"Ngài hiệu trưởng," Albert Troßke bắt đầu, "chúng tôi đứng đây không phải để nghe ông nói rằng chúng tôi đã thực hiện tốt phần việc của mình, mặc dù đáng tiếc chúng tôi đã không thể giành chiến thắng. Cứt!
Chúng tôi ỉa vào nó!"
Hiệu trưởng giật nảy ngưòi, cả khối các giáo viên rùng mình cùng với ông ta, hội trường chao đảo, đàn organ đang run bần bật.
"Tôi buộc phải yêu cầu, ít nhất là cách trình bày..." ông phẫn nộ cố thử phản đối.
"Cứt, cứt và lại cứt nữa!" Albert lặp lại. "Đó là ba từ đầu lưỡi của chúng tôi trong suốt những năm qua, rốt cuộc ông cũng phải biết điều đó!
Ở mặt trận, nếu chúng tôi bị rơi vào tình huống tồi tệ làm chúng tôi quên tất cả những thứ vô nghĩa các ông từng nhồi vào đầu chúng tôi, chúng tôi nghiến răng và nói 'cứt', rồi sau đó mọi việc tiếp diễn như thường. Ông dường như không hề hay biết điều gì đang xảy ra! Đến đây không phải là các cậu bé dũng cảm, không phải là các học sinh thân yêu, đến đây là những người lính!"
Nhưng, thưa các vị," ông già kêu lên gần như van nài, "đây là một sự hiểu lầm, một sự hiểu lầm đau đớn..."
Ông không thể nói hết câu. Ông bị ngắt lời bởi Helmut Reinersmann, người đã kéo cậu em trai bị thương ra khỏi làn lửa đạn dữ dội ở Yser và khi mang được về đến trạm cứu thương thì cậu em đã chết.
"Họ đã hy sinh," anh ta nổi điên nói, "họ đã hy sinh không phải để kẻ khác diễn thuyết về việc đó. Họ là anh em đồng đội của chúng tôi, và chúng tôi không muốn người ta ba hoa về họ!"
Cả hội trường trở nên hỗn loạn, ồn ào. Ông hiệu trưởng đứng đờ vì sốc và hoàn toàn bất lực. Đám giáo viên giống như một đàn gà mái bị xua tớn tác. Chỉ có hai giáo viên giữ được bình tĩnh. Họ từng là lính.
Ông già thử xoa dịu chúng tôi bằng mọi cách. Nhưng chúng tôi quá đông, và Willy to mồm đứng chặn ngay trước mặt ông. Ai mà biết được những kẻ hoang dã này còn giở những trò gì, biết đâu chỉ vài phút nữa chúng còn dám rút cả lựu đạn từ trong túi ra nữa. Ông hiệu trưởng vung vẩy hai cánh tay giống như một thiên sứ vỗ đôi cánh. Nhưng không ai thèm nghe ông nói.
Nhưng đột nhiên tiếng ồn ào lắng xuống. Ludwig Breyer đã bước về phía trước. Yên tĩnh trở lại.
"Ngài hiệu trưởng," Ludwig nói với giọng nói rõ ràng của mình, "ngài đã thấy cuộc chiến tranh theo cách riêng của ngài. Với những lá cờ bay phấp phới, với sự hân hoan và khúc quân hành. Nhưng ngài chỉ nhìn thấy nó không xa hơn nhà ga, nơi chúng tôi lên tàu ra mặt trận. Chúng tôi không vì thế mà muốn trách cứ ngài. Tất cả chúng tôi cũng đều đã từng nghĩ như ngài. Nhưng bây giờ chúng tôi đã biết mặt kia của tấm huân chương. Những hưng phấn năm 1914 đã nhanh chóng tan biến. Dù sao chúng tôi vẫn kiên trì đứng vững, bởi vì một cái gì đó sâu sắc hơn đã gắn kết chúng tôi lại với nhau, một cái gì đó chỉ sinh ra ngoài mặt trận, một thứ trách nhiệm mà ngài không hề biết và người ta không thể nói về nó."
Trong một khoảnh khắc Ludwig nhìn thẳng vào khoảng xa xăm phía trước. Đoạn cậu ấy vuốt trán và tiếp tục nói:
"Chúng tôi không đòi hỏi ngài phải chịu trách nhiệm. Điều đó thật ngu ngốc, bởi vì khi đó không ai biết trước điều gì sẽ xảy ra. Nhưng chúng tôi yêu cầu ngài đừng có một lần nữa áp đặt chúng tôi nên suy nghĩ như thế nào về những điều này. Chúng tôi đã hăng hái ra trận với từ 'Tổ quốc'
trên môi, và chúng tôi đã lặng lẽ trở về với khái niệm 'Tổ quốc' cất giấu trong tim. Vì thế bây giờ chúng tôi yêu cầu ngài hãy im lặng. Hãy vứt bỏ những lời đao to búa lớn. Chúng không còn phù hợp với chúng tôi. Chúng cũng không phù hợp với đồng đội đã ngã xuống của chúng tôi. Chúng tôi đã tận mắt thấy họ chết. Các ký ức về điều đó vẫn còn rất sống động nên chúng tôi không thể chịu đựng được khi người ta nói về nó theo cách ngài đã nói. Họ đã hy sinh cho những điều lớn hơn thế."
Hội trường hoàn toàn yên lặng. Ông hiệu trưởng ép chặt hai bàn tay vào nhau. "Nhưng anh Breyer," ông nhẹ nhàng nói, "tôi hoàn toàn không có ý đó."
Ludwig im lặng.
Đợi một chút, ông tiếp tục: "Vậy hãy nói với tôi các anh muốn gì."
Chúng tôi nhìn nhau. Chúng tôi muốn gì? Vâng, giá như có thể nói được dễ dàng trong một hai câu. Một cảm giác mạnh mẽ sôi sục mơ hồ trong chúng tôi, nhưng làm sao diễn tả bằng lời? Những lời đó chúng tôi chưa có. Có lẽ chúng tôi sẽ nghĩ ra sau!
Im lặng giây lát, rồi Westerholt chen lên phía trước và đứng ngay trước mặt ông hiệu trưởng. "Chúng ta hãy nói chuyện thực tế," cậu ta nói.
"Hiện giờ đó mới là việc cần thiết nhất. Ngài định làm thế nào với đám chúng tôi? Ở đây có bảy mươi người lính trở lại ghế nhà trường. Tôi nói thẳng với ngài thế này: chúng tôi hầu như không nhớ tí gì kiến thức sách vở của các ngài, nhưng chúng tôi không có hứng thú mài đũng quần ở đây lâu nữa đâu."
Ông hiệu trưởng cố dằn lòng. Ông giải thích rằng chưa có hướng dẫn từ cấp trên về việc này. Do đó tạm thời chúng tôi cũng sẽ quay lại các lớp mà từ đó chúng tôi đã ra đi. Sau này sẽ rõ những gì cần làm.
Đáp lời ông là những tiếng rì rầm xen lẫn tiếng cười.
"Có lẽ chính ông cũng không tin là chúng tôi sẽ ngồi cùng bàn với lũ nhóc chưa từng là lính và sẽ ngoan ngoãn giơ tay khi muốn trả lời các câu hỏi," Willy tức giận nói. "Chúng tôi sẽ học cùng nhau."
Phải tới lúc này chúng tôi mới thực sự nhận thấy mọi thứ ở đây thật buồn cười làm sao. Trong nhiều năm qua chúng tôi đã được phép bắn, đâm và giết... Vậy mà bây giờ việc chúng tôi đã rời lớp năm thứ hai hay ba để ra trận lại hóa ra quan trọng. Một số người đã có thể giải phương trình có hai ẩn số, số khác lại mới chỉ giải được loại có một ẩn số. Đó là những khác biệt có giá trị ở đây.
Hiệu trưởng hứa sẽ làm đơn xin mở chương trình dạy đặc biệt cho những người lính.
"Chúng tôi không thể chờ đợi được," Albert Troßke nói ngắn gọn.
"Tốt hơn là chúng tôi tự làm đơn."
Hiệu trưởng không ý kiến gì, ông im lặng bước ra cửa.
Các giáo viên theo sau. Chúng tôi cũng bước ra ngoài. Tuy nhiên trước khi bỏ đi, Willy không hài lòng vì sự việc đã trôi qua quá yên tĩnh bèn quăng cả hai chậu hoa trên bục giảng xuống đất.
"Đằng nào xưa nay tớ cũng chưa bao giờ chịu đựng nổi cái thứ rau này,” cậu ta tức tối nói. Cậu ta còn chụp vòng hoa nguyệt quế vào đầu Westerholt. "Mang về mà nấu xúp cho cậu!"
Những cái tẩu và những điếu xì gà tỏa khói. Chúng tôi ngồi họp cùng với các cựu chiến binh của trường trung học. Khoảng hơn một trăm chiến sĩ, mười tám trung úy ba mươi thượng sĩ và hạ sĩ quan. Westerholt mang theo một cuốn nội quy cũ của trường và đọc to cho cả bọn nghe. Cậu ta luôn phải dừng lại giữa chừng, vì cứ sau mỗi đoạn cả bọn lại phá lên cười. Chúng tôi không thể hiểu được làm sao cái thứ nội quy này lại từng được chúng tôi tuân theo.
Westerholt đặc biệt chế nhạo việc trước đây cứ sau bảy giờ tối là chúng tôi không được ra phố nếu không được giáo viên chủ nhiệm cho phép. Nhưng Willy đã hạ nhiệt cậu ta.
"Thôi đi, Alwin," Willy chõ vào Westerholt kêu lên. "Cậu đã làm giáo viên chủ nhiệm của cậu mất mặt hơn bất kỳ ai khác. Cậu đã được báo tử.
Ngài hiệu trưởng đã vô cùng xúc động đọc một bài điếu văn tưởng nhớ cậu, ca ngợi cậu là một anh hùng, một học sinh mẫu mực, vậy mà sau tất cả những thứ đó cậu còn vô liêm sỉ lù lù dẫn xác về! Ông già lúc này đang bối rối kinh khủng. Bây giờ ông ấy phải rút lại tất cả những lời lẽ tốt đẹp mà ông ấy đã dành cho cậu khi cậu còn là một xác chết - là vì chắc chắn trong môn đại số và tập làm văn cậu vẫn dốt như xưa."
Chúng tôi bầu chọn các thành viên Hội đồng học sinh; vì các giáo viên có thể vẫn thích hợp để nhồi cho chúng tôi chút kiến thức thi cử, nhưng cai quản chúng tôi thì không đến lượt họ. Chúng tôi bầu Ludwig Breyer, Helmuth Reinersmann và Albert Troßke vào Hội đồng học sinh trường Sư phạm, bên trường trung học là Georg Rahe và Karl Bröger.
Ngay sau đó, chúng tôi chỉ định ba đại diện cho chuyến đi gặp chính quyền tỉnh và Bộ Giáo dục vào ngày mai để trình bày các yêu cầu của chúng tôi về thòi gian học và các kỳ thi. Willy, Westerholt và Albert được chọn. Ludwig không thể đi vì cậu ấy chưa đủ khỏe.
Ba người được nhận giấy chứng minh quân sự và vé tàu miễn phí, chúng tôi có sẵn cả đống những tập vé. Chúng tôi cũng có đủ sĩ quan và ủy viên Hội đồng quân nhân để ký giấy tờ.
Helmuth Reinersmann ra tay chỉnh trang vẻ ngoài của ba anh chàng sao cho phù hợp. Anh yêu cầu Willy để lại nhà cái áo choàng mới mà cậu ấy vừa lấy được ở kho quân trang và mặc cái áo chẽn vá víu, bị đạn thủng lỗ chỗ cho hành trình lần này.
"Sao phải thế chứ?" Willy ngạc nhiên hỏi.
"Với mấy con chuột cống văn phòng thì cái này hiệu quả hơn cả trăm lý do khác!" Helmuth giải thích.
Willy không chịu, bởi cậu ta tự hào về cái áo mới của minh và dự định sẽ phô nó trong các quán cà phê phố tỉnh.
"Nếu tớ đập bàn khi nói chuyện với Hội đồng giáo dục thì cũng hiệu quả như thế," cậu ta bướng bỉnh nói.
Nhưng Helmuth không dễ để ai thuyết phục. "Chúng ta không thể làm hỏng mọi việc bởi một cú đập bàn, Willy," anh nói. "Chúng ta đang cần những người này. Mà nếu cậu đập bàn trong bộ quân phục sờn rách, cậu sẽ thu được cho tất cả chúng ta nhiều lợi ích hơn là trong bộ cánh mới của cậu. Những người anh em đó là vậy, hãy tin tôi đi!"
Willy đành nghe theo. Bấy giờ Helmuth quay sang Alwin Westerholt và ngắm nghía cậu ta. Anh thấy quân phục của cậu ta cứ trống trơn thế nào, vì vậy anh gắn cho cậu ta tấm huân chương của Ludwig Breyer.
"Như vậy lời nói của cậu sẽ thuyết phục hơn đối với các vị ủy viên cơ mật," Helmuth nói thêm.
Albert không cần thứ này, bản thân cậu ta đã có đủ thứ lung keng trên ngực, cả ba giờ đây đã được trang bị đúng cách. Hulmuth ngắm nghía thành quả công sức của mình.
"Tuyệt vời!" anh nói, "Và bây giờ hãy lên đường! Hãy cho lũ lợn đất ấy biết thế nào là một người lính chiến thực thụ."
"Hãy cứ tin ở bọn tớ!" Willy tuyên bố. Cậu ta đã bình tĩnh trở lại.
Những cái tẩu và những điếu xì gà tỏa khói. Những ước muốn, những suy tư và những khao khát bay lên hòa quyện vào nhau. Chúa mới biết những gì sẽ xảy ra với họ. Cả trăm người lính trẻ, mười tám trung úy, ba mươi thượng sĩ và hạ sĩ quan ngồi ở đây và muốn bắt đầu lại cuộc sống.
Mỗi người trong số họ có thể dẫn một đại đội tấn công vượt qua làn đạn pháo trong một địa hình khó khăn với tổn thất tối thiểu, mỗi người trong số họ sẽ không một giây do dự hành động chính xác khi giữa đêm trong chiến hào vang lên tiếng thét "Chúng đến!", mỗi người trong số họ là một người lính hoàn hảo, không hơn không kém.
Nhưng đối với hòa bình thì sao? Liệu chúng tôi có ích gì không? Liệu chúng tôi có còn phù hợp với cái gì đó khác ngoài việc làm lính?