Đã có quy định về việc đến trưòng của cựu chiến binh. Đại diện của chúng tôi đã đạt được nhũng gì chúng tôi muốn: rút ngắn thời gian học, chương trình đặc biệt dành cho lính và thi cử giảm nhẹ hơn.
Thật không dễ dàng thực thi những việc ấy mặc dù đang có cách mạng; bởi toàn bộ cuộc lật đổ này chỉ là một chút sóng gợn trên bề mặt. Nó không có thực quyền. Liệu có ích gì nếu một vài vị trí lãnh đạo đuợc thay thế. Người lính nào cũng biết rằng một chỉ huy đại đội có thể có những ý tuởng tốt nhất - nhưng nếu các hạ sĩ quan không muốn, anh ta cũng đành bất lực. Tuơng tự như vậy, một bộ trưởng cấp tiến nhất luôn phải chịu thất bại, nếu một đám các vị công chức bảo thủ dưới quyền chống lại ông ta. Và các vị công chức ở nuớc Đức thì vẫn tại vị. Không thể diệt nổi các ông tuớng văn phòng này.
Giờ học đầu tiên. Chúng tôi ngồi trên ghế nhà trường. Gần uòuw tất cả đều mặc quân phục. Ba gã râu xồm. Một đã kết hôn.
Tôi phát hiện trên bàn tôi ngồi có vết khắc tên mình, nó được khắc cẩn thận bằng con dao bỏ túi và tô bằng mực, tôi vẫn nhớ mình đã hoàn thành công trình này trong giờ lịch sử; tuy vậy tôi cứ ngỡ đâu cả trăm năm đã trôi qua và vì vậy tôi có cảm giác kỳ lạ khi ngồi đây. Cuộc chiến tranh đả trở thành quá khứ, và vòng tròn một lần nữa khép lại. Nhưng chúng tôi không còn ờ trong nó.
Giáo viên tiếng Đức Hollermann bước vào lớp và trước tiên muốn hoàn thành việc cần làm nhất; ông trả lại cho chúng tói những thứ đồ chúng tôi bỏ lại ngày xưa. Hẳn từ láu chúng đã đè nặng lên tâm hồn nhà giáo chỉn chu của ông. Ông mở khóa tủ của lớp và lôi ra một đống đồ: giá vẽ, bảng vẽ và đặc biệt là những bó vở viết dày cộp màu xanh, các bài luận, bài chính tả bài kiểm tra - một đống chất cao bên trái ông trên bục giảng. Ai được gọi tên sẽ trả lời và nhận lại vở của mình. Willy ném vở cho từng đứa, làm giấy thấm bay tứ tung.
"Breyer!" - "Có!"
"Brücker!" - "Có!"
"Detlefs!"
Im lặng. "Chết!" Willy hét.
Detlefs, nhỏ bé, tóc vàng, chân vòng kiềng, bị đúp lớp một lần. Hạ sĩ, hy sinh năm 1917 tại Kemmel.
Quyển vở được chuyển sang phía bên phải bục giảng.
"Diker!" - "Có!"
"Dierksmann!" - "Chết!"
Dierksmann, con nhà nông, một tay chơi bài giỏi, một ca sĩ tồi, hy sinh tại Ypern. Quyển vở đi về bên phải.
"Eggers!"
"Còn chưa về!" Willy thưa. Ludwig thêm: "Bị bắn thủng phổi, nằm quân y viện Dortmund, từ đó chuyển đến Lippspringe điều trị ba tháng."
"Friederichs!" - "Có!"
"Giesecke!" - "Mất tích!"
"Không đúng," Westerholt tuyên bố.
"Cậu ấy được thông báo mất tích mà," Reinersmann nói.
"Đúng,” Westerholt cãi, "nhưng cậu ta đã về đây được ba tuần rồi, trong nhà thương điên. Tớ đã tận mắt thấy cậu ta."
"Gehring Một!" - "Chết!"
Gehring Một; đứng đầu lớp, sáng tác thơ, làm gia sư kiếm tiền mua sách. Hy sinh tại Soissons, cùng với em trai của mình.
"Gehring Hai," thầy giáo tiếng Đức chỉ lẩm bẩm và tự tay đặt quyển vở sang chồng vở bên phải.
"Cậu ấy đã viết các bài luận hay thực sự," ông trầm ngâm nói và một lần nữa lật giở quyển vở của Gehring Một.
Còn nhiều cuốn vở đi sang bên phải, và sau khi tất cả tên đã được gọi, trên bục giảng là một chồng dày các bài kiểm tra nằm lại. Thầy Hollermann lưỡng lự nhìn chồng vở. Hẳn ý thức về trật tự của ông đang bấn loạn, bởi ông không biết phải làm gì với chúng. Cuối cùng, ông tìm ra một lối thoát. Có thể gửi các tập vở cho cha mẹ của đám trò đã chết.
Nhưng Willy không đồng ý. "Thầy nghĩ rằng các bậc cha mẹ sẽ vui mừng khi nhìn thấy một cuốn vở với đầy những điểm 'yếu' và 'kém' như thế hay sao?" cậu ta hỏi. "Xin hãy bỏ ý đinh đó đi!"
Hollermann tròn mắt nhìn cậu ta. "Được rồi, vậy tôi nên làm gì với chúng đây?"
"Cứ để nằm nguyên trong tủ," Albert nói.
Hollermann gần như phẫn nộ. "Nhưng điều đó là không thể được, anh Troßke, những cuốn vở này không thuộc về nhà trường, không thể cứ đơn giản để chúng lại đây."
"Ôi lạy Chúa, sao phức tạp thế," Willy rên rỉ và đưa tay vò đầu. "Thầy hãy đưa những cuốn vở cho chúng tôi, chúng tôi sẽ tự lo." Hollermann ngập ngừng đưa chúng ra. "Nhưng mà..." ông ta lo lắng nói, vì chẳng gì đó cũng là tài sản của người khác.
"Vâng, vâng," Willy nói, "sẽ làm mọi thứ thầy muốn, sẽ dán tem thật cẩn thận, gửi bảo đảm, thầy cứ yên tâm đi! Kỷ cương trên hết, đau cũng phải chịu!" Cậu ta nháy mắt với chúng tôi, tay chỉ vào trán.
Sau giờ học, chúng tôi lật xem lại các bài luận của mình. Đề bài luận cuối cùng mà chúng tôi viết là: "Tại sao nước Đức phải thắng cuộc chiến tranh?". Đó là đầu năm 1916. Mở bài, sáu luận chứng, tổng hợp kết luận.
Luận chứng thứ tư: "Vì những lý do tôn giáo" tôi trình bày không tốt. Lời phê bằng mực đỏ trên lề: "không mạch lạc" và "thiếu thuyết phục". Tuy nhiên gộp lại bài luận bảy trang được đánh giá điểm hai trừ, một kết quả tốt, nếu như gạt sang bên các sự thật ngày nay.
Willy đọc to bài của cậu ta ở môn lịch sử tự nhiên: "Cỏ bạch đầu ông và hệ rễ của nó". Cậu ta cười toét miệng ngó xung quanh. "Với thứ này bọn mình coi như đi tong rồi, hả?"
"Xong hẳn," Westerholt kêu lên.
Đúng, xong hẳn, xong thực sự! Chúng tôi đã quên ráo cả, cái đó quá rõ rồi. Còn những gì Bethke và Kosole đã dạy bảo chúng tôi, chúng tôi không quên.
Buổi chiều Albert và Ludwig đón tôi. Chúng tôi muốn xem xem người anh em Giesecke của mình giờ ra sao. Dọc đường chúng tôi gặp Georg Rahe. Cậu ta gia nhập nhóm chúng tôi, vì cậu ta cũng biết Giesecke.
Đó là một ngày trong lành. Từ trên ngọn đồi, nơi có tòa nhà bệnh viện, có thể nhìn ra cánh đồng rồi phóng mắt ra xa tít tắp. Ở đó từng nhóm các bệnh nhân tâm thần mặc áo khoác sọc xanh trắng đang làm việc dưới sự giám sát của các nhân viên mặc đồng phục. Từ cửa sổ bên cánh phải tòa nhà vọng ra tiếng hát “Bờ cát sáng bên sông Saale..." Chắc một bệnh nhân đang hát. Âm thanh bay qua song sắt nghe kỳ lạ: "Những đám mây bay mênh mang..."
Giesecke nằm trong một căn phòng rộng cùng một số bệnh nhân khác. Khi chúng tôi bước vào, một bệnh nhân hét chói tai: "Nấp đi! Nấp!..."
và chui tọt xuống gầm bàn. Những người khác không để ý đến anh ta.
Giesecke lập tức bước ra đón chúng tôi. Khuôn mặt cậu ấy gầy gò, vàng vọt, và với cái cằm nhọn cùng đôi tai vểnh lên trông cậu ấy trẻ hơn hẳn trước kia. Chỉ có cặp mắt là lo lắng và già nua.
Chúng tôi chưa kịp chào Giesecke, thì ai đó đã kéo chúng tôi sang một bên. "Có gì mới ngoài đó không?" anh ta hỏi.
"Không, không có gì mới," tôi trả lời.
"Thế còn ngoài mặt trận? Cuối cùng chúng ta đã chiếm Verdun chứ?"
Chúng tôi nhìn nhau. "Đã hòa bình lâu rồi," Albert nói trấn an.
Anh ta cười, tiếng cưòi khó chịu, be be như dê. "Các người đừng có để chúng ỉa vào đầu! Chúng chỉ muốn làm cho các người ngu đi và rình đến lúc bọn này phải ra viện! Để rồi lại chộp lấy và tống ra mặt trận." Anh ta nói thêm đầy bí ẩn: "Chúng không bắt tôi trở lại được đâu!"
Giesecke bắt tay chúng tôi. Chúng tôi ngỡ ngàng, vì đã tưởng rằng cậu ấy sẽ nhào lộn và nhảy nhót như một con khỉ, sẽ chau mày nhăn mặt, hoặc chí ít cũng liên tục run bần bật như những kẻ động kinh ăn xin trên các góc phố. Thay vào đó, cậu ấy mỉm cười với chúng tôi với cái miệng méo xệch đáng thương và nói: "Các cậu hẳn đã không ngờ, hả?"
"Cậu hoàn toàn khỏe mạnh mà," tôi trả lời. "Thế thì cậu bị sao vậy?"
Cậu ấy đưa tay vuốt trán. "Đau đầu. Giống như có cái vòng bóp chặt sau gáy. Rồi đến Fleury..."
Trong trận chiến quanh vùng Fleury, Giesecke đã bị vùi lấp nhiều giờ cùng với một bính sĩ khác, mặt ấy bị một thanh xà hầm sập xuống đè ép vào bên hông đã bị rách toác lên tận bụng của người lính kia. Đầu người lính bị trọng thương thò ra ngoài và anh ta rên la. Mỗi lần anh ta rên, máu lại trào ra chảy tràn qua mặt Giesecke. Ruột người lính phòi dần ra khỏi bụng và có cơ làm Giesecke chết ngạt. Cậu ấy phải gạt đám ruột trở lại để lấy không khí thở và luôn nghe tiếng rú trầm đục của kẻ bất hạnh mỗi khi làm vậy.
Cậu ấy kể lại toàn bộ câu chuyện rất rõ ràng và rành mạch. "Đêm đêm cảnh đó lại tái hiện khiến tớ nghẹt thở và cần phòng ngập đầy những con rắn màu trắng nhớp nháp cùng rất nhiều máu."
Nhưng nếu cậu đã biết rõ điều đó, sao cậu không thể vượt qua nó?"
Albert thắc mắc.
Giesecke lắc đầu. "Chẳng ích gì, kể cả khi tớ đang thức. Hễ trời tối là chúng lại xuất hiện." Cậu ấy rùng mình. "Ở nhà tớ đã nhảy ra khỏi cửa sổ và bị gãy chân. Thế nên họ đã đưa tớ đến đây.”
"Các cậu đang làm gì vậy?" lát sau cậu ấy hỏi. "Thi xong rồi chứ?"
"Sắp," Ludwig nói.
"Chắc tớ chả học hành gì được nữa," Giesecke buồn bã nói. "Người như tớ ai để cho tiếp xúc với trẻ em."
Lúc này bệnh nhân ban nãy vừa hét "Nấp đi!" lẻn đến phía sau Albert và đẩy nhẹ vào gáy cậu ấy. Albert nổi xung lên, nhưng bình tĩnh lại ngay.
"Đủ chuẩn đăng lính!" anh ta cười khúc khích. "Đủ chuẩn đăng lính!"
Anh ta ré lên cười, nhưng đột nhiên trở nên nghiêm trang và lặng lẽ đi vào một góc phòng.
"Các cậu không thể viết thư cho thiếu tá sao?" Giesecke hỏi.
"Thiếu tá nào?" tôi ngạc nhiên hỏi lại. Ludwig huých tôi.
"Chúng tớ nên viết gì cho ông ấy?" tôi vội tiếp.
"Ông ấy phải cho phép tớ đến Fleury một lần nữa,” Giesecke hào hứng đáp. "Điều đó nhất định sẽ giúp được tớ. Nơi ắy giờ đây chắc chắn yên tĩnh hoàn toàn, mà tớ thì lại chỉ biết nó khi mọi thứ bay tung tóe vì đạn pháo. Nếu được thế, tớ sẽ đi bộ xuyên Hẻm Núi Tử thần, ngang qua Vùng Đất Lạnh đến Fleury, không nghe một tiếng súng nào, và mọi chuyện sẽ qua đi. Sau đó tớ sẽ bình yên trở lại, các cậu có nghĩ vậy không?"
"Cứ thế này rồi mọi chuyện cũng sẽ qua mà," Ludwig nói và đặt tay lên vai Giesecke, "chỉ cần cậu phân biệt rõ ràng thật và hư."
Giesecke buồn bã nhìn thẳng phía trước mặt. "Cứ viết cho thiếu tá đi.
Tớ tên là Gerhard Giesecke, đánh vần với 'ck'." Đôi mắt cậu ấy đờ ra và tuồng như không thấy gì. "Các cậu có thể mang cho tớ một ít mứt táo không? Tớ rất thèm lại được ăn mứt táo."
Chúng tôi hứa với cậu ấy mọi điều, nhưng cậu ấy đã hoàn toàn không còn nghe chúng tôi, cậu ấy bỗng trở nên dửng dưng vậy đấy. Khi chúng tôi ra về, cậu ấy đứng dậy và làm động tác chào Ludwig, sau đó lại ngồi xuống bên bàn với đôi mắt xa vắng.
Ra đến cửa, tôi ngoái nhìn một lần nữa về phía Giesecke. Cậu ấy đột nhiên nhảy dựng lên như vừa choàng tỉnh và chạy theo chúng tôi.
"Hãy đưa tớ theo với!" cậu ấy kêu lên bằng một giọng the thé kỳ cục.
"Chúng lại đang bò đến kìa!"
Cậu ấy sợ hãi bám chặt lấy chúng tôi. Chúng tôi không biết phải làm gì. Đúng lúc này bác sĩ đi vào, nhìn chúng tôi và nhẹ nhàng ôm lấy vai Giesecke. "Chúng ta đi ra vườn nào," ông điềm đạm nói với cậu ấy, và Giesecke ngoan ngoãn để dẫn đi.
Bên ngoài, mặt trời buổi xế chiều lơ lửng bên trên những cánh đồng.
Từ cửa sổ có chấn song vẫn vọng ra tiếng hát... "Nhưng các lâu đài đã tan hoang... những đám mây bay mênh mang..."
Chúng tôi lặng lẽ đi bên nhau. Những luống cày trên cánh đồng óng ánh sáng. Trăng lưỡi liềm mỏng và nhợt nhạt treo giữa các nhành cây.
"Tớ nghĩ tất cả bọn mình đều có một cái gì đó từ cuộc chiến," hồi lâu sau Ludwig nói.
Tôi nhìn cậu ấy. Gương mặt cậu ấy được chiếu sáng bởi ánh hoàng hôn. Trông cậu ấy nghiêm trang và trầm ngâm. Tôi muốn trả lời cậu ấy, nhưng đột nhiên một cơn ớn lạnh lướt trên da khiến tôi rùng mình... Tôi không biết từ đâu và tại sao.
"Không nên nói gì thêm về chuyện đó," Albert nói.
Chúng tôi đi tiếp. Hoàng hôn nhạt dần, trời bắt đầu nhập nhoạng, vầng trăng lưỡi liềm chiếu sáng hơn. Làn gió đêm cuốn lên từ những cánh đồng, và trong các ngôi nhà, những ô cửa sổ đầu tiên bắt đầu lên đèn.
Chúng tôi vào đến thành phố.
Suốt dọc đường, Georg Rahe chẳng nói chẳng rằng. Mãi đến khi cả bọn dừng lại để chia tay, cậu ta mới như sực tỉnh khỏi dòng suy nghĩ của mình.
"Các cậu có nghe cậu ấy muốn gì không?" cậu ta hỏi. "Đến Fleury...
trở lại Fleury..."
Tôi chưa thích về nhà. Albert cũng không. Chúng tôi thong thả đi dạo dọc theo những bức tường. Dưới kia con sông chảy rì rầm. Chúng tôi dừng lại chỗ nhà máy xay tựa người vào thành cầu.
"Thật kỳ cục là người ta không bao giờ thích ở một mình, đúng không, Ernst?" Albert nói.
"Ừ," tôi đáp, "người ta không biết rõ mình thuộc về nơi nào nữa."
Cậu ấy gật đầu. "Đúng thế. Nhưng cuối cùng thì người ta vẫn phải thuộc về nơi nào đó."
“Phải đến khi bọn mình có một cái nghề đã,” tôi nói.
Cậu ta phẩy tay. "Cái đó cũng chả là gì. Người ta cần phải có một thực thể sống, Ernst á. Một con người, cậu biết không..."
"Ồ, một con người," tôi đáp. "Đó là thứ kém bền vững nhất thế gian.
Bọn mình đã chứng kiến quá đủ là con người ta có thể ra đi dễ dàng tới mức nào. Vì thế cậu phải kết bạn với mươi, mười hai người để vẫn còn có ai đó ở lại bên cậu, khi những ngưòi khác bị xơi đạn vào đầu."
Albert chăm chú nhìn cái bóng của nhà thờ. "Ý tớ không phải vậy,"
cậu ấy nói. "Ý tớ là một con người thực sự thuộc về mình. Đôi khi tớ nghĩ đó là một phụ nữ..."
"Chúa ơi," tôi la lên, vì tôi không thể không nghĩ đến Bethke.
"Đừng lảm nhảm nữa," Albert bỗng xẵng giọng với tôi. "Người ta phải có một cái gì đó để có thể bám vào, cậu không hiểu hay sao? Tớ muốn có ai đó yêu thương tớ, người ấy giữ tớ lại, và tớ giữ người ấy! Nếu không thế, có thể tự treo cổ được!" Cậu ấy run rẩy và quay lưng lại với tôi.
"Nhưng mà Albert," tôi nói nhẹ nhàng, "chúng tớ không có ý nghĩa gì với cậu sao?"
"Có, có, nhưng đó là chuyện hoàn toàn khác." Và một lúc sau cậu ấy thì thầm: "Người ta can phải có con... những đứa trẻ không hề biết tí gì..."
Tôi không hiểu rõ ý Albert. Nhưng tôi cũng không thích hỏi thêm cậu ấy nữa.