Ngày lại ngày trôi qua đều đặn và đơn điệu. Buổi sáng bốn tiết học, buổi chiều hai, nhưng khoảng thời gian ở giữa là những giờ trải dài bất tận khi anh chỉ có hết đi lại ngồi, một mình luẩn quẩn với những suy nghĩ.
Tồi tệ nhất là những ngày chủ nhật. Nếu mà không muốn ngồi quán ruợu thì cũng khó lòng chịu nổi. Bên cạnh tôi còn có một ông giáo viên chính, sống ở đây đã ba muơi năm, và từ đó tới nay đã trở thành chuyên gia nuôi lợn hàng đầu đoạt nhiều giải thuởng. Nhưng ngoài chuyện nuôi lợn thì hầu như chẳng nói được chuyện gì khác với ông ấy. Cứ nhìn ông ấy là tôi lại muốn chuồn đi ngay lập tức; cái ý nghĩ mình cũng sẽ thành ra như thế thật đáng sợ. Ngoài ra, còn có một bà giáo, một tạo vật già, hiền lành tử tế, hễ nghe ai nói "Mẹ kiếp, câm mõm đi!" là lại run bắn lên. Cũng chẳng vui vẻ gì.
Willy thích nghi tốt hơn. Cậu ta là khách danh dự ở tất cả các đám cưới và lễ rửa tội. Khi có những con ngựa bị đau hoặc những con bò khó đẻ, cậu ta vừa cho lời khuyên vừa giúp nông dân một tay. Tối đến thì cậu ta la cà quán xá với họ, cò cưa bài Skat với họ và lột họ sạch sẽ.
Trong lúc đó, tôi không muốn nằm vạ vật ở các quán ruợu nữa, tôi thích ở trong phòng mình hơn. Nhung khi ngồi một mình, thời gian trôi đi thật chậm, những suy nghĩ kỳ lạ cứ thường xuyên bò ra từ mọi góc, như những bàn tay nhợt nhạt, xám xịt vẫy vẫy và hăm dọa, những cái bóng của quá khứ ma quái biến hóa lạ kỳ. Những ký ức lại trỗi dậy, những gương mặt không thực, xám ngoét, những lời than vãn và cáo buộc...
Vào một ngày chủ nhật ảm đạm, tôi dậy sớm, mặc quần áo và ra ga để đi thăm Adolf Bethke. Đó là một kế hoạch hay. Tôi lại có thể cùng ngồi với một người thực sự gần gũi với mình, rồi đến lúc ra về thì ngày chủ nhật nhàm chán cũng đã trôi qua.
Tôi đến nơi vào buổi chiều. Cánh cổng vườn kêu rin rít. Con chó sủa nhặng trong chuồng. Tôi đi nhanh theo con đường giữa hàng cây ăn quả.
Adolf đang ở nhà. Cả vợ anh cũng vậy. Khi tôi bước vào và chìa tay cho Adolf thì chị đi ra ngoài. Tôi ngồi xuống. Sau một lúc, anh nói: "Cậu ngạc nhiên phải không, Ernst?"
"Vì cái gì cơ, Adolf?"
"Bởi vì cô ấy lại ở trong nhà."
"Không hề... chính anh biết rõ mà."
Anh đẩy cho tôi liễn đựng hoa quả. "Cậu có muốn ăn một quả táo không?"
Tôi lấy một quả và mời anh điếu xì gà. Anh cắn răng xé đầu điếu và tiếp tục nói: "Cậu thấy đấy, Ernst, tớ đã ngồi ở đây, ngồi mãi và đã suýt phát điên. Khi cậu ở một mình, ngôi nhà sẽ trở nên nặng nề khủng khiếp.
Cậu đi qua các phòng... Ở đây vẫn treo chiếc áo của cô ấy, kia là đồ may vá, còn kia là cái ghế cô ấy thường luôn ngồi khâu... Rồi vào ban đêm, cái giường thứ hai lại càng trắng tinh và trống không bên cạnh cậu, cậu cứ chốc chốc lại nhìn qua đó, lăn qua lăn lại và không thể chợp mắt... Vào những lúc như thế có nhiều thứ trôi qua trong đầu lắm, Ernst ạ..."
"Em hình dung được mà, Adolf..."
"Và sau đó cậu sẽ chạy ra khỏi nhà và nốc say rồi làm đủ trò vô nghĩa..."
Tôi gật đầu. Đông hồ tích tắc nhẹ nhàng. Lò sưởi cháy lách tách. Chị vợ lặng lẽ đi vào đặt bánh mì và bơ lên bàn. Rồi chị lại đi ra. Bethke vuốt phẳng tấm khăn trải bàn.
“Ừ, Ernst, và xét cho cùng cả cô ấy cũng từng trải qua cảm giác cô đơn đó, cô ấy cũng từng thui thủi một mình ngồi như thế suốt những năm qua, cũng nằm ở đây và sợ hãi, lo lắng bất an, đầu óc mụ mị và lắng tai nghe từng tiếng động... Và rồi cuối cùng chuyện đó cũng đến, chắc chắn thoạt tiên cô ấy hoàn toàn không muốn vậy, nhưng khi nó xảy ra, cô ấy không biết làm thế nào để tự giúp mình nữa, thế nên nó đã tiếp diễn."
Chị vợ mang cà phê đến. Tôi muốn chào chị một tiếng, nhưng chị không nhìn tôi.
"Sao em không mang một cốc cho em nữa?" Adolf hỏi.
"Em vẫn còn có việc trong bếp," chị nói. Giọng chị trầm và nhẹ nhàng.
"Tớ ngồi đây và tự nhủ, mày đã giữ gìn danh dự của mày, mày đã đuổi vợ mày đi. Nhưng mày được gì từ cái danh dự ấy, âu cũng chỉ là một lời nói, trong khi mày thui thủi một mình, có hay không có danh dự thì cũng chẳng tốt hơn. Sau đó tớ đã bảo cô ấy có thể ở lại, tất cả những chuyện kia thì đã làm sao, đời người cũng mệt mỏi lắm rồi và có sống được bao nhiều năm nữa đâu, mà giả dụ như không biết chuyện gì, thì cuộc sống vẫn cứ yên ả mà. Ai biết được người ta sẽ làm những gì, nếu như người ta luôn biết hết mọi thứ.”
Adolf bồn chồn gõ gõ lên tay vịn ghế. "Uống cà phê đi, Ernst, có cả bơ đấy."
Tôi rót một tách, và chúng tôi uống.
"Cậu thấy đấy, Ernst," anh nói khẽ, "mọi việc với các cậu dễ chịu hơn.
Các cậu có sách, có học vấn và còn nhiều thứ khác. Nhưng tớ... tớ làm gì có cái gì nữa đâu ngoài vợ tớ."
Tôi không nói gì về điều đó, bởi vì có nói tôi cũng không thể giải thích cho anh hiểu; anh không còn giống như khi ở ngoài mặt trận, và tôi cũng chẳng còn như trước. Một lúc sau tôi hỏi: "Thế chị ấy nói sao về việc này?"
Adolf thả tay thõng xuống. "Thực ra cô ấy ít nói, chẳng hiểu được gì nhiều từ cô ấy. Cô ấy chỉ ngồi và nhìn tớ. Cùng lắm là cô ấy khóc. Cô ấy nói chuyện ít lắm."
Anh đặt cốc của mình sang một bên. "Có lần cô ấy nói, chuyện xảy ra chẳng qua vì cô ấy muốn có ai đó ở bên thôi. Lần khác cô ấy lại bảo cô ấy không hiểu nổi, cô ấy đã không biết là đang xúc phạm tớ, khi chuyện xảy ra cô ấy cứ ngỡ kẻ đó chính là tớ. Nhưng tớ vẫn không sao hiểu được, những chuyện như thế thì phải phân biệt được chứ sao có thể nhầm, còn bình thường cô ấy vốn là người biết điều."
Tôi ngẫm nghĩ. "Có lẽ ý chị ấy muốn nói là trong thời điểm đó chị ấy không hoàn toàn tỉnh táo, như kiểu chị ấy cứ ngỡ là mình chỉ đang mơ, Adolf ạ!"
"Có thể," anh trả lời, "nhưng tớ không hiểu được. Chắc việc đó cũng không kéo dài."
"Chị ấy không còn muốn biết gì về gã kia nữa chứ?" tôi hỏi.
"Cô ấy nói rằng cô ấy thuộc về nơi này."
Tôi ngẫm nghĩ tiếp. Nên hỏi gì nữa nhỉ. "Giờ anh cảm thấy khá hơn rồi phải không, Adolf?"
Anh nhìn tôi. "Không hoàn toàn đâu Ernst, cậu cũng hình dung được đây, vẫn chưa khá hẳn. Nhưng sẽ ổn thôi, cậu cũng nghĩ thế chứ?"
Trông anh có vẻ không tin chắc lắm vào điều đó.
"Chắc chắn sẽ ổn, anh Adolf," tôi nói và đặt lên bàn mấy điếu xì gà tôi vốn cất dành cho mình. Bọn tôi nói chuyện phiếm một lúc rồi tôi ra về.
Trong hành lang, tôi gặp vợ anh đang muốn đi qua tôi cho nhanh.
"Tạm biệt, chị Bethke," tôi nói và chìa tay cho chị.
"Tạm biệt!" chị đáp và đưa tay cho tôi, mặt vẫn ngoảnh đi.
Adolf tiễn tôi đến nhà ga. Gió rít ù ù. Tôi liếc nhìn anh và nhớ đến nụ cười bâng quơ luôn nở trên môi anh mỗi khi chúng tôi ngồi trong chiến hào nói chuyện về hòa bình. Vậy mà giờ đây tất cả đã trở thành cái quái gì thế này!
Đoàn tàu rời ga.
“Adolf,” tôi vội nói với qua cửa sổ, "em hiểu anh rất rõ… Anh không thể biết rõ đến mức nào đâu."
Anh đơn độc đi qua cánh đồng trở về nhà mình.
Chuông báo hiệu giờ giải lao vang lên đúng mười giờ. Tôi vừa dạy xong một tiết ở lớp lớn. Lúc này đám học sinh mười bốn tuổi chạy ào qua tôi ra ngoài chơi. Tôi ngắm chúng từ cửa sổ. Chỉ trong vài giây mà chúng thay đổi hoàn toàn, rũ bỏ khuôn phép của trường học và lấy lại được sự tươi mát và vô tư vốn có của lứa tuổi chúng.
Khi lũ trẻ ngồi ngay ngắn bên bàn học trước mặt tôi, chúng không thực là chúng; chúng hoặc có chút gì đó của loại người nịnh bợ và hãnh tiến hoặc của loại người đạo đức giả và nổi loạn. Bảy năm giáo dục tại nhà trường đã biến chúng thành những kẻ như vậy. Nguyên sơ, thành thật và vô tư lự như những con thú non, chúng đến trường từ những cánh đồng cỏ, những trò chơi và những giấc mơ... Chúng vẫn thuận theo quy luật đơn giản của tư nhiên: ai linh hoạt nhất, khỏe nhất sẽ là thủ lĩnh, đám còn lại theo đuôi. Nhưng những khẩu phần giáo dục hằng tuần đã dần dần tiêm vào đầu chúng một thứ luật lệ khác, luật lệ nhân tạo; ai ngốn hết các khẩu phần này một cách ngoan ngoãn nhất thì sẽ được khen thưởng và sẽ là trò giỏi nhất. Những kẻ khác phải noi theo. Chẳng có gì lạ khi những đứa trẻ linh hoạt nhất phản kháng. Nhưng chúng cũng phải thích ứng; vì học sinh ngoan luôn là lý tưởng của các trường học. Nhưng cái lý tưởng này như thế nào chứ! Và những học sinh giỏi trên thế giới đã trở thành cái gì! Trong lồng kính của nhà trường, chúng hưởng thụ một cuộc sinh tồn giả tạo ngắn ngủi mà càng đảm bảo chắc chắn về sau này chúng sẽ chìm nghỉm trong sự làng nhàng và lệ thuộc tầm thường. Thế giới tiến lên phía trước toàn nhờ những học sinh tồi.
Tôi ngắm nhìn lũ học trò trên sân. Với những chuyển động manh mẽ, khéo léo, lũ trẻ đang chơi dưới sự đầu têu của cậu bé tóc xoăn Dammholt, thằng nhóc với năng lượng của mình đang thống trị toàn bộ sân chơi. Đôi mắt cậu bé ánh lên vẻ hiếu chiến và can đảm, cơ bắp và gân cốt căng tràn sức sống, và những đứa trẻ khác phục tùng nó không chút do dự. Tuy nhiên chỉ mười phút sau, khi ngồi trong lớp học, chính thằng lỏi này lại biến thành một học sinh lì lợm, ương ngạnh, không bao giờ có thể hoàn thành bài tập của mình và nhiều phần đến lễ Phục Sinh sẽ bị lưu ban.
Thằng nhóc sẽ làm bộ mặt ngoan ngoãn khi tôi nhìn nó và ngay lập tức nhăn mày bĩu mỏ sau lưng tôi; nó sẽ nói dối nếu tôi hỏi nó đã chép bài tập làm văn chưa, và lập tức nhổ bọt vào quần tôi hoặc đặt một cái đinh mũ trên mặt ghế của tôi nếu nó có cơ hội. Nhưng trò giỏi nhất lóp, người vừa nãy chỉ là một hình hài thảm hại trên sân chơi, lại đĩnh đạc trong lớp học; cậu ta sẽ tự tin giơ tay khi Dammholt không biết câu trả lời và vừa chịu thua vừa tức tối chờ đợi bị điểm kém. Trò giỏi nhất lớp biết tất cả mọi thứ, và bản thân cậu ta cũng biết điều này. Nhưng Dammholt, đứa mà thực ra tôi phải trừng phạt, lại khiến tôi cảm mến hơn gấp ngàn lần cậu học trò gương mẫu xanh xao kia.
Tôi nhún vai. Chẳng phải điều tương tự cũng từng xảy ra trong cuộc gặp mặt trung đoàn ở hội trường Konersmann đó sao? Chăng phải phẩm chất con người bỗng nhiên chẳng còn là cái thá gì hết, chỉ có nghề nghiệp mới là thước đo tất cả, cho dù trước đó thang giá trị từng khác hoàn toàn?
Tôi lắc đầu. Thế giói mà chúng tôi vừa bước chân quay trở lại là cái thế giới quái quỷ gì vậy...
Giọng Dammholt vang khắp sân trường. Tôi đang nghĩ phải chăng sẽ tốt hơn nếu các giáo viên tiếp cận học sinh của mình với thái độ bạn bè.
Biết đâu sẽ cải thiện được quan hệ thầy trò và tránh được những xung đột có thể xảy ra... nhưng về cơ bản thì đó chỉ là ảo tưởng. Tôi biết từ kinh nghiệm bản thân chúng tôi: tuổi trẻ sáng suốt và không thể mua chuộc.
Chúng đoàn kết tạo thành một mặt trận bất khả xâm phạm trước người lớn. Chúng không ủy mị; có thể tiếp cận chúng, nhưng không thể thâm nhập vào hàng ngũ của chúng. Ai đã một lần bị tống khỏi thiên đường đó, thì không bao giờ còn có thể quay trở lại. Đó gọi là quy luật của tuổi tác.
Với dòng máu lạnh và cặp mắt sắc sảo, Dammholt sẽ tận dụng thái độ bạn bè của người thầy sao cho có lợi cho nó nhất. Thậm chí có thể nó sẽ tỏ chút quyến luyến; nhưng điều đó không ngăn cản nó tận dụng lợi thế của mình.
Những nhà giáo dục nào tưởng rằng họ hiểu thấu được đám trẻ đều chỉ là những kẻ mơ mộng viển vông. Tuổi thiếu niên không muốn được hiểu; chúng chỉ muốn được là chính mình. Khi người lớn tiếp cận chúng quá sâu, chúng thấy cũng nực cười như thể anh ta đang cố mặc quần áo trẻ con vậy. Chúng ta có thể cảm nhận cùng tuôi trẻ, nhưng tuổi trẻ không cảm nhận cùng chúng ta. Đó là sự cứu rỗi của chúng.
Chuông reo. Giờ giải lao đã hết. Dammholt miễn cưỡng đứng vào hàng trước cửa lớp.
Tôi đi bộ xuyên qua làng, về phía thảo nguyên. Sói chạy trước mặt tôi Đột nhiên một con chó ngao lao ra từ một nông trại, nhảy xổ vào Sói. Sói không nhìn thấy nó tới gần. Vì vậy ngay từ cú táp đầu tiên, con chó đã xô ngã được Sói. Một nhoáng sau, tất cả đã trở thành một mớ hỗn độn gồm bụi mù và hai cơ thể cắn xé nhau trong tiếng gầm gào giận dữ.
Chủ nông trại cầm gậy chạy từ trong nhà ra. "Vì Chúa," bác ta hét lên từ đằng xa, "thầy giáo, gọi con chó của anh lại! Pluto sẽ xé nó ra từng mảnh mất!"
Tôi xua tay. "Pluto! Pluto! Đồ đểu, đồ chết tiệt, lại đây!" bác nông dân hét lên kích động, thở hổn hển chạy tới và cố dùng gậy tách hai con chó ra.
Nhưng đám lốc bụi với tiếng sủa hỗn loạn đã lao vút đi hơn trăm mét rồi lại mù mịt lên ở đó.
"Nó đi đời rồi," bác nông dân rên rỉ hạ cây gậy xuống. "Nhưng tôi nói luôn với thầy, tôi không đền tiền con chó đâu đấy! Lẽ ra thầy đã có thể gọi nó lại mà!"
"Con nào đi đời ạ?" tôi hỏi.
"Con chó của thầy," bác nông dân bất lực đáp, "cái con chó ngao điếm đàng này đã làm gỏi cả chục con chó rồi."
"À, với Sói thì trước hết chúng ta hãy cứ đợi đã," tôi nói. "Nó không phải một con chó chăn cừu bình thường đâu, bác thân mến ơi. Nó là một con chó đã từng xông pha trận mạc, một anh lính già, bác hiểu không!"
Bụi tan dần. Hai con chó đã lăn đến một bãi cỏ. Tôi thấy con chó ngao đang cố đè Sói xuống đất và chồm lên cắn ngang lưng nó. Nếu Pluto thành công, Sói sẽ chết, vì nó có thể cắn tan xương sống của Sói. Nhưng trơn tuột như một con lươn, Sói vùng thoát khỏi đôi thủ chỉ một ly trước khi bị đè bẹp rồi lại đứng trên mặt đất, quay phắt người, rồi lập tức lao vào tấn công. Con chó ngao vừa căn vừa sủa nhưng Sói cứ lẳng lặng chiến.
“Chết tiệt," bác nông dân lầm bầm.
Con chó ngao lắc mình, nhảy chồm lên, vồ vào không khí, giận dữ quay lại, nhảy chồm lên lần nữa và lại vồ hụt... cứ như thể nó ở đó có một mình, vì hầu như người ta chẳng nhìn thấy Sói đâu nữa. Sói bay như một con mèo sát mặt đất, kỹ năng mà nó đã quen khi làm chó liên lạc, luồn qua mấy cẳng chân con chó ngao rồi tấn công từ dưới lên. Nó chạy vòng quanh đối thủ, đuổi riết không tha, rồi đột nhiên cắn vào bụng và cứ thế ngoạm thật chặt.
Con chó ngao sủa điên loạn, lăn mình xuống đất để vồ lại con chó chăn cừu. Nhưng bất thình lình, nhanh như cắt, Sói buông đối thủ ra, rồi thừa cơ ngoạm luôn vào cổ họng con chó ngao. Và lúc này, lần đầu tiên, tôi mới nghe Sói cất tiếng gầm gừ trầm trầm, giận dữ, đầy đe dọa, khi nó đã ngoạm chặt đối thủ, kẻ đang tuyệt vọng giãy giụa, lăn lộn trên mặt đất.
"Vì Chúa, thầy giáo ơi," bác nông dân kêu lên, "làm ơn gọi con chó của anh lại! Nó xé con Pluto ra từng mảnh mất thôi!"
"Tôi có thể gọi nó mệt nghỉ, nó sẽ chẳng chịu về đâu," tôi nói. "Mà thế cũng phải. Trước tiên nó cần phải kết liễu con Pluto thối tha này đã."
Con chó ngao rên rỉ và kêu ăng ẳng. Bác nông dân vung cây gậy đinh giúp nó. Tôi giật gậy khỏi tay bác ta, tóm ngực áo bác ta và hét lên: "Chết tiệt, con khốn đó đã tấn công trước!"
Thiếu chút nữa tôi đã xông vào bác nông dân.
May sao tôi đang đứng ở tư thế có thể nhìn thấy Sói đột ngột nhả con chó ngao ra và phóng như bay về phía chúng tôi, vì nó tưởng tôi bị tấn công. Nhờ vậy mà tôi kịp giữ nó lại, nêu không thì nhẹ ra bác nông dân cũng sẽ cắn một cái áo khoác mới. Thừa lúc đó, Pluto đã lăng lặng chuồn mất. Tôi vỗ vỗ con Sói và trấn an nó.
"Nó đúng là quỷ Satan," bác nông dân sợ hết hồn, lắp bắp.
"Chính thế " tôi tự hào nói, "cựu chiến binh chứ đùa đâu. Đừng dại gây sự với nó."
Chúng tôi đi tiếp. Phía sau làng là mấy cánh đồng cỏ, rồi bắt đầu đến thảo nguyên với những cây đỗ tùng và những ngọn đồi. Gần khu rừng bạch dương nhỏ một đàn cừu đang ăn cỏ. Những bộ lông xoăn xù của chúng ánh lên trong nắng hoàng hôn như dát vàng.
Tôi chợt thấy con sói sải những bước dài phóng thẳng đến đàn cừu.
Cho rằng trận chiến với con chó ngao đã khiến nó nổi tính hoang dã, tôi vội đuổi theo nó để ngăn chặn một cuộc tắm máu giữa bầy cừu.
"Cẩn thận! cảnh giác với con chó!" tôi kêu lên với người chăn cừu.
Anh ta cười. "Nó là chó chăn cừu mà, nó không cắn đâu!"
"Không, không!" tôi hét. "Nó không biết đâu! Nó là chó chiến trường!"
"Vớ vẩn," người chăn cừu nói, "chó chiến trường hay không thì nó cũng sẽ không cắn. Đấy... anh nhìn xem... anh nhìn kỹ đi! Giỏi, chó ngoan của ta, làm tiếp đi! Giữ chúng lại!"
Tôi không tin vào mắt mình. Sói... con Sói, con chó cả đời chưa hề nhìn thấy một con cừu nào, bây giờ đang dồn bầy cừu lại với nhau, như thể nó chưa từng làm bất cứ việc gì khác. Bằng những bước nhảy dài, nó sủa vang đằng sau hai con cừu con bị tách đàn và đuổi chúng trở lại. Mỗi khi chúng tách ra hoặc muốn dừng lại, nó chặn chúng và cạp nhẹ vào chân để chúng tiếp tục đi thẳng.
"Con chó tuyệt vời," người chăn cừu nói, "nó chỉ cạp nhẹ chúng thôi, chuẩn không chê vào đâu được."
Con chó thay đổi biết bao. Đôi mắt nó lấp lánh, cái tai bị đạn xé rách của nó bay phần phật, nó cảnh giác chạy xung quanh đàn cừu, và tôi thấy nó vô cùng phấn khích.
"Tôi mua con này ngay lập tức," người chăn cừu tuyên bố. "Con chó của tôi không thể làm tốt hơn nó. Anh hãy xem nó lùa cả đàn về làng thế nào! Nó chẳng cần học gì thêm nữa."
Tôi không biêt chuyện gì đang xảy ra với tôi.
"Sói!" tôi gọi. "Sói!" và tôi có thể phát khóc ngay được khi nhìn thấy nó như thế. Nó lớn lên dưới bom đạn, và bây giờ, chẳng cần ai dạy dỗ, nó tự biết rõ công việc của mình là gì.
Một trăm mark tiền mặt và một con cừu mổ sẵn," người chăn cừu trả giá.
Tôi lắc đầu. "Một triệu mark cũng không bán, ông bạn," tôi đáp.
Giờ đến luợt nguời chăn cừu lắc đầu.
Những nhành thạch thảo cứng cọ vào mặt tôi. Tôi gạt chúng sang bên và nằm gác đầu lên hai cánh tay. Con chó thở nhẹ bên cạnh tôi, và xa xa vọng lại tiếng lục lạc leng keng từ bầy gia súc. Ngoài ra hoàn toàn yên tĩnh.
Mây trôi chầm chậm qua bầu trời chiều. Mặt trời lặn dần. Những bụi cây đỗ tùng màu xanh đậm chuyển sang màu nâu sẫm, và tôi có thể cảm thấy làn gió đêm nhẹ nhàng bay lên từ những khu rừng phía xa. Một giờ nữa, gió sẽ thổi đến rừng bạch duơng. Thiên nhiên cũng gần gũi với người lính như với người nông dân và người gác rừng, vì họ đều không sống trong nhà, họ biết thời gian của những cơn gió và của làn sương màu nâu đỏ trong những tối mù sương, họ quen với những cái bóng lắc lư trên mặt đất khi ánh sáng bị chìm lấp trong mây, và họ thuộc nằm lòng quỹ đạo của mặt trăng.
Nhớ lần ở Flandern, sau một trận pháo kích dữ dội, một thương binh đã phải đợi rất lâu mới được ứng cứu. Chúng tôi đã dùng tất cả các gói băng cứu thương và làm hết sức để quấn và băng bó cho cậu ta, nhưng máu vẫn tiếp tục xối ra, và cậu ta cứ thế mất máu. Trong suốt thời gian đó, đằng sau cậu ta có một đám mây khổng lồ trên bầu trời lúc xế chiều, một đám mây duy nhất, nhưng nó là cả một ngọn núi được tạo bởi sắc trắng vàng ròng và ánh hào quang đỏ rực. Siêu thực và tuyệt đẹp đám mây lơ lửng sau cái nền nâu u uẩn của khung cảnh hoang tàn vì bom đạn. Đám mây đứng im lìm và tỏa sáng, còn anh lính hấp hối nằm im lìm và chảy máu, cứ như thể họ thuộc về nhau nhưng tôi vẫn không hiểu nổi sao đám mây có thể đứng lộng lẫy và vô tình đến vậy, trong khi một con người đang chết dần.
Những tia sáng cuối cùng của mặt trời tô lên thảo nguyên một màu đỏ sẫm. Những con chim te te ai oán vỗ cánh bay lên. Một con diệc cất tiếng kêu từ phía những hồ nước. Tôi đăm đăm nhìn khắp đồng bằng bao la màu tím nâu. Ở Houthoulst có một chỗ các đồng cỏ mọc đầy hoa anh túc, nhiều đến nỗi chúng đỏ rực một màu. Chúng tôi gọi chúng là những đồng cỏ máu, vì trong cơn dông chúng có màu hơi nhờ nhờ như máu vừa chảy vẫn còn tươi. Trong một đêm sáng trăng, Köhler đã hóa điên khi chúng tôi phờ phạc và mệt mỏi hành quân ngang qua đó. Dưới ánh trăng mờ ảo, cậu ta cứ ngỡ đó là những cái hồ máu và muốn nhảy xuống...
Tôi rùng mình và ngước nhìn lên. Thế này nghĩa là sao? Vì sao giờ đây những ký ức này cứ thường xuyên trở lại? Và chúng kỳ lạ lắm, khác hẳn những gì ngoài mặt trận? Hay vì tôi ở một mình quá nhiều?
Sói cựa quậy bên cạnh tôi và khẽ sủa giọng choi chói trong giấc ngủ.
Liệu nó có mơ thấy đàn cừu? Tôi nhìn nó hồi lâu. Rồi tôi đánh thức nó dậy và chúng tôi quay về.
Thứ bảy. Tôi đến chỗ Willy hỏi xem chủ nhật cậu ta có muốn đi với tôi vào thành phố không. Tuy nhiên, cậu ta gạt phăng ý nghĩ đó đi.
"Ngày mai ở đây sẽ có một con ngỗng nhồi," cậu ta nói, "tớ không đời nào bỏ qua nó. Mà tại sao cậu lại muốn đi?"
"Tớ không thể cứ luẩn quẩn à đây vào chủ nhật được." tôi nói.
“Tớ không hiểu, ở đây được săn sóc tốt thế còn gì!"
Tôi đi tàu một mình. Buổi tối, tôi đi đến quán Waldmann với một hy vọng mơ hồ. Ở đây cực kỳ náo nhiệt. Tôi đứng láng cháng một lúc, mặt ngó nghiêng. Rất nhiều chàng trai trẻ, những người tuổi vừa đủ để thoát tham gia cuộc chiến tranh, lượn lờ quanh sàn nhảy. Họ tự tin và biết họ muốn gì, thế giới của họ có một khởi đầu rõ ràng và một mục tiêu rõ ràng: sự thành công. Họ sẵn sàng hơn chúng tôi nhiều, mặc dù họ trẻ hơn.
Tôi phát hiện trong đám người đang khiêu vũ cô thợ may nhỏ nhắn duyên dáng, người đã cùng tôi giành giải điệu nhảy one-step. Tôi mời cô nhảy một bài valse, và sau đó chúng tôi ở lại bên nhau. Mấy hôm trước tôi mới nhận lương, nên lúc này tôi mua vài chai rượu vang đỏ ngọt ngào.
Chúng tôi uống từ từ, và càng uống, tôi càng cảm nhận một nỗi buồn kỳ lạ.
Albert đã từng nói gì nhỉ? Cần có một người, một người thuộc về mình.
Tôi trầm ngâm lắng nghe câu chuyện phiếm của cô gái, còn cô ríu rít như một con chim én kể về đồng nghiệp, về tiền công may đồ lót, về những điệu nhảy mới và cả ngàn những chuyện linh tinh khác. Cô sẽ rất hài lòng nếu công may mỗi món đồ lót được tăng thêm hai mươi xu, như thế cô có thể đi nhà hàng ăn trưa. Tôi ghen tị với cuộc sống đơn giản, rõ ràng của cô và cứ hỏi cô mãi. Tôi muốn hỏi từng người đang cười và vui vẻ ở đây, xem họ sống ra sao. Biết đâu lại gặp đúng người có thể kể tôi nghe điều gì đó giúp được tôi.
Sau đó tôi tiễn Chim Én nhỏ về nhà. Cô sống trên tầng áp mái của một khu nhà cho thuê xám xỉn. Chúng tôi dừng lại ngoài cổng. Tôi cảm nhận hơi ấm của bàn tay cô trong tay mình. Gương mặt cô sáng mờ trong bóng tối. Một gương mặt người, một bàn tay, trong đó là hơi ấm và cuộcốống. "Cho anh đi lên cùng nhé," tôi nói vội vàng, "cho anh lên cùng với..."
Chúng tôi thận trọng nhón bước đi lên cầu thang cọt kẹt. Tôi đánh một que diêm, nhưng cô thổi tắt nó ngay, nắm lấy tay tôi và kéo tôi theo sau.
Một căn phòng hẹp. Một cái bàn, một cái ghế sofa màu nâu một cái giường, một vài bức ảnh trên tường, máy may trong góc phòng, một con ma nơ canh tết bằng lau sậy, và một giỏ đồ lót trắng đang may dở.
Cô gái nhỏ nhanh nhẹn mang ra một cái bếp cồn và đun trà từ vỏ táo với lá trà đã pha qua mười nước sau đó lại được sấy khô. Hai tách trà, một gương mặt nhỏ tươi cười hơi tinh nghịch, một chiếc váy xinh màu xanh lơ đến nao lòng, sự nghèo khó thân thiện của căn phòng, và Chim Én nhỏ với tài sản duy nhất của cô là tuổi trẻ... Tôi ngồi xuống ghế sofa. Tình yêu bắt đầu như thế này sao? Dễ dàng và như một trò chơi? Hẳn người ta phải nhảy qua chính mình thôi.
Chim Én đáng yêu, hẳn việc ai đó đến ôm cô vào lòng rồi sau đó bỏ đi cũng thuộc về cuộc sống nhỏ của cô; cái máy may quay ro ro, người khác lại đến, Chim Én cười, Chim Én khóc và rồi lại may, may mãi... Cô phủ một tấm chăn nhỏ sặc sỡ lên cái máy may, biến nó từ một công cụ làm việc bằng sắt thép thành một đồi hoa lụa xanh đỏ. Cô không muốn gợi nhớ đến ban ngày, cô nép mình trong vòng tay tôi và trò chuyện, cô khẽ ngân nga và lẩm bẩm và hát trong tấm váy mỏng của mình, cô rất mảnh khảnh và nhợt nhạt, hơi thiếu ăn một chút, và nhẹ đến nỗi dễ dàng bế cô sang giường, một cái giường sắt dã chiến, vẻ mặt cô thật ngọt ngào khi dâng hiến, khi cô bám vào cổ tôi, khi cô thở dài và mỉm cười, một đứa trẻ với đôi mắt nhắm nghiền, cô thở dài và run rẩy, và lắp bắp gì đó, cô hít thở sâu và kêu lên khe khẽ, tôi nhìn cô, tôi nhìn cô không rời mắt, tôi cũng muốn được như vậy và im lặng tự hỏi: là đây sao... là đây sao?... rồi sau đó Chim Én gọi tôi bằng đủ những cái tên mỹ miều, và e thẹn, và dịu dàng nép sát vào tôi, rồi khi tôi hỏi trước khi ra về: "Em có thấy hạnh phúc không, Chim Én?" thì cô hôn tôi nhiều lần, nhăn mặt, vẫy tay và gật đầu, gật gật đầu...
Còn tôi đi xuống cầu thang, lòng đầy ngạc nhiên. Cô ấy hạnh phúc...
sao lại nhanh nhu thế. Tôi không hiểu. Chẳng phải cô ấy vẫn cứ là một con người khác, có một cuộc sống riêng, cuộc sống mà tôi không bao giờ có thể thâm nhập vào hay sao? Chẳng phải cô ấy vẫn cứ sẽ nguyên như vậy, ngay cả nếu tôi có tất cả sự cháy bỏng của tình yêu? Ôi, tình yêu... một ngọn đuốc rơi xuống vực thẳm chỉ để soi thấy vực sâu đến thế nào.
Tôi đi qua các đường phố, về phía ga xe lửa. Không, không phải là nó, vẫn không phải. Càng thấy cô đơn hơn bao giờ hết...