Đường Về

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii.

❊ ❊ ❊

Vòng tròn ánh sáng đèn rọi xuống mặt bàn. Trước mắt tôi là chồng vở màu xanh. Lọ mực đỏ nằm bên cạnh. Tôi lần lượt xem từng cuốn vở, gạch dưới các lỗi, kẹp tờ giấy thấm vào và gập cuốn vở lại.

Rồi tôi đứng dậy. Cuộc sống là thế này sao? Là cái sự đều đều tẻ ngắt từng ngày từng giờ này? Về cơ bản chẳng lấp đầy được bao nhiêu! Vẫn còn quá nhiều thời gian để nghĩ ngợi. Tôi đã hy vọng nhịp sống đều đặn sẽ làm mình tĩnh tâm lại. Vậy mà nó chỉ làm tôi thêm bồn chồn. Những buổi tối ở đây sao mà dài đến vậy!

Tôi đi qua hành lang nông trại. Những con bò thở phì phì và giậm vó trong bóng tối nhập nhoạng. Mấy cô hầu gái ngồi trên những chiếc ghế đẩu thấp bên cạnh chúng để vắt sữa. Mỗi cô ngồi riêng rẽ cứ như trong một căn buồng nhỏ, mà vách tường hai bên là những thân bò khoang đen tạo thành. Những ngọn đèn nhỏ nhấp nháy phía trên họ trong khu chuồng ấm áp mờ hơi, những dòng sữa mảnh phun vào những cái xô, và ngực các cô gái cũng đung đưa dưới lần váy yếm màu xanh. Họ ngẩng đầu lên, mỉm cười và hít thở, phô ra hàm răng trắng khỏe mạnh. Mắt họ lấp lánh trong bóng tối. Mùi cỏ khô và gia súc nồng nồng.

Tôi đứng ở cửa một lúc, rồi quay về phòng. Những cuốn vở màu xanh năm dưóỉ cái đèn. Chúng vẫn sẽ luôn nằm đó... Phải chăng tôi cũng sẽ ngồi đây mãi cho đến già và cuối cùng là chết?

Tôi muốn đi ngủ. Mặt trăng màu đỏ từ từ trôi qua nóc kho chứa cỏ, in bóng cửa sổ lên sàn nhà, một hình chữ nhật xiên xiên với chữ thập bên trong, càng nhích lên cao càng không ngừng biến đổi. Sau một giờ, nó trườn lên giường tôi, và cái bóng chữ thập bò lên ngực tôi. Tôi nằm trên một cái giường nông dân lớn, nệm vải kẻ ca rô xanh đỏ, và không sao ngủ được. Thi thoảng hai mắt tôi díp lại, tôi chìm nhanh vào một không gian vô tận... nhưng cứ vào khoảnh khắc cuối cùng thì một nỗi sợ hãi đột ngột trỗi dậy lại lôi tôi về trạng thái tỉnh, và tôi tiếp tục nghe tiếng chuông đồng hồ nhà thờ điểm từng giờ, tôi lắng nghe, chờ đợi và thao thức trằn trọc.

Cuối cùng tôi đành trở dậy, mặc lại quần áo. Rồi tôi trèo ra ngoài cửa sổ, kéo con chó theo sau, chạy ra thảo nguyên. Trăng sáng, gió ù ù bên tai và thảo nguyên trải rộng bao la. Con đường sắt cắt ngang qua bóng tối.

Tôi ngồi dưới một bụi cây đỗ tùng. Lát sau tôi thấy những dây đèn hiệu đường sắt bừng sáng lên. Chuyến tàu đêm đang đến. Đường ray bắt đầu khe khẽ rít lên tiếng kim loại. Các đèn pha của đầu máy xe lửa nhấp nháy ở phía chân trời, đuổi theo làn sóng ánh sáng phía trước nó. Đoàn tàu lướt qua với những ô cửa sổ sáng đèn, trong một khoảnh khắc các khoang tàu với những chiếc va li và những số phận thật là gần, sau đó chúng tiếp tục lao đi, những thanh ray lại sáng lấp lánh trong màn đêm ẩm ướt, và từ xa chỉ thấy ngọn đèn màu đỏ ở cuối con tàu như một con mắt lửa đang trừng trừng dọa dẫm.

Tôi thấy mặt trăng sáng hơn và chuyển màu vàng, tôi đi xuyên qua bóng đêm nhập nhoạng màu xanh lam, những giọt nước mưa từ trên các tán cây rơi xuống cổ tôi, tôi vấp vào rễ cây và những hòn đá, và khi tôi quay về thì ban mai đã xam xám màu chì. Đèn trong phòng vẫn sáng... Tôi tuyệt vọng nhìn quanh căn phòng... Không, tôi không thể chịu nổi, phải già hơn hai mươi tuổi nữa may ra tôi mới chấp nhận cuộc sống này.

Mệt mỏi và kiệt sức, tôi cố cởi quần áo. Tôi không cởi nổi. Nhưng khi ngủ thiếp đi, tôi vẫn siết chặt hai nắm tay... Tôi không muốn buông xuôi...

Tôi vẫn không muốn đầu hàng... Sau đó, tôi lại chìm nhanh vào một không gian vô tận và thận trọng trườn lên phía trước. Chậm chạp, nhích từng xen ti mét. Mặt trời thiêu đốt các triền đồi vàng rực nở đầy hoa kim tước, không khí nóng và yên ả, những quả khinh khí cầu và những đám khói trắng của đạn cao xạ lửng lơ nơi chân trời. Trước mũ sắt của tôi phất phơ những cái cánh màu đỏ của một bông hoa anh túc.

Có tiếng lạo xạo rất khẽ, gần như không nghe thấy từ sau bụi cây đối diện. Rồi lại yên ắng. Tôi chờ đợi. Một con cánh cam màu xanh lá cây óng ánh đang leo lên nhành cúc trước mặt tôi. Hai cọng râu dò dẫm những chiếc lá răng cưa. Lại một tiếng động nhẹ thổi qua buổi trưa yên tĩnh. Giờ đây một vành mũ sắt nhô ra từ sau bụi cây. Bên dưói là một vầng trán, cặp mắt sáng, cái miệng mím chặt... Đôi mắt săm soi lướt qua toàn bộ khung cảnh rồi trở lại trên cuốn sổ trắng. Người đàn ông mải ký họa nông trang phía trước, không mảy may biết đến sự có mặt của tôi.

Tôi rút quả lựu đạn ra. Loay hoay mất một lúc. Cuối cùng nó đã nằm canh tôi. Tôi rút chốt bằng tay trái và đếm thầm. Rồi tôi quăng nó bay thẳng vào bụi cây mâm xôi và nhanh chóng tụt trở xuống cái hố của mình, ép người sát xuống đất, chúi mặt vào đám cỏ và há hốc miệng.

Tiếng nổ xé toang bầu không khí, mảnh lựu đạn rít trong không trung, một tiếng thét rống lên, kéo dài, điên dại vì kinh hoàng. Tôi cầm sẵn quả lựu đạn thứ hai trong tay và từ trong chỗ nấp ghé mắt nhìn ra. Tay lính người Anh giờ đang nằm tênh hênh trên mặt đất, hai bắp chân đã bị tiện bay, máu tuôn xối xả. Hắn ta nằm sấp, dải xà cạp xoắn dài phía sau như cuộn băng buộc lỏng bị tuột, hai cánh tay khua loạn xị như đang bơi trong đám cỏ, miệng ngoác to la hét.

Hắn lăn lộn và nhìn thấy tôi. Chống tay, rướn người lên như một con hải cẩu, hắn gào lên với tôi và máu vẫn tiếp tục tuôn... Sau đó gương mặt đang đỏ tía dần tái đi và co rúm lại, ánh nhìn vỡ vụn, mắt và miệng chỉ còn là những cái hốc đen ngòm của một gương mặt đang phân hủy, từ từ chúi xuống đất, gục chìm vào trong bụi cúc. Xong việc.

Tôi nhoai người lên và toan bò về chiến hào của chúng tôi. Nhưng tôi ngoái lại lần nữa... thì người chết đột nhiên sống lại, hăn nhỏm dậy như muốn đuổi theo... Tôi rút chốt quả lựu đạn thư hai và ném thẳng vào hắn.

Quả lựu đạn rơi xuống cách hắn một mét, lăn sang bên, nằm lại... Tôi đếm và đếm... Sao nó không nổ? Lúc này xác chết đã đứng dậy, nhe răng ra, tôi ném quả lựu đạn tiếp theo... cũng không nổ... Giờ đây hắn đã bước được vài bước, bước đi trên hai cái chân cụt, cười nhăn nhở giơ tay về phía tôi...

Tôi ném quả lựu đạn cuối cùng... Nó bay trúng ngực hắn, nhưng hắn gạt phăng đi... Thế là tôi nhỏm người dậy để chạy trốn, nhưng hai đầu gối không chịu nghe tôi, chúng mềm nhũn như bơ, vô cùng chậm chạp tôi kéo lê chúng về phía trước, người tôi cứ dính chặt vào đất, tôi lê lết, cố nhoài mình về phía trước, đã nghe tiếng thở hồng hộc của kẻ truy đuổi, tôi đưa cả hai tay kéo đôi chân tê bại của mình... Nhưng từ phía sau hai bàn tay đã nắm lấy cổ tôi, ghì tôi ngửa ra sau, rồi xác chết quỳ trên ngực tôi, kéo dây xà cạp lòng thòng ra khỏi bãi cỏ và quấn quanh cổ tôi. Tôi cố né đầu đi, căng mọi cơ bắp lên, vật người qua bên phải để thoát khỏi thòng lọng... Thì đây, một cú giật, một cơn đau nghẹt thở ở cổ, và xác chết kéo lết tôi đi, đến bên miệng hố vôi, hắn đẩy tôi lăn xuống. Tôi mất thăng bằng và cố bám lại, rồi trượt, rơi tự do, la hét, không ngừng rơi, la hét, va đập, la hét...

Bóng tối bị nghiền vỡ thành từng tảng dưới đôi tay cào bới của tôi có gì đó rơi lách cách nhẹ xuống bên cạnh, tôi va vào đá những góc nhọn, sắt, tiếng thét không thể kìm nén bật ra từ trong tôi, nghe chói tai, tôi không thể dừng nó lại, có những tiếng gọi xen vào, ai đó túm hai cánh tay tôi, tôi hất ra, ai đó vấp lên người tôi, tôi chộp được một khẩu súng trường, mò được chỗ nấp, kê vào vai, bóp cò súng, miệng vẫn la hét, rồi một tiếng gọi sắc như mũi dao đâm xuyên qua mớ bòng bong...

"Birkholz"... rồi lại... "Birkholz"... Tôi nhảy lên, tiếp viện đến rồi đây, tôi phải vượt qua vòng vây, tôi xông ra khỏi chỗ nấp cắm đầu chạy, bị một cú nện vào đầu gối, ngã nhào vào môt cái hố êm, ngập trong ánh sáng, ánh sáng chói gắt, nhấp nháy "Birkholz"... "Birkholz"... Chỉ còn tiếng hét của tôi vang lên trong phòng... đột nhiên im bặt... trước mặt tôi là ông chủ nông trại và bà vợ. Tôi nằm nửa trên giường, nửa dưới đất, một anh đầy tớ đang hì hụi nâng tôi dậy, tay tôi nắm khư khư một cây gậy như khẩu súng, tôi chắc mẩm mình đang bị chảy máu chỗ nào đó, nhưng rồi nhận ra chỉ là con chó đang liếm tay mình.

"Thầy giáo," bà chủ nhà run rẩy hỏi, "cậu làm sao vậy?"

Tôi không hiểu gì cả. "Sao cháu lại ở đây?" tôi hỏi bằng giọng khàn khàn.

"Kìa thầy giáo... tỉnh lại đi... cậu ngủ mơ rồi."

"Mơ sao..." tôi nói, "cháu ngủ mơ thật sao?"

Và tôi bỗng phá lên cười, cười rung cả người, cười đến đau bụng, cười...

Nhưng đột nhiên cơn buồn cười trong tôi tắt ngấm.

"Là gã đại úy người Anh..." tôi thì thầm, "chính là cái gã hồi đó...

Anh đầy tớ xoa xoa cánh tay bị cào xước của mình. "Thầy giáo, anh đã mơ ngủ, lăn cả ra khỏi giường," anh ta nói, "anh chẳng nghe thấy gì sất và suýt nữa đã đánh chết tôi."

Tôi không hiểu anh ta nói gì, chỉ cảm thấy vô cùng mệt mỏi và khốn khổ. Rồi tôi nhìn thấy cây gậy trong tay. Tôi bỏ nó ra và ngồi lên giường.

Con chó nép mình vào đầu gối tôi.

"Cho cháu xin một ly nước, mẹ Schomaker," tôi nói, "rồi bác hãy đi ngủ tiếp đi..."

Nhưng chính tôi không nằm lại nữa, mà trùm chăn ngồi lì bên bàn.

Tôi để đèn sáng.

Tôi ngồi như vậy rất lâu, im lặng, mắt nhìn trống rỗng, chỉ những người lính mới có thể ngồi như thế khi họ ở một mình. Một lúc sau tôi bắt đầu lo lắng và cảm giác như có ai đó trong phòng. Tôi cảm nhận khả năng nhìn và thấy đang trở lại với đôi mắt mình một cách chậm chạp, chẳng cần tôi phải cố gắng. Khi tôi nhướn mi mắt lên một chút, tôi thấy mình đang ngồi đối diện cái gương treo trên bồn rửa mặt nhỏ. Từ mặt hơi gương hơi lượn sóng, một khuôn mặt với đầy bóng đen và hai hốc mắt tối sẫm đang chăm chắm nhìn tôi. Khuôn mặt của tôi…

Tôi đứng dậy, tháo gương xuống và đặt nó trong góc phòng quay mặt kính vào tường.

Trời sáng. Tôi đi bộ đến lớp. Bọn trẻ đã khoanh tay ngồi ngay ngắn ở đó. Trong những đôi mắt to tròn của chúng vẫn nguyên vẹn vẻ ngạc nhiên rụt rè của tuổi thơ. Chúng nhìn tôi thật tin cậy và tôn sùng, đến nỗi tôi bỗng cảm thấy đau nhói trong tim.

Tôi đứng đây trước các em, là một trong hàng trăm ngàn những kẻ lụn bại, những kẻ đã bị chiến tranh phá nát mọi niềm tin và gần như toàn bộ sức mạnh... Tôi đứng đây trước các em và cảm thấy các em nhiều sức sống và gắn kết với cuộc đời hơn tôi biết bao... Tôi đứng đây trước các em, là thầy giáo, là người dìu dắt các em. Tôi nên dạy các em cái gì đây? Tôi có nên nói với các em rằng hai mươi năm nữa các em sẽ trở nên khô căn và què quặt, cằn cỗi trong những bản năng tự do nhất và bị ép vào khuôn mẫu một cách không thương tiếc như một mặt hàng sản xuất hàng loạt?

Tôi có nên kể với các em rằng mọi thứ giáo dục, mọi thứ văn hóa và khoa học chẳng là gì ngoài một sự nhạo báng khủng khiếp, chừng nào con người vẫn còn nhân danh Chúa và nhân loại tiến hành các cuộc chiến tranh bằng hơi độc, sắt thép, thuốc súng và lửa? Tôi nên dạy các em cái gì đây, các em nhưng tạo vật bé bỏng, các em, những người duy nhất còn trong sạch trong những năm tháng đáng sợ này?

Tôi có thể dạy cho các em cái gì đây? Nói cho các em biết cách rút chốt lựu đạn và quăng vào những người khác chăng? Chỉ cho các em cách đâm người bằng luỡi lê, đập chết nguời bằng báng súng, xẻ đôi người bằng xẻng chăng? Tôi có nên làm mẫu cho các em cách chĩa nòng súng vào một tạo vật tuyệt vời như một lồng ngực đang thở, một lá phổi đang phập phồng, một trái tim đang đập? Tôi có nên giải thích cho các em thế nào là liệt vì uốn ván, là tủy sống đứt lìa, là hộp sọ vỡ toác? Tôi có nên tả cho các em óc bắn tung tóe, xuơng tan từng mảnh, ruột lòi cả đống trông như thế nào? Tôi có nên mô phỏng cho các em tiếng nguời rên rỉ khi đạn bắn lủng bụng, khò khè hớp hơi khi phổi bị trúng thuơng, và rít lên khi đạn xuyên vào đầu? Tôi không biết gì hơn! Tôi không được học gì hơn!

Tôi có nên dẫn các em đến bên tấm bản đồ màu lá cây và xám xịt kia, lướt ngón tay trên đó và nói với các em rằng chính tại nơi đây tình yêu đã bị giết chết? Tôi có nên giải thích cho các em rằng những cuốn sách các em đang cầm trong tay kia chính là những tấm luới mà nguời ta giăng ra để nhử những tâm hồn trong trắng của các em vào bụi rậm của những ngôn từ sáo rỗng và hàng rào thép gai của những khái niệm giả tạo?

Tôi đứng đây trước các em, một kẻ bị vấy bẩn, đầy tội lỗi, và chỉ xin các em: hãy cứ là mình như các em lúc này, đừng để ánh sáng ấm áp của tuổi thơ bị lạm dụng trở thành ngọn lửa độc ác của thù hận! Trên vầng trán của các em vẫn phủ ánh sáng của sự trắng trong... làm sao tôi có thể đang tâm dạy dỗ các em chứ! Phía sau tôi những bóng ma đẫm máu của quá khứ vẫn đang săn đuổi... làm sao tôi lại dám đứng giữa các em? Chẳng phải trước tiên tôi cần trở lại làm nguời đã hay sao?

Tôi cảm thấy một cơn co thắt lan tỏa bên trong, tuởng như tôi đang hóa đá và sẽ vỡ vụn ra từng mảnh. Tôi từ từ buông mình xuống ghế và hiểu rằng mình không thể ở lại đây thêm nữa. Tôi cố nắm bắt một cái gì đó, nhưng tôi không thể. Phải một lúc sau, mà đối với tôi duờng như dài vô tận, cảm giác tê cứng mới mất đi. Tôi đứng dậy. "Các em," tôi nói một cách khó khăn, "các em có thể ra về. Hôm nay nghỉ học."

Lũ trẻ nhìn tôi, xem liệu tôi có đùa không. Tôi gật đầu lần nữa. "Phải, thật đây... hôm nay hãy đi chơi đi... chơi cả ngày... vào rừng mà chơi... hoặc chơi với lũ chó mèo của các em... ngày mai các em mới cần quay lại trường..."

Thế là bọn trẻ ném ào ào hộp bút vào ba lô, ríu rít nhốn nháo chen nhau chạy ra ngoài, vội đến không kịp thở.

Tôi đóng gói đồ đạc của mình rồi đi sang làng bên để chào tạm biệt Willy. Cậu ta mặc áo cộc tay, tựa lưng vào cửa sổ, đang tập kéo đàn vĩ cầm bài Tất cả tươi mới bởi mùa xuân. Trên bàn là bữa ăn sáng thịnh soạn.

"Bữa thứ ba của tớ ngày hôm nay đấy," cậu ta mãn nguyện tuyên bố.

"Tớ phát hiện mình có thể chén đẫy để dự trữ như một con lạc đà."

Tôi nói với cậu ta rằng tôi muốn đi khỏi đây tối nay. Willy không phải loại người hay hỏi nhiều.

"Tớ muốn nói với cậu điều này, Ernst," cậu ta trầm tư bảo. "Ở đây đúng là nhàm chán... nhưng chừng nào tớ còn được nuôi ăn như vậy," cậu ta chỉ bàn thức ăn, "thì đến mười con ngựa cũng không kéo nổi tớ ra khỏi cái chuồng Pestalozzi[1] này đâu."

Nói đoạn cậu ta lôi từ dưới gầm ghế sofa ra một thùng bia.

"Nguồn sức mạnh!" cậu ta mỉm cười và giơ nhãn bia lên soi dưới ánh đèn.

Tôi nhìn cậu ta hồi lâu. "Chà, Willy à, tớ ước giá mình cũng được như cậu!" sau đó tôi thốt lên.

"Tớ cũng nghĩ vậy," cậu ta cười mỉm và bật một cái nút chai.

Khi tôi đi ra ga, có hai bé gái miệng còn dính đồ ăn, bím tóc thắt nơ phấp phới chạy đến từ ngôi nhà bên cạnh. Chúng vừa chôn một con chuột chũi chết ở trong vườn và cầu nguyện cho nó. Lúc này chúng nhún chân chào và bắt tay tôi. Tạm biệt thầy giáo ạ!"

1. Johann Heinrich Pestalozzi (1746 - 1827) là nhà giáo dục người Thụy Sĩ.

(N. D. )

phát hành: Đông A Ngày xuất bản: 05/2017 Số hóa: tudonald78 TVE-4u.org
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.