Một phát súng đã bắn ra, một viên gạch đã rơi xuống môt bàn tay đen tối đã len vào giữa chúng tôi. Chúng tôi chạy trốn khỏi một cái bóng, nhưng chúng tôi chỉ chạy trong một vòng tròn, và cái bóng đã đuổi kịp chúng tôi.
Chúng tôi đã hò hét và tìm kiếm, chúng tôi đã trở nên rắn rỏi và dâng hiến, chúng tôi đã cúi xuống và nhảy chồm lên đã lạc lối và đã bước tiếp...
nhưng chúng tôi vẫn luôn cảm thấy cái bóng đeo bám sau gáy và muốn thoát khỏi nó. Chúng tôi cứ tin là nó đuổi theo mình... không biết rằng chính mình đã tha nó theo, rằng chúng tôi ở đâu nó cũng âm thầm ở đó...
rằng không phải nó ở phía sau, mà ở bên trong chứng tôi... ở trong chính chúng tôi.
Chúng tôi muốn xây những ngôi nhà, khao khát những khu vườn và những hàng hiên, vì chúng tôi muốn ngắm biển và cảm nhận làn gió...
nhưng chúng tôi không nhận thức được rằng ngôi nhà cần có móng.
Chúng tôi giống như những cánh đồng nham nhở hố đạn bị ruồng bỏ ở Pháp... Chúng cũng yên ả như những cánh đồng xung quanh, nhưng trong lòng chúng vẫn chứa đầy mìn chưa nổ... và việc cày bừa vẫn đầy rủi ro nguy hiểm cho đến khi mìn được đào lên và dọn sạch đi.
Chúng tôi vẫn là những người lính, dù không biết điều đó. Giá như tuổi trẻ của Albert trôi qua bình yên và không có sự đổ vỡ, thì có lẽ cậu ấy đã được lớn lên cùng rất nhiều những thứ ấm áp và thân thiết, những thứ có thể giữ gìn và bảo vệ cậu ấy. Nhưng tất cả đều đã tan vỡ, cậu ấy chẳng còn gì khi trở về... Toàn bộ tuổi trẻ bị xô đẩy của cậu ấy, những khao khát bị dồn nén của cậu ấy và nhu cầu có một mái ấm và sự dịu dàng đã khiến cậu ấy mù quáng lao đến với người đó, người mà cậu ấy tin rằng mình yêu. Để rồi khi mọi thứ sụp đổ, cậu ấy chẳng biết làm gì hơn là bắn... Vì ngoài bắn cậu ấy đâu có học được gì khác. Nếu không phải Albert đã từng là lính, có thể cậu ấy đã có nhiều con đường khác. Nhưng khoảnh khắc kia cậu ấy chẳng hề run tay... đã nhiều năm nay cậu ấy quen bắn trúng đích.
Trong Albert — cậu bé mơ mộng, trong Albert — người tình nhút nhát, vẫn luôn còn có Albert - người lính.
Người mẹ già mặt đầy nếp nhăn không hiểu nổi chuyện đã xảy ra.
"Làm sao nó có thể làm điều đó? Nó luôn là một đứa trẻ hiền lành!" Những dải băng trên mũ của bà run rẩy, chiếc khăn tay run rẩy, tấm vải đen che mặt run rẩy... Toàn bộ con người bà là một khối đau buồn duy nhất đang run rẩy. "Có thể chuyện đó đã xảy ra vì nó không còn cha. Nó chỉ mới lên bốn khi cha nó qua đời. Nhưng nó luôn là một đứa trẻ rất hiền lành, ngoan ngoãn..."
"Cậu ấy bây giờ vẫn thế, thưa bác Troßke," tôi nói. Bà bám vào đó và bắt đầu kể lể về thời thơ ấu của Albert. Bà phải nói, bà không chịu đựng thêm được nữa, những người hàng xóm đã đến đây, những người quen, cả hai giáo viên nữa, tất cả đều không sao hiểu nổi...
"Họ chỉ cần ngậm miệng của họ lại," tôi nói. "Tất cả bọn họ đều có lỗi."
Bà ngây người nhìn tôi không hiểu. Nhưng sau đó bà tiếp tục kể lể Albert đã tập đi như thế nào, rằng cậu ấy không bao giờ quấy khóc như những đứa trẻ khác, rằng cậu ấy gần như là một thằng bé quá hiền lành...
Thế mà bây giờ lại gây ra chuyện đó. Sao nó có thể làm vậy?
Tôi ngạc nhiên nhìn bà. Bà không biết chút gì về Albert. Có thể cũng hệt như mẹ tôi đối với tôi. Các bà mẹ có lẽ chỉ có thể yêu, đó là sự hiểu biết duy nhất của họ về con cái.
"Bác nghĩ mà xem, bác TroBke," tôi nói nhẹ nhàng, "Albert đã từng ở chiến trường."
"Đúng," bà trả lời. "Đúng... đúng..." nhưng bà không nắm được mối liên hệ. "Cái ông Bartscher đó chắc là một người xấu?" sau đó bà khẽ hỏi.
"Hắn là một tên vô lại," tôi xác nhận ngay chẳng cần suy nghĩ, vì tôi không nghi ngờ gì điều đó.
Bà gật đầu trong nước mắt. "Nếu không, tôi cũng không hình dung nổi vì sao chuyện đó xảy ra. Đến một con ruồi nó cũng chưa bao giờ làm hại. Hans hay vặt cánh của chúng, nhưng Albert thì không bao giờ. Bây giờ liệu họ sẽ làm gì nó đây?"
"Cậu ấy sẽ không thể bị kết án nặng đâu bác," tôi an ủi bà. "Cậu ấy đã bị kích động mạnh, và chuyện đó gần như là tự vệ."
"Ơn Chúa," bà thở dài, "vậy mà ông thợ may ở tầng trên nhà tôi lại bảo rằng nó sẽ bị tử hình."
"Lão thợ may bị điên," tôi đáp.
"Phải, ông ta còn nói Albert là một kẻ sát nhân," bà bật khóc. "Nó không phải là kẻ sát nhân, không bao giờ, không và không bao giờ!"
"Để con giải quyết lão thợ may này," tôi tức giận tuyên bố.
"Tôi không dám ra khỏi nhà nữa," bà nức nở, "ông ta luôn đứng ngay đó."
"Con sẽ đưa mẹ về, mẹ Troßke," tôi nói.
Chúng tôi về đến nhà bà.
"Ông ta lại đứng đó," bà già sợ hãi thì thầm, chỉ tay về phía cửa nhà.
Tôi căng người ra. Nếu lão ta dám nói một lời, tôi sẽ nghiền lão ta thành bột nhão, dẫu tôi có phải ngồi tù mười năm vì thế. Nhưng lão ta đã tránh đường cho chúng tôi, giống như hai mụ đàn bà ngồi lê đôi mách đang hóng hót với lão.
Vào nhà, mẹ Albert còn cho tôi xem một tấm ảnh thời niên thiếu của cậu ấy và Hans. Bà lại bắt đầu khóc, nhưng dường như xấu hổ nên ngừng lại ngay. Ở điểm này các bà già giống trẻ con: nước mắt tuôn ra rất nhanh, nhưng chúng cũng khô đi rất nhanh. Trong hành lang, bà hỏi tôi: "Liệu nó có được ăn đủ no không?"
''Chắc chắn đủ ạ!" tôi nói, ''Karl Bröger sẽ lo việc đó. Cậu ấy có thể kiếm được đủ thứ."
"Tôi vẫn còn một ít bánh rán tẩm đường mà nó rất thích. Liệu tôi có thể mang vào cho nó không nhỉ?"
"Bác cứ thử xem," tôi đáp. "Và nếu bác được phép gặp, bác chỉ cần nói với cậu ấy: Albert, mẹ biết con không có tội. Không cần nói gì thêm nữa."
Bà gật đầu. "Có lẽ tôi đã không chăm lo cho nó đầy đủ. Nhưng Hans đã mất cả hai bàn chân..."
Tôi an ủi bà.
"Thằng bé tội nghiệp," bà nói, "giờ nó ngồi trong đó thui thủi một mình..."
Tôi chìa tay chào bà. "Bây giờ con sẽ nói chuyện phải quấy với lão thợ may. Từ giờ trở đi lão sẽ để bác được yên.”
Lão ta vẫn còn đứng ở trước cửa nhà. Một cái mặt tiêu tư sản phèn phẹt, ngu si. Lão ta liếc nhìn tôi hiểm ác, mồm miệng đã sẵn sàng đơm đặt chuyện sau lưng tôi. Tôi túm áo lão ta: Đồ dê đực đáng nguyền rủa, nếu ông còn dám mở miệng dù chỉ một lời với bà lão trên kia, tôi sẽ băm vụn ông ra từng mảnh! Ông hãy nhớ kỹ lấy, đồ thợ khâu giẻ rách, đồ đàn bà ngồi lê đôi mách thối tha!" Tôi lắc lão ta như lắc một bao giẻ rách và đẩy lão ta đập lưng vào tay nắm cửa. "Tôi sẽ lại đến, tôi sẽ bẻ gãy xương ông, đồ quái thai thảm hại, đồ dê đực khốn kiếp chỉ giỏi kêu be be!" Cùng lúc tôi giáng cho lão ta mỗi bên má trái và phải một cái tát cực mạnh.
Tôi đã bỏ đi khá xa mới nghe tiếng lão ta gào lên sau lưng- "Tôi sẽ đưa việc này ra tòa! Anh sẽ phải bồi thường ít nhất một trăm mark". Tôi xoay người và đi về phía lão. Lão ta vội lủi mất.
Georg Rahe, nhem nhuốc và phờ phạc vì thiếu ngủ, ngồi trong phòng Ludwig. Cậu ta đã đọc được tin về Albert trên báo và lập tức phi đến đây.
"Bọn mình cần phải lôi cậu ấy ra," cậu ta nói. Ludwig nhìn lên.
"Chỉ cần bọn mình có dăm thằng sáng dạ và một chiếc ô tô," Rahe tiếp tục, "nhất định sẽ thành công. Thời điểm tốt nhất là khi cậu ấy được chuyển đến phòng xử án. Cả bọn nhảy vào giữa đám dẫn giải, gây náo loạn, rồi thừa cơ hai thằng chạy cùng Albert ra xe."
Ludwig lắng nghe giây lát. Đoạn cậu ấy lắc đầu. "Không được đâu, Georg. Bọn mình sẽ chỉ làm hại Albert nếu thất bại. Thế này ít nhất cậu ấy cũng hy vọng sẽ có được một mức án vừa phải. Chuyện cậu vừa nêu là chuyện quá nhỏ... tớ sẵn sàng tham gia ngay... Nhưng còn Albert... bọn mình sẽ không lôi được Albert theo. Cậu ấy không muốn trốn."
"Vậy thì bọn mình phải dùng vũ lực để ép cậu ấy," một lúc sau Rahe tuyên bố. "Cậu ấy phải được cứu ra... cho dù tớ phải bỏ mạng vì vụ này..."
Ludwig không nói năng gì.
"Tớ cũng nghĩ rằng việc này sẽ chẳng đi đến đâu, Georg, tôi nói.
"Thậm chí nếu bọn mình có đưa Albert ra khỏi đó, cậu ấy cũng sẽ quay trở lại ngay lập tức. Cậu ấy đã suýt bắn Willy khi Willy định kéo cậu ấy bỏ trốn."
Rahe ngả đâu vào hai bàn tay bắt chéo sau gáy. Ludwig trông xám ngoét và hốc hác. "Tớ nghĩ tất cả bọn mình đều thành đồ bỏ rồi," cậu ấy thất vọng nói. Không ai trả lời. Căn phòng như chết lặng trong bầu không khí trầm mặc và lo âu...
Sau đó tôi còn ngồi một mình rất lâu bên Ludwig. Cậu ấy ngả đầu vào hai bàn tay bắt chéo sau gáy. "Tất cả đều vô ích, Ernst. Bọn mình đã kiệt quệ, còn thế giới vẫn đi tiếp, cứ như chiến tranh chưa từng xảy ra.
Chẳng bao lâu nữa, những đứa kế tục bọn mình ngồi trên ghế nhà trường sẽ lắng nghe các câu chuyện về chiến tranh với những cặp mắt háo hức và mơ ước giá chúng nó cũng từng có mặt ở đó, chỉ vì muốn thoát khỏi sự nhàm chán của trường học. Ngay bây giờ chúng cũng đã chạy đến những quân đoàn tình nguyện rồi đấy... Chưa tròn mười bảy tuổi mà đã thực hiện những vụ ám sát chính trị. Tớ mệt mỏi quá, Ernst ạ..."
"Ludwig..." tôi ngồi xuống bên cạnh và choàng tay lên đôi vai gầy của cậu ấy.
Ludwig mỉm cười héo hắt. Sau đó, cậu ấy khẽ nói: "Hồi đó, trước chiến tranh, tớ đã có một mối tình học trò, Ernst ạ. Mấy tuần trước tớ đã gặp lại cô gái đó. Tớ thấy hình như cô ấy còn xinh đẹp hơn xưa. Cảm giác như thuở học trò sống lại trong lòng mình. Sau đó chúng tớ gặp gỡ nhau thường xuyên hơn... Và đột nhiên tớ cảm thấy..." cậu ấy gục đầu xuống mặt bàn. Khi cậu ấy ngước nhìn lên, đôi mắt của cậu ấy đờ dại vì đau khổ.
"Cảm thấy rằng tất cả không còn dành cho tớ nữa, Ernst... Tớ đang bị bệnh mà." Ludwig đứng dậy và mở cửa sổ. Bên ngoài là màn đêm ấm áp đầy sao.
Tôi buồn bã nhìn đăm đăm phía trước mặt. Ludwig nhìn ra ngoài rất lâu. Sau đó cậu ấy quay lại: "Cậu có nhớ bọn mình cầm một cuốn sách của Eichendorff đi lang thang trong rừng hằng đêm thế nào không?"
"Có chứ, Ludwig," tôi vội đáp, vui mừng vì cậu ấy đã nhảy sang những ý nghĩ khác, "hồi đó là cuối hè. Có một lần lang thang trong rừng bọn mình còn bắt được một con nhím."
Gương mặt cậu ấy dãn ra. "Và bọn mình đã tin rằng đó là cuộc phiêu lưu với những cỗ xe ngựa chở thư, với kèn thợ săn và những ngôi sao. Cậu có nhớ bọn mình còn muốn bỏ chạy sang nước Ý thế nào không?"
"Có, nhưng cỗ xe ngựa chở thư lẽ ra phải đón bọn mình lại không đến. Mà đi xe lửa thì bọn mình không có tiền."
Gương mặt Ludwig sáng hẳn lên, trông gần như huyền ảo, vô cùng trong trẻo.
"Rồi bọn mình đã đọc Werther[1]..." cậu ấy nói.
"Và đã uống rượu vang..." tôi nhắc thêm.
Cậu ấy mỉm cười. "Và đã đọc Heinrich xanh[2] nữa... Cậu nhớ bọn mình đã thì thầm về Judith như thế nào chứ?"
1.
Nỗi đau của chàng Werther (1774) là tiểu thuyết nổi tiếng của văn hào Đức Johann Wolfgang von Goethe viết về câu chuyện tình bi thảm và tuyệt vọng của chàng thanh niên Werther.
2.
Heinrich xanh (1985) là tiểu thuyết tự truyện của nhà văn Thụy Sĩ Gottfried Keller (1819-1890) viết về cuộc đời của Heinrich Lee.
Tôi gật đầu. "Nhưng sau đó cậu lại thích Hölderlin hơn tất cả các nhân vật khác..."
Một sự bình yên lạ lùng đến với Ludwig. Cậu ấy nói khẽ và dịu dàng: "Hồi đó bọn mình đã có những dự đinh tốt đẹp biết bao, bọn mình đã muốn trở thành những con người cao quý và tử tế. Vậy mà rồi bọn mình lại trở thành những con chó thực sự đáng thương, Ernst..."
"Ừ," tôi nói trầm ngâm, "tất cả những thứ đó biến đâu hết rồi..."
Chúng tôi đứng bên nhau, tựa vào bệ cửa sổ. Gió mắc kẹt trong những tán cây anh đào. Một ngôi sao băng vụt qua. Đồng hồ điểm mười hai giờ đêm "Bọn mình nên đi ngủ thôi " ngủ ngon, Ernst..."
Ludwig chìa tay cho tôi. "Chúc ngủ ngon, Ernst…”
"Ngủ ngon nhé, Ludwig."
Giữa đêm khuya có người đập thình thình lên cửa phòng tôi. Tôi hoảng hốt chồm dậy. "Ai đó?"
"Tớ, Karl đây! Mở cửa mau!"
Tôi nhảy ra khỏi giường. Cậu ta lao vào; "Ludwig…"
Tôi túm cậu ta kéo về phía mình: "Ludwig làm sao?"
"Chết rồi..."
Căn phòng quay cuồng. Tôi ngã vật xuống giường.
"Gọi bác sĩ!"
Karl phang một cái ghế xuống mặt đất khiến nó gãy tan.
"Chết rồi, Ernst... cắt động mạch cổ tay.
Tôi không biết tôi đã mặc đồ ra sao. Tôi không biết làm cách nào tôi đã đến được đó. Đột nhiên căn phòng này ở đây, ánh đèn chói mắt, máu, những lấp lánh và nhấp nháy không thể chịu nổi của thạch anh và đá màu, và phía trước chúng, trong chiếc ghế bành là một thân hình vô cùng mệt mỏi, gầy gò, co quắp, một khuôn mặt nhọn hoắt, nhợt nhạt khủng khiêp với đôi mắt vô hồn khép hờ...
Tôi không biết chuyện gì đang xảy ra. Mẹ cậu ấy ở đây, Karl ở đây, tiếng ồn ào ở đây, ai đó đang nói với tôi, tôi hiểu, hãy ở lại đây, tôi nhận thức được, họ muốn gọi ai đó đên, tôi gật đầu, tôi ngồi bó gối trên ghế sofa, các cánh cửa cọt kẹt, tôi không thể nhúc nhích, tôi không thể nói được, đột nhiên tôi chỉ còn một mình với Ludwig và nhìn cậu ấy...
Karl là người cuối cùng ở chỗ cậu ấy. Cậu ta thấy Ludwig có vẻ trầm lặng và gần như vui vẻ. Khi Karl đi khỏi, Ludvvig đã sắp xếp gọn gàng vài thứ đồ của mình và đã ngồi viết một lúc lâu. Sau đó, cậu ấy kéo một chiếc ghế đến bên cửa sổ và đặt một chậu nước ấm lên trên bàn bên cạnh. Cậu ấy đã khóa cửa lại, ngồi xuống ghế và cắt động mạch của mình trong nước.
Cơn đau khá nhẹ. Cậu ấy nhìn thấy dòng máu, một hình ảnh mà cậu ấy thường nghĩ tới: xả hết dòng máu hận thù, nhiễm độc này ra khỏi cơ thể.
Căn phòng của cậu ấy trở nên rất rõ ràng. Cậu ấy nhìn thấy từng cuốn sách, từng cái đinh, từng ánh phản chiếu của bộ sưu tập đá, sặc sỡ, đầy màu sắc, cậu ấy cảm nhận: căn phòng của mình đây. Nó thấm vào cậu ấy, đã đi vào trong hơi thở của cậu ấy và lớn lên cùng với cậu ấy. Rồi nó lại lui ra xa hơn. Không rõ ràng. Tuổi trẻ của cậu ấy bắt đầu bằng những hình ảnh. Eichendorff, những cánh rừng, nỗi nhớ nhà. Hòa giải, không còn đau đớn. Đằng sau những cánh rừng nhô lên hàng rào dây thép gai, những đám mây trắng của đạn trái phá, những tiếng nổ của tạc đạn hạng nặng.
Nhưng những tiếng nổ không còn làm cậu ấy sợ nữa. Chúng đã lịm dần, gần giống như những tiếng chuông. Những tiếng chuông mạnh hơn, nhưng những cánh rừng vẫn còn nguyên đó. Tiếng chuông réo trong đầu cậu ấy, vang to đến nỗi tưởng như đầu cậu ấy sắp nổ tung. Mọi vật cũng tối dần. Rồi tiếng chuông nhỏ đi, và đêm đã tràn vào qua cửa sổ, những đám mây trôi đến gần, ngay dưới chân cậu ấy. Cậu ấy đã rất muốn nhìn thấy chim hồng hạc một lần trong đời, bây giờ cậu ấy đã biết: những con chim này là hồng hạc, với đôi cánh rộng màu xám hồng, rất nhiều con, một đoàn hình mũi tên... Chẳng phải đàn vịt trời cũng đã bay thành hình mũi tên dưới vầng trăng đỏ rực, đỏ như hoa anh túc ở Flandern hay sao?...
Quang cảnh trải rộng ra, rộng mãi, những khu rừng chìm sâu hơn, những dòng sông lấp lánh ánh bạc nổi lên và những hòn đảo, những đôi cánh màu xám hồng bay cao hơn nữa, và chân trời mỗi lúc một hừng sáng. Và biển... Đột nhiên một tiếng thét màu đen trào lên nóng bỏng trong cổ họng, một ý nghĩ cuối cùng bật ra từ não tràn vào tâm thức đang lụi dần: sợ hãi, cứu, băng bó… Cậu ấy cố lảo đảo đứng dậy, giơ cao tay lên toàn thân giật giật, nhưng cậu ấy đã quá yếu. Thứ gì đó quay vòng quay vòng, rồi biến mất, và con chim khổng lồ với đôi cánh tối sẫm hết sức nhẹ nhàng bay tới với nhịp vỗ cánh rất chậm rồi lặng lẽ phủ đôi cánh lên cậu ấy.
Một bàn tay đẩy tôi đi. Mọi người lại ở đây, họ chạm vào Ludwig, tôi kéo kẻ đầu tiên ra, không ai được đụng vào cậu ấy, nhưng rồi trước mắt tôi gương mặt cậu ấy bỗng trở nên rất sáng và lanh lẽo, nó đã biến đổi, khắc khổ, xa lạ... Tôi không nhận ra cậu ấy nữa và loạng choạng lùi lại, bỏ ra ngoài.
Tôi không biết đã làm thế nào về được đến phòng mình. Đầu óc tôi trống rỗng, hai cánh tay rã rời thõng trên tay vịn của ghế.
Ludwig, tớ không muốn nữa. Tớ cũng không muốn nữa. Tớ còn ở đây làm gì? Tất cả bọn mình đúng là không thuộc về nơi này nữa. Đã bị đốn gốc, bị thiêu rụi, mệt mỏi... Sao cậu lại bỏ đi một mình? Tôi đứng lên.
Hai bàn tay tôi nóng ran. Đôi mắt nóng rực. Tôi cảm thấy mình đang bị sốt.
Những ý nghĩ rối bời trong đầu. Tôi không biết mình đang làm gì. Hãy đón tớ đi, tôi thì thầm, "hãy đón tớ đi cùng!"
Răng tôi gõ lập cập vì lạnh. Hai bàn tay đẫm mồ hôi. Tôi lảo đảo chúi về phía trước. Những vòng tròn lớn màu đen lung linh trước mắt tôi.
Đột nhiên người tôi đông cứng lại. Không phải cánh cửa đang tự mở ra đó chứ? Cửa sổ chưa cài chốt hay sao? Tôi rùng mình ớn lạnh. Qua cánh cửa mở phòng tôi, tôi nhìn thấy trong ánh trăng cái áo khoác lính cũ của tôi treo trên tường bên canh cây đàn vĩ cầm. Tôi thận trọng đi tới đó, nhón gót, để nó không nghe thấy, tôi rón rén lẻn về phía cái áo màu xám này, thứ đã đập tan tất cả tuổi trẻ và cuộc sống của chúng tôi... Tôi giật nó xuống và muốn ném đi, nhưng đột nhiên tôi lại vuốt ve nó mặc nó vào người, tôi cảm thấy như nó đang chiếm hữu tôi thông qua làn da, tôi run rẩy, trái tim đập điên cuồng lên tận cổ họng... Rồi một âm thanh vang lên như tiếng chuông xé tan sự yên lặng, tôi giật mình quay lại, tôi hoảng sợ, và đầy kinh hoàng, tôi ép mình sát vào tường...
Bởi vì có một bóng ma đang đứng trong ánh sáng nhờ nhờ của cánh cửa mở. Nó lảo đảo và đu đưa, nó đến gần, vẫy tay, một hình hài hiện lên, một gương mặt với hai hốc mắt tối thui, ở giữa hở ra một khe rộng hoác, là cái miệng, nói không thành tiếng... phải chăng là... "Walter..." tôi thì thầm, Walter Willenbrock, hy sinh tháng tám năm mười bảy tại Paschendaele...
Tôi đang điên sao? Tôi đang mơ? Tôi đang ốm?... Nhưng phía sau nó lại một cái bóng khác tiến vào, tái nhợt, vẹo vọ, cúi gập; Friedrich Tomberge, bị một mảnh đạn pháo phá nát lưng ở Soissons khi anh đang ngồi trên bậc thang của hầm trú ẩn... Giờ thì họ đang chen nhau tiến vào, với những đôi mắt chết, xám xịt và ma quái, cả một đám đông những bóng ma, họ đã trở lại và lấp đầy căn phòng: Franz Kemmerich, mới mười tám tuổi, phải cưa chân và đã chết ba ngày sau đó. Stanislaus Katczinsky, với bàn chân kéo lê và cái đầu gục xuống, từ đó dòng máu tối sẫm chảy ra... Gerhard Feldkamp, bị xé tan thây vì mìn gần Ypern, Paul Bäumer, ngã xuống vào tháng mười năm 1918, Heinrich Weßling, Anton Heinzmann, Haie Westhus, Otto Matthes, Franz Wagner... Bóng ma, bóng ma, cả một đoàn dài, một hàng dài bất tận... chúng lướt vào, chúng ngồi trên những cuốn sách, chúng trèo lên cửa sổ, chúng lấp đầy căn phòng...
Nhưng đột nhiên sự sợ hãi và kinh ngạc trong tôi tan biến bởi một bóng đen mạnh hơn đã từ từ trồi lên, nó trườn qua cửa, hai cánh tay chống dưới đất, nó đang hồi sinh, xương mọc ra cơ thể kéo lê phía sau, hàm răng sáng trắng như phấn trên gương mặt đen sì, đôi mắt giờ đã lấp lánh sáng trong các hốc tối... Giật cục như một con hải cẩu, nó lết vào, nhằm thẳng đến chỗ tôi... viên đại úy người Anh... đám dây xà cạp xổ ra sột soạt kéo lê sau lưng anh ta. Với một cú chồm nhẹ anh ta quăng người lên cao và vung móng vuốt về phía tôi... "Ludwig! Ludwig!" tôi hét lên, "Cứu tớ, Ludwig!"
Tôi chộp lấy đống sách và ném chúng vào đôi tay đang xỉa tới. "Lựu đạn đâu, Ludwig!" tôi rên rỉ, bứng cái bể cá cảnh từ trên bệ và quăng ra cửa, nó rơi xuống vỡ tan... nhưng bóng ma chỉ nhe răng và tiến lại gần hơn, rồi tôi ném tiếp hộp sưu tập bướm, cây đàn vĩ cầm, tôi nắm lấy một chiếc ghế và phang vào bộ mặt đang nhăn nhở cười, tôi hét lên: ” Ludwig!
Ludwig!"... Tôi xông bừa vào nó, tôi lao qua cửa, tiếng ghế gãy răng rắc, tôi cắm cổ chạy khỏi nhà, tiếng la hét sau lưng tôi, những tiêng kêu đầy sợ hãi... nhưng tiếng thở khò khè to hơn, gần hơn đang đuổi theo tôi, tôi lao vút xuống cầu thang... nó ầm ầm phía sau tôi, tôi đã ra đến ngoài phố, tôi cảm thấy hơi thở tham lam của nó trên gáy mình, tôi chạy, nhà cửa nghiêng ngả. ” Cứu! Cứu!" Những quảng trường, những hàng cây, một cái móng vuốt trên vai tôi, nó đã tóm được tôi, tôi gào thét, khóc rú, vấp ngã, những bộ quân phục, những nắm đấm, cơn giận, những ánh chớp và tiếng rầm trầm đục của những lưỡi rìu đánh tôi ngã xuống đất...