Chúng tôi ăn bánh khoai tây với trứng và xúc xích — một bữa ăn tuyệt vời. Gân hai năm đã trôi qua kể từ lần cuối cùng tôi nhìn thây một quả trứng, chứ đừng nói đến bánh khoai tây.
Giờ đây chúng tôi ngồi no nê và thoải mái quanh cái bàn lớn trong phòng khách, nhâm nhi cà phê hạt sồi với đường. Ngọn đèn cháy sáng, con chim hoàng yến hót líu lo, thậm chí lò sưởi cũng ấm, và con Sói nằm ngủ dưới gầm bàn. Thật không thể tuyệt hơn.
"Giờ con hãy kể cho cả nhà nghe tất cả những gì con đã trải nghiệm đi Ernst," cha tôi nói.
"Trải nghiệm sao..." tôi nhắc lại và ngẫm nghĩ, "thật ra con hoàn toàn không có trải nghiệm gì. Chiến tranh liên miên mà, có gì để trải nghiệm ở đấy ạ?"
Cho dù nghĩ nát óc, tôi cũng chẳng nghĩ ra chuyện gì để kể. Chuyện chiến trường thì không nói với thường dân được rồi, còn ngoài chuyện trận mạc tôi có biết gì khác nữa đâu.
"Mọi người ở nhà đã nếm trải nhiều chuyện hơn con là cái chắc," tôi nói như để xin lỗi.
Mà đúng thế. Các em gái tôi kể chuyện chúng đã kiếm đồ ăn cho bữa tối hôm nay vất vả thế nào. Hai lần chúng bị hiến binh ở các nhà ga tịch thu sạch. Lần thứ ba chúng đã khâu trứng vào lớp lót của áo măng tô, nhét xúc xích vào trong áo, còn khoai tây thì giấu trong chiếc túi treo dưới váy. Thế là chúng thoát.
Tôi nghe chúng có phần lơ đãng. Chúng đã lớn lên, kể tù lúc tôi nhìn thấy chúng lần cuối cùng. Có lẽ hồi đó tôi không để ý lắm, nên bây giờ điều đó càng đập vào mắt. Ilse hẳn dã hơn muời bảy tuổi. Thời gian trôi mau thật!
"Con biết tin ông cố vấn chính phủ Pleister chết rồi chứ?" cha tôi hỏi.
Tôi lắc đầu. "Bao giờ thế ạ?"
"Dạo tháng bảy. Khoảng ngày hai mươi gì đó..."
Ấm nước trên bếp lò bắt đầu réo. Tôi nghịch nghịch cái rìa khăn trải bàn. Thế đấy, trong tháng bảy, tôi nghĩ, trong tháng bảy... trong năm ngày cuối tháng bảy chúng tôi đã mất ba mươi sáu người. Vậy mà tôi dường như không còn nhớ nổi tên của ba người trong số họ, quá nhiều người đã chết sau đó nữa.
"Chuyện gì đã xảy ra với ông ấy vậy?" tôi hỏi, hơi buồn ngủ vì sự ấm áp không quen trong phòng, "bị dính mảnh pháo hay trúng đạn ạ?"
Kìa Ernst," cha tôi ngạc nhiên đáp, "ông ấy đâu phải là lính! Ông ấy bị viêm phổi."
"À vâng," tôi nói và ngồi thẳng lại trên ghế, "cũng có người chết vì thế nữa thật."
Mọi người kể tiếp về tất cả những gì đã xảy ra kể từ lần nghỉ phép cuối cùng của tôi. Ông chủ cửa hàng thịt ở góc phố bị mấy người đàn bà đói ăn đánh cho thừa sống thiếu chết. Có một lần, hồi cuối tháng tám, mỗi gia đình đã được phát cho hẳn nửa cân cá. Con chó của bác sĩ Knott bị bắt trộm, hình như là để nấu làm xà phòng. Cô Mentrup đã sinh một em bé.
Khoai tây lại tăng giá. Tuần sau ở chỗ lò mổ có thể người ta sẽ bán xương.
Tháng trước chị con gái thứ hai của dì Grete đã kết hôn, cưới một đại úy kỵ binh hẳn hoi...
Bên ngoài mưa tí tách gõ vào kính cửa sổ. Tôi so vai. Kỳ lạ khi ta lại được ngồi trong một căn phòng. Kỳ lạ khi ta được ở nhà...
Đang nói, em gái tôi bỗng im bặt. "Anh hoàn toàn chẳng nghe gì cả, Ernst," nó ngạc nhiên bảo.
Đâu có, anh đang nghe mà," tôi khẳng định và vội tập trung vào câu chuyện, "một đại úy kỵ binh, tất nhiên rồi, chị ấy cưới một đại úy ky binh."
"Vâng, anh tưởng tượng xem, chị ấy cực may mắn," em gái tôi say sưa kể tiếp, "trong khi khắp mặt chị ấy đầy những nốt tàn nhang! Anh nói sao nào?"
Tôi có thể nói gì? Nếu một đại úy kỵ binh xơi một viên đạn vào đầu, thì ngài cũng hồn lìa khỏi xác như bất kỳ kẻ nào khác.
Người nhà tôi tiếp tục gẫu chuyện, nhưng tôi không sao tập trung được những ý nghĩ của mình. Chúng luôn luôn tản mác.
Tôi đứng dậy và nhìn ra cửa sổ. Vài cái quần lót phơi trên dây, xam xám, đung đưa trễ nải trong bóng hoàng hôn. Cái nhá nhem chập chờn của sương khói nhợt nhạt trước mắt tôi kia cứ chấp chới — và bỗng nhiên phía sau nó, xa xa và ma quái, hiện lên một hình ảnh khác — những bộ đồ lót đung đưa, một chiếc kèn harmonica đơn côi giữa trời chiều, một cuộc hành quân trong ánh sáng nhập nhoạng — và rất nhiều xác chết da đen trong những chiếc măng tô xanh lam bạc màu, với những đôi môi rách nát và những cặp mắt ngầu máu: bị trúng hơi ngạt. Hình ảnh đó vô cùng rõ ràng trong một khoảnh khắc, rồi nhòa đi và biến mất. Những chiếc quần lót lại đu đưa trên dây, màn sương khói nhợt nhạt lại vẫn đó, và tôi lại cảm nhận căn phòng phía sau lưng mình, nơi có cha mẹ, hơi ấm và sự chở che. Qua cả rồi, tôi nhẹ nhõm nghĩ và nhanh chóng rời khỏi cửa sổ.
"Sao con cứ nhấp nhổm thế, Ernst?" cha tôi hỏi. "Con chưa ngồi yên nổi lấy mười lăm phút."
"Có lẽ nó quá mệt," mẹ tôi phỏng đoán.
"Không ạ," tôi trả lời có chút bối rối và cũng gắng nghĩ xem tại sao, "không phải thế đâu ạ. Nhưng con gần như tin rằng mình không còn có thể ngồi lâu trên một chiếc ghế. Ở mặt trận chúng con không có ghế, chúng con lăn lê khắp nơi, bạ đâu ngồi đấy. Đơn giản là con không quen ngồi ghế nữa.”
"Kỳ cục nhỉ,” cha tôi nói.
Tôi nhún vai. Mẹ tôi mỉm cười. "Con đã vào phòng mình chưa?" bà hỏi.
"Chưa ạ," tôi đáp và đi lên gác. Tim tôi đập mạnh khi tôi mở cửa và hít thấy mùi sách trong bóng tối. Tôi vội vã bật đèn. Rồi tôi nhìn xung quanh.
"Mọi thứ vẫn y nguyên như trước," em gái tôi nói sau lưng.
"Phải, phải rồi," tôi đáp lấy lệ, vì lúc này tôi muốn được ở một mình hơn. Nhưng cả nhà cũng đã kéo nhau lên. Mọi người đứng ở cửa, nhìn tôi khích lệ. Tôi ngồi xuống chiếc ghế bành và đặt hai tay lên mặt bàn. Nó nhẵn nhụi và mát lạnh. Đúng, mọi thứ vẫn như cũ. Thậm chí vẫn còn đây cái chặn giấy bằng đá cẩm thạch màu nâu mà Karl Vogt đã tặng tôi. Nó vẫn nằm nguyên chỗ của mình trước kia, giữa chiếc la bàn và lọ mực.
Nhưng Karl Vogt thì đã ngã xuống ở Kemmel.
"Anh không thích phòng anh nữa à?" em gái tôi hỏi.
"Thích chứ,” tôi lưỡng lự đáp, "nhưng sao nó nhỏ quá..”
Cha tôi cười. "Trước nay nó vẫn thế mà."
"Dạ đúng,” tôi thừa nhận, "nhưng con cứ ngỡ là nó rộng hơn nhiều..."
"Đã quá lâu rồi con không ở đây, Ernst," mẹ tôi nói.
Tôi gật đầu.
"Đừng để ý cái giường," mẹ tôi tiếp, "mẹ còn chưa kịp thay drap."
Tôi mò mẫm trong túi quần. Adolf Bethke đã tặng tôi một gói xì gà lúc chia tay. Giờ tôi phải hút một điếu. Mọi thứ xung quanh sao mà chống chếnh, khiến tôi như bị chóng mặt. Tôi hít một hơi khói thật sâu vào phổi và cảm thấy đã khá hơn.
“Con hút xì gà sao?" cha tôi ngạc nhiên hỏi, giọng gần như trách móc.
Tôi thắc mắc nhìn ông. "Dĩ nhiên ạ," tôi đáp, "đấy là trong khẩu phần của lính ngoài mặt trận; mỗi ngày bọn con được ba bốn điếu. Cha cũng thử một điếu nhé?"
Cha tôi lắc lắc đầu và cầm một điếu xì gà. "Trước kia con hầu như có hút thuốc đâu."
"Vâng, đó là trước kia..." tôi nói và không thể không cười cha tôi, vì ông quá nghiêm trọng hóa vấn đề. Giá như trước kia hẳn tôi đã không cho phép mình cười cha. Nhưng sự kính nể với những người lớn tuổi hơn đã biến mất trong các chiến hào. Nơi đó ai cũng như ai.
Tôi liếc trộm đồng hồ. Mới chỉ ở nhà vài giờ nhưng tôi có cảm giác mấy tuần đã trôi qua kể từ khi chia tay Willy và Ludwig. Điều tôi muốn nhất lúc này là chạy ngay tới chỗ họ, bởi tôi vẫn chưa thể hình dung từ nay tôi sẽ mãi mãi ở lại bên gia đình, và tôi vẫn có cảm giác biết đâu ngày mai, ngày kia, hoặc một ngày nào đó chúng tôi sẽ lại hành quân, vai kề vai, chửi thề, quy phục, nhưng sát cánh bên nhau...
Cuối cùng tôi đứng dậy đi ra hành lang lấy áo khoác.
"Tối nay con không định ở lại với cả nhà à?" mẹ tôi hỏi.
"Con còn phải trình diện ở doanh trại ạ," tôi nói, vì có bộc bạch lý do kia mẹ cũng làm sao hiểu được.
Bà đi với tôi ra cầu thang. "Đợi đã," bà nói, "ở đây tối lắm, để mẹ đi lấy cái đèn..."
Tôi ngạc nhiên dừng lại. Đèn ư? Để đi có vài bậc thang sao? Trời ạ, tôi, cái thằng đã nhiều đêm ròng rã mò mẫm dưới bão hỏa lực để vượt qua bao hố pháo lầy lội, bao con đường bị đạn cày nát, mà bây giờ lại cần đèn để soi mấy bậc cầu thang sao?
Ôi, mẹ ơi là mẹ!... Nhưng tôi kiên nhẫn chờ cho tới khi mẹ tôi mang đèn ra soi đường cho tôi, và tôi cảm giác như được mẹ vuốt ve trong bóng tối.
"Cẩn thận nhé, Ernst, đừng để chuyện gì xảy ra với con ở bên ngoài đấy," mẹ tôi dặn với theo.
"Chuyện gì có thể xảy ra với con ở đây, giữa quê nhà và trong hòa bình được chứ, mẹ?" tôi mỉm cười nói và ngước nhìn bà.
Bà cúi người qua lan can. Ánh sáng vàng từ chụp đèn hắt lên gương mặt nhỏ, đầy vết nhăn của bà. Phía sau lưng bà, bóng tối và ánh sáng hư ảo lướt trên hành lang. Và bỗng nhiên có gì đó xao động trong tôi, một cảm xúc kỳ lạ xâm chiếm tôi, gan như một nỗi đau — như thể trên thế gian chẳng có gì khác ngoài gương mặt này, như thể tôi lại là một đứa trẻ cần được soi đèn khi đi trên cầu thang, một cậu bé có thể gặp chuyện không hay ngoài phố, và mọi thứ khác nữa giữa ma quỷ và giấc mơ...
Nhưng ánh đèn bắt đầu rọi đúng khóa thắt lưng của tôi, lóe ánh sáng phản chiếu. Giây phút xao lòng tan biến, tôi không phải là một đứa trẻ, tôi đang khoác trên mình một bộ quân phục. Vội vã, tôi nhảy xuống cầu thang, cứ ba bậc một, và đẩy cánh cửa đi ra, nóng lòng đến chỗ các đồng đội của mình.
Người đầu tiên tôi ghé thăm là Albert Troßke. Mắt mẹ cậu ấy đỏ hoe vì khóc nhiều, nhưng chuyện đó là đương nhiên trong một ngày như hôm nay và không có gì đáng ngại. Nhưng Albert cũng không còn như trước, cậu ấy ngồi bên bàn, ủ rũ như một con chó xù mắc mưa. Ngồi bên cạnh Albert là người anh trai. Đã lâu tôi không gặp anh, chỉ biết rằng anh đã từng nằm trong quân y viện. Anh béo lên, hai má căng đẹp, hồng hào.
“Chào Hans, anh khỏe lại rồi," tôi vui vẻ nói. "Anh thế nào? Ổn chứ?
Đứng trên hai chân vẫn tốt hơn nằm dưỡng thương, hả?"
Anh làu bàu gì đó không rõ. Bà Trßke nấc lên và đi ra khỏi phòng.
Albert lừ mắt ra hiệu cho tôi. Tôi không hiểu, ngơ ngác ngó quanh. Rồi tôi trông thấy đôi nạng bên cạnh ghế của Hans.
"Vẫn chưa khỏi hẳn sao anh?" tôi hỏi.
"Rồi chứ," anh đáp, "vừa mới xuất viện tuần trước."
Anh với lấy cái nạng, tì vào chúng và đu hai bước đến chỗ bếp lò. Cả hai bàn chân anh không còn. Bên phải có bộ phận bằng sắt làm giá đỡ, bên trái đã được lắp chân giả đi giày.
Tôi xấu hổ vì cách nói năng ngu ngốc của mình. "Em đã không biết chuyện, anh Hans," tôi nói.
Anh gật đầu. Hai bàn chân anh bị đóng băng ở vùng Karpat, sau đó bị hoại tử, và cuối cùng người ta đành cưa bỏ chúng.
"Ơn Chúa, chỉ bị ở bàn chân!" bà Troßke đã mang lại một cái gối và kê nó dưới hai chân giả của anh. "Không sao, Hans, chúng ta sẽ làm được, rồi con sẽ lại tập đi." Bà ngồi xuống bên cạnh con trai và vuốt ve hai bàn tay anh.
"Vâng," tôi nói, cốt cho có chuyện, "ít nhất anh cũng còn lại hai cẳng chân."
"Với tôi thế cũng đủ rồi," anh đáp.
Tôi chìa mời anh một điếu thuốc lá. Biết làm gì trong những khoảnh khắc như vậy. Dẫu có nói gì, ngay với ý tốt nhất, thì tất cả vẫn cứ là thô bạo. Chúng tôi thậm chí cố nói chuyện, gượng gạo và ngắc ngứ, nhưng hễ một trong hai đứa tôi, Albert hoặc tôi, đứng dậy đi qua đi lại, là chúng tôi nhận thấy Hans nhìn theo bàn chân chúng tôi với ánh mắt u ám, đau đớn, và đôi mắt người mẹ cũng dõi theo đúng hướng đó - luôn luôn tìm đến hai bàn chân của chúng tôi... đưa đi đưa lại... Các cậu có đôi bàn chân - tôi thì không...
Có lẽ tạm thời Hans không thể nghĩ đến điều gì khác, và mẹ anh thì chỉ lo cho anh. Bà không nhận ra Albert đang khổ sở vì điều đó. Chỉ trong vài giờ ở nhà mà cậu ấy đã trở nên hoàn toàn nhút nhát.
"Này cậu, bọn mình còn phải đi trình diện đấy," tôi bảo Albert, cốt bày lý do để cậu ấy có thể ra khỏi nhà.
"Ồ phải," cậu ấy vội nói.
Ra ngoài phố, chúng tôi thở phào. Đêm phản chiếu nhẹ nhàng trên những con đường lát đá ướt đẫm. Những ngọn đèn đường bập bùng trong gió. Albert đăm đăm nhìn thẳng phía trước.
"Tớ đâu có thể thay đổi được gì, Ernst," cậu ấy ngập ngừng mở lời, "nhưng khi tớ ngồi giữa họ, khi tớ nhìn anh ấy và mẹ, tớ lại nghĩ là mình có lỗi, và tớ xấu hổ vì mình vẫn còn hai bàn chân. Cảm giác thật khốn nạn vì mình vẫn lành lặn. Giá như ít nhất cánh tay tớ cũng bị trúng đạn, giống như Ludwig, thì có phải sự hiện diện của tó đã không trêu ngươi như thế rồi không..."
Tôi cố gắng an ủi Albert. Nhưng cậu ấy ngoảnh mặt đi. Nói thế nào cũng không thuyết phục nổi cậu ấy, nhưng ít nhất chính tôi thấy trong lòng nhẹ hơn. Cảm giác đó luôn có khi bạn an ủi ai đó.
Chúng tôi đi đến chỗ Willy. Phòng cậu ta cực kỳ lộn xộn. Cái giường bị dỡ ra gác bên tường, cần phải sửa cho giường dài hơn, vì trong thời gian đi lính Willy đã cao hẳn lên, đến mức không còn nằm vừa giường cũ. Búa, cưa và ván gỗ nằm ngổn ngang. Trên một chiếc ghế lấp loáng một liễn salad khoai tây to đùng. Không thấy Willy trong phòng. Mẹ cậu ấy kể rằng cậu ấy đã sang phòng giặt để tắm rửa cả tiếng nay rồi. Chúng tôi đành đợi.
Bà Homeyer quỳ trước ba lô của Willy va lục lọi trong đó. Bà lắc đầu ngao ngán lôi ra vài cái giẻ bẩn thỉu trước kia đã từng là những đôi tất.
"Thủng hết cả thế này," bà lẩm bẩm rồi nhìn Albert và tôi, vẻ không tán thành.
"Hàng thời chiến mà bác," tôi nói và nhún vai.
"Vậy sao, hàng thời chiến hả?" bà giận dữ đáp. "Các cậu thì biết cái gì chứ! Tất len loại một đấy! Tôi đã phải chạy đôn chạy đáo tám ngày trời mới kiếm được chúng. Mà giở chúng đã thành đồ bỏ đi! Thời buổi này đào đâu ra những đói mới nữa," bà buồn phiền nhìn mớ giẻ rách. "Trong chiến tranh chắc các cậu cũng phải đủ thời gian mỗi tuần thay nhanh lấy đôi tất sạch chứ. Lần về phép gần đây nhất, nó cầm theo bốn đôi, giờ chỉ mang về có hai đôi. Mà lại còn như thế này!" bà thò ngón tay qua các lỗ tất thủng.
Tôi vừa toan lên tiếng bênh vực Willy thì chính cậu ta đã đắc thắng xông vào nhà, miệng la toáng lên: "Cái này thiên hạ gọi là cực hên đây! Một tình nguyện viên chui vào nồi! Tối nay sẽ có món thịt gà ngon nhá!"
Tay cậu ta giơ cao một con gà trống béo mầm như giương một ngọn cờ. Những chiếc lông đuôi màu xanh vàng óng ánh, cái mào đỏ bầm, vài giọt máu vẫn còn đọng dưới mỏ. Mặc dù vừa ăn no, nước miếng vẫn tứa ra trong miệng tôi.
Willy hoan hỉ vung vẩy con gà trên tay. Bà Homeyer đứng thẳng dậy và kêu thét lên: "Willy! Con lấy nó ở đâu ra?"
Willy hãnh diện kể rằng cậu ta vừa phát hiện con gà ở đằng sau nhà kho, tóm được và cắt tiết luôn, tất cả chỉ trong hai phút, đoạn vỗ về lưng mẹ. "Chúng con đã học được ngoài mặt trận đấy. Willy của mẹ thật không uổng công từng làm phụ bếp!"
Bà mẹ nhìn cậu con trai như thể nó đã nuốt chửng một quả bom. Rồi bà gọi chồng. Bà bất lực rên lên: "Ông Oskar, ra mà xem con trai ông đã làm gì... Nó đã làm thịt con gà giống của Binding rồi!"
"Sao lại Binding?" Willy thắc mắc.
"Con gà trống là của ông hàng xóm Binding! Ông chủ hiệu bán sữa!
ôi Chúa ơi, sao con lại có thể làm một việc như thế?" bà Homeyer đổ phịch xuống một chiếc ghế.
"Con không đời nào để tuột khỏi tay một món rán ngon như vậy,”
Willy ngạc nhiên nói, "mẹ rõ điều ấy mà."
Đến nước này thì bà Homeyer không thể yên tâm được nữa. "Sẽ có chuyện om sòm đây! Lão Binding này tính nóng như lửa chứ vừa đâu!"
"Thế mẹ cho con là người thế nào?" Willy hỏi, cảm thấy bị xúc phạm nghiêm trọng. "Mẹ tưởng là con đã để dù chỉ một con chuột trông thấy con sao? Con đâu phải là một thằng tập sự! Đây đã là con gà thứ mười con chôm được rồi đấy. Chú gà trống ăn mừng con số chẵn chục! Chúng ta có thể hoàn toàn yên tâm đánh chén, lão Binding ấy chẳng biết tí gì đâu." Cậu ta dịu dàng lúc lắc con gà. "Hãy ngon miệng tao nhé mày! Chúng ta sẽ đem hầm hay rán nó đây?"
"Mày tưởng mẹ sẽ ăn con gà này dù chì một miếng sao?" bà Homeyer điên tiết quát. "Mang trả nó lại ngay!"
"Con còn chưa điên,” Willy tuyên bố.
"Con đã ăn cắp nó,” bà mẹ tuyệt vọng than.
"Ăn cắp?" Willy phá lên cười. "Lại còn thế nữa! Nó đã được trưng dụng! Kiếm được! Nhặt được!... Ăn cắp sao? Nếu ai đó cuỗm tiền đi, mẹ có thể gọi là ăn cắp, nhưng khi người ta vớ được thứ gì đó để chén thì đâu phải là ăn cắp. Nói như mẹ thì chúng con đã ăn cắp nhiều lần rồi, đúng chứ, Ernst?"
"Đương nhiên," tôi nói, "con gà tự chạy đến với cậu đấy chứ, Willy.
Giống con gà của chỉ huy tiểu đoàn hai ở Staden ngày nào ấy. Cậu còn nhớ cậu đã thịt nó và nấu món gà hầm cho cả đại đội không? Một đổi một...
một con gà đổi một con ngựa."
Willy cười hãnh diện và đưa tay lên sờ sờ mặt bếp lò.
"Nguội ngắt,” cậu ta thất vọng nói và quay sang mẹ mình. "Nhà mình không còn than ạ?"
Bà Homeyer quá lo sợ không thốt nên lời. Bà chỉ có thể lắc đầu. Willy phẩy tay đầy thiện chí. "Để mai con sẽ kiếm than luôn. Tạm thời chúng ta có thể dùng cái ghố cũ kỹ này, đằng nào nó cũng chẳng còn giá trị gì."
Bà Homeyer một lần nữa choáng váng nhìn con trai. Đoạn bà giật cái ghế từ trong tay thằng con trước tiên, rồi đến con gà, sau đó bà tong tả đi sang nhà ông hàng sữa Binding.
Willy phẫn nộ thực sự. "Chú gà ra đi và không còn gáy nữa," cậu ta rầu rĩ nói. "Cậu có hiểu chuyện này không, Ernst?"
Dẫu tôi hiểu được chuyện chúng tôi không thể đem cái ghế ra làm củi, cho dù ngoài mặt trận chúng tôi từng đốt nguyên cả một cây đàn dương cầm để nấu nhừ một con ngựa khoang. Tôi có lẽ cũng vẫn hiểu được rằng ở đây, nơi quê nhà, chúng tôi không còn được phép tuân theo sự ngứa ngáy vô thức của đôi tay, dù cho ở ngoài mặt trận, việc kiếm được cái ăn là chuyện may mắn chứ không phải chuyên đạo đức. Nhưng việc một con gà, đằng nào thì cũng đã chết rồi, lại bị mang trả lại cho chủ nhân, mang đến chỗ mà ngay một thằng lính mới tò te cũng thừa biết sẽ chỉ tổ chuốc lấy những rắc rối không đáng có, thì tôi thấy quá ư là ngu ngốc.
"Cứ cái đà này thì bọn mình sẽ chết đói cho mà xem,” Willy kích động nói. "Lẽ ra chỉ nửa giờ nữa thôi là bọn mình đã có món thịt gà ngon nhất trần đời. Tớ đã định nấu nước sốt chanh nữa cơ đấy."
Cậu ta đảo mắt qua lại giữa cái bếp lò và cửa ra vào.
"Tốt nhất là bọn mình biến đi,” tôi đề nghị. "Ở đây chỉ tổ nặng nề thôi.”
Nhưng bà Homeyer đã quay về. "Ông ấy không có nhà,” bà nói không kịp thở, và đang xúc động định nói tiếp thì bà nhận thấy Willy đã mặc áo quần tề chỉnh. Điều đó làm bà quên ngay mọi chuyện. "Con định đi rồi sao?"
"Phải đi tuần tra một lúc, mẹ ạ," cậu ta cười nói.
Bà bắt đầu khóc. Willy ngượng nghịu vỗ vai bà. "Con sẽ quay về mà!
Từ nay chúng con sẽ luôn quay về. Quá thường xuyên là đằng khác, rồi mẹ xem..."
Chúng tôi sải những bước dài đi bên nhau, hai tay đút túi, dọc theo phố Lâu Đài.
“Bọn mình không định rủ Ludwig à?" tôi hỏi.
Willy lắc đầu. "Hãy để cậu ấy ngủ. Sẽ tốt hơn cho cậu ấy."
Thành phố không yên tĩnh. Những chiếc xe tải chở lính thủy lao rầm rầm trên các con phố. Những lá cờ đỏ phấp phới.
Trước tòa thị chính nhiều chồng truyền đơn được dỡ xuống khỏi xe và đem đi phân phát. Đám đông giằng truyền đơn từ tay các thủy thủ vả háo hức đọc lướt các dòng chữ. Mắt họ sáng lên. Một cơn gió thốc vào những chồng truyền đơn và cuốn chúng bay tung lên cao như một đàn bồ câu trắng. Chúng hạ xuống các cành cáy trụi lá và mắc lại đó nghe xào xạc.
"Này những người anh em" một người đàn ông đứng tuổi mặc chiếc áo khoác lính màu xám, đứng cạnh chúng tôi nói, "những người anh em, từ giờ sẽ tốt đẹp hơn." Môi ông ta run run.
“Chết tiệt, có vẻ như sắp xảy ra chuyện lớn rồi," tôi nói.
Chúng tôi rảo bưóc gấp đôi. Càng đến gần nhà thờ, cảnh chen lấn xô đẩy càng dữ dội. Quảng trường đầy người là người. Trên bậc thềm nhà hát, một anh lính đang đứng diễn thuyết. Ánh sáng trắng của một ngọn đèn cacbua lấp lóa trên mặt anh ta. Chúng tôi không thể nghe rõ những gì anh ta nói, vì gió cứ hú lên từng hồi dài, lúc khoan lúc nhặt, và lần nào cũng lùa đến từ nhà thờ tiếng đàn organ tựa một làn sóng gần như nhấn chìm tiếng nói mong manh và ngắt quãng của anh lính.
Một sự căng thẳng mơ hồ, đầy kích động giăng trên quảng trường.
Đám đông đứng như một bức tường thành. Hầu như tất cả đều là binh sĩ.
Nhiều người đứng cùng vợ. Những gương mặt khép kín, câm lặng có cùng một biểu cảm như ở ngoài mặt trận, khi chúng ẩn dưới những chiếc mũ sắt dõi theo kẻ thù. Nhưng giờ đây trong ánh mắt họ bỗng có một thứ khác nữa: đó là linh cảm về một tương lai và hy vọng mơ hồ về một cuộc sống mới.
Những tiếng hô vang lên từ trước nhà hát. Một tiếng gầm trầm đục đáp lại.
"Này các cậu, bắt đầu rồi đây!" Willy phấn khởi nói. Một rừng cánh tay giơ lên. Một làn sóng lan qua đám đông. Những dãy người chuyển động. Một đoàn diễu hành đang hình thành. Những tiếng hét vang lên:
"Tiến lên, anh em ơi!" Như một hơi thở khổng lồ, đại quân rầm rập bước trên quảng trường lát đá! Chúng tôi hòa mình vào, không chút nghĩ suy.
Đi bên phải chúng tôi là anh lính pháo binh. Phía trước là một lính công binh. Nhóm nọ nhập với nhóm kia. Rất ít người biết nhau. Dẫu vậy chúng tôi lập tức kết thân. Lính tráng đâu cần biết gì về nhau. Họ là đồng đội, thế là đủ.
"Nào, Otto, cậu cũng cùng đi chứ!" người lính công binh đi trước chúng tôi hét gọi một anh lính khác vừa dừng bước.
Anh kia ngập ngừng. Anh ta đang có vợ ở bên. Cô ả níu cánh tay và nhìn anh ta. Anh ta mỉm cười bối rối: "Lát nữa, Franz."
Willy nhăn mặt. "Những cái váy lót mà đã xen vào thì tình đồng đội thứ thiệt cũng sớm ra ma, hãy nhớ lời tớ!"
"Vớ vẩn!" anh lính công binh đáp và chìa cho Willy một điếu thuốc lá. "Đàn bà là một nửa cuộc sống. Có điều làm việc gì cũng phải đúng thời điểm của nó."
Chúng tôi vô tình bước cùng nhịp. Đay là một cuộc hành quân khác thường. Mặt đường lát đá rung chuyển, và một niềm hy vọng nghẹt thở, dữ dội bay vút lên như một tia chớp trên đoàn quân đang đều bước: dường như con đường này đang dẫn thẳng vào nơi tồn tại của tự do và công lý.
Nhưng được vài trăm mét thì đoàn tuần hành dừng lại. Nó dừng ngay trước nhà ông thị trưởng. Vài công nhân lay, đập cánh cửa nhà. Bên trong vẫn im lặng; nhưng sau ô kính cửa sổ đóng chặt, người ta thoáng thảy gương mặt xanh xao của một phụ nữ. Cửa bị lay, đập mạnh hơn nữa, và một hòn đá bay vèo về phía cửa sổ. Lại một hòn nữa. Kính vỡ rơi loảng xoảng xuống mảnh vườn trước nhà.
Rồi ông thị trưởng xuất hiện trên ban công tầng hai. Những tiếng hét chõ lên chỗ ông ta. Ông ta cố gắng hứa hẹn cái gì đó, nhưng không ai để tai nghe.
"Đi nào! Đi cùng chúng tôi!" ai đó hét lên.
Thị trưởng nhún vai và gật đầu. Vài phút sau, ông ta đả sải bước đi đầu đoàn tuần hành.
Người tiếp theo bị lôi cổ ra khỏi nhà là ông giám đốc sở lương thực.
Rồi thêm một thằng cha hói đầu, mặt mũi hốt hoảng, miễn cưỡng gia nhập đoàn tuần hành, nghe đồn thằng cha này chuyên buôn lậu bơ. Chúng tôi còn tóm hụt một gã buôn ngũ cốc. Gã đã kịp chuồn mất khi nghe chúng tôi đang kéo đến.
Đoàn tuần hành kéo đến sân lâu đài và ùn lại trước lối vào của Ban chỉ huy quân sự quận. Một người lính nhảy lên cầu thang và đi vào trong.
Chúng tôi chờ đợi. Tất cả các ô cửa sổ đều sáng đèn.
Cuối cùng cánh cửa lại mở ra. Chúng tôi nghển cổ nhìn. Một người đàn ông xách cặp bước ra. Ông ta lục lọi trong cặp lôi ra vài tờ giay và bắt đầu cất giọng đều đều đọc bài phát biểu. Chúng tôi chăm chú lắng nghe.
Willy khum hai bàn tay trên đôi tai to tướng của mình mà nghe. Vì cao hơn những người khác hẳn một cái đầu, cậu ta nghe rõ hơn và nhắc lại cho chúng tôi. Nhưng những lời phát biểu cứ dội xuống chúng tôi như nước đổ đầu vịt, chúng vang lên và lịm đi mà không chạm đến chúng tôi, không lôi cuốn chúng tôi, không lay động chúng tôi, chúng cứ dội xuống và trôi tuồn tuột.
Chúng tôi trở nên bất an. Chúng tôi chả hiểu gì. Chúng tôi đã quen hành động. Đây là cách mạng cơ mà! Thế thì phải xảy ra chuyện gì đó chứ!
Nhưng người đàn ông trên kia chỉ biết nói và nói. Ông ta khuyến cáo hãy bình tĩnh và thận trọng. Trong khi có thằng mẹ nào đã không thận trọng đâu chứ. Cuối cùng ông ta quay gót.
"Ông ta là ai vậy?" tôi thất vọng hỏi.
Anh lính pháo đứng cạnh chúng tôi biết rõ. "Chủ tịch Ủy ban công nhân và quân nhân đấy. Trước kia là nha sĩ, tôi nghĩ vậy."
"Ra thế!" Willy làu nhàu và khó chịu ngọ nguậy cái đầu tóc đỏ của mình. "Rõ vớ vẩn! Thế mà tớ cứ tưởng cả bọn sẽ đi thẳng ra ga và từ đó thẳng tiến Berlin."
Những tiếng la hét từ đám đông trở nên ồn ào và lan rộng ra. Người ta đòi ông thị trưởng phát biểu. Ông ta bị đẩy lên cầu thang. Giọng bình tĩnh, ông ta tuyên bố tất cả mọi vấn đề sẽ được điều tra kỹ lưỡng. Hai gã đầu cơ đứng cạnh ông ta run như cầy sấy. Họ toát mồ hôi vì sợ hãi. Trong khi chẳng có quái gì xảy ra với họ cả. Người ta đang la hét chửi bới họ thật, nhưng ai cũng ngại động thủ chống lại họ.
"Thế đấy," Willy nói, "ít nhất thì ông thị trưởng cũng can đảm."
"Dào, ông ta quá quen rồi," anh lính pháo thủng thẳng, "cứ vài ngày người ta lại lôi cổ ông ta theo."
Chúng tôi ngạc nhiên nhìn anh ta. "Chuyện này hay xảy ra lắm sao?"
Albert hỏi.
Anh kia gật đầu. "Thì luôn luôn có những binh đoàn mới từ mặt trận trở về và cho rằng mình phải ra tay thiết lập lại trật tự. Thế là chuyện này cứ lặp đi lặp lại..."
"Mẹ kiếp, đây không hiểu!" Albert nói.
"Tớ cũng chẳng hiểu," anh lính pháo tuyên bố và ngáp to hết cỡ. "Tớ cũng đã hình dung mọi thứ khác thế này cơ. Thôi, chào nhé, tớ lướt về cái hộp của tớ đây. Như thế khôn ngoan hơn."
Những người khác làm theo. Quảng trường vắng đi trông thấy. Bây giờ đến lượt vị đại biểu thứ hai nói. Ông ta cũng kêu gọi hãy bình tĩnh. Mọi sự khắc có lãnh đạo lo. Mà họ cũng đang bắt tay vào việc rồi kia. Ông ta chỉ tay về phía các ô cửa sổ sáng đèn. Tốt hơn hết là mọi người giải tán về nhà.
"Quỷ thật, tất cả chỉ thế thôi sao?" tôi tức giận nói.
Chúng tôi gần như cảm thấy mình lố bịch vì đã cắm đầu cắm cổ đi theo họ. Ban nãy chúng tôi đã muốn cái quái gì thế nhỉ?
"Cứt!" Willy thất vọng thốt lên. Cả bọn nhún vai và uể oải bỏ đi.
Chúng tôi còn dạo quanh các phố hồi lâu rồi mới chia tay. Tôi tiễn Albert về tận nhà rồi mới một mình quay về. Nhưng thật kỳ lạ: lúc này đây, khi các đồng đội của tôi không còn bên tôi nữa, mọi thứ xung quanh tôi bắt đầu khẽ chao đảo và trở nên không thật. Vừa mới đây thôi, tất cả còn là đương nhiên và chắc chắn, nhưng lúc này chúng bỗng bung ra, quá đỗi mới mẻ và lạ lẫm, khiến tôi gần như không còn biết có phải tất cả chỉ là giấc mơ. Có phải tôi đang ở đây? Có thật tôi đã quay về và đang ở nhà?
Nơi đây trải dài những con phố lát đá yên bình, với những mái nhà lấp lóa, phẳng phiu, không thấy đâu những lỗ thủng toang hoác hay những vết nứt vì đạn pháo, những bức tường thành nguyên vẹn vươn thẳng vào màn đêm xanh tím, trên đó nổi lên những cái bóng sẫm màu của những ban công, những hàng cột. Không một thứ gì bị hàm răng của chiến tranh gặm đến, mọi ô kính cửa sổ đều lành lặn, và phía sau những tấm rèm tựa những đám mây sáng màu kia đang sống một thế giới yên ả, khác hẳn với cái thế giới gầm rú của tử thần mà bấy lâu nay tôi đã coi là nhà.
Tôi dừng lại trước một ngôi nhà mà các ô cửa sổ tầng dưới đều sáng đèn. Tiếng nhạc khe khẽ vọng ra. Các tấm rèm cửa chỉ khép lưng chừng nên có thể nhìn vào bên trong.
Một phụ nữ ngồi bên đàn dương cầm và đang chơi nhạc. Cô ấy ngồi một mình. Chỉ có ánh sáng của cây đèn đứng chiếu vào bản nhạc màu trắng. Phần còn lại của căn phòng chìm trong bóng tối nhập nhoạng đa màu sắc. Một chiếc sofa, dăm cái ghế tựa có lót đệm chung sống yên bình nơi đây. Một chú chó cuộn mình ngủ trên một chiếc ghế bành. Tôi nhìn chòng chọc vào cảnh này như bị thôi miên. Chỉ khi người phụ nữ đứng dậy và bước những bước êm ái không tiếng động đến bên bàn, tôi mới vội lùi lại. Tim tôi đập mạnh. Trong ánh sáng dữ dội của pháo sáng, giữa những đống đổ nát vì đạn pháo tại những ngôi làng nơi tiền phương, tôi đã gần như quên rằng vẫn còn tồn tại tất cả những thứ này: đó là hòa bình ẩn sau những bức tường của những căn phòng trải khắp các con phố, nơi có những tấm thảm, có hơi ấm và những người phụ nữ. Tôi muốn mở cửa, đi vào trong phòng, tôi muốn nằm cuộn mình trên chiếc ghế bành, muốn ủ đôi bàn tay trong hơi ấm của gian phòng để hơi ấm ấy lan tỏa khắp người, tôi muốn nói chuyện, muốn mọi bạo tàn, khốc liệt và quá khứ sẽ tan chảy dưới đôi mắt yên lặng của người phụ nữ kia, và muốn bỏ chúng lại phía sau, muốn cởi bỏ chúng như cởi bỏ một bộ quần áo bẩn.
Đèn trong phòng đã tắt. Tôi tiếp tục hước đi. Và bỗng lại tràn đầy những tiếng gọi trầm đục và những tiếng nói không rõ ràng, tràn đầy các hình ảnh và quá khứ, tràn đầy những câu hỏi và câu trả lời.
Tôi lang thang ra tít ngoại ô. Lên đến đỉnh núi Tu V ện thì tôi dừng lại. Thành phố trải rộng bàng bạc dưới kia. Mặt trăng soi bóng trên dòng sông. Những ngọn tháp như lững lờ trôi và không gian tĩnh lặng đến không thể hiểu nổi. Tôi đứng một lúc, rồi quay về, về với những con phố và những ngôi nhà.
Về tới nhà, tôi lặng lẽ dò dẫm đi lên gác. Cha mẹ tối đã ngủ. Tôi nghe thấy hơi thở của họ - hơi thở êm hơn của mẹ và hơi thở thô hơn của cha -
và tôi xấu hổ vì đã về nhà quá muộn.
Tôi bật đèn trong phòng mình. Trong góc phòng là cái giường phủ drap trắng bóc với tấm chăn đã trải sẵn. Tôi ngồi lên giường và cứ thế ngồi bó gối hồi lâu. Rồi tôi cảm thấy buồn ngủ. Như một cái máy, tôi duỗi thẳng người ra và định kéo chăn đắp. Nhưng đột nhiên tôi lại ngồi nhỏm dậy vì tôi đã quên bẵng không cởi quần áo lẫn tháo ủng. Ngoài mặt trận chúng tôi lúc nào chẳng đóng nguyên bộ mà ngủ. Tôi chậm chạp cởi bộ quân phục và đặt đôi ủng vào trong góc phòng. Vừa hay tôi thấy ở cuối giường vắt một chiếc áo ngủ. Tôi hầu như không còn biết đến thứ xa xỉ này. Tôi mặc áo vào. Và rồi, trong khi tôi choàng cái áo lên tấm thân trần đang run rẩy vì lạnh, thì một cảm giác lạ lùng bỗng xâm chiếm tôi, tôi lần mò kéo chăn đắp, rúc đầu vào gối, tôi ôm ghì chiếc gối vào mình, áp chặt mình vào nó, vào những chiếc gối, vào giấc ngủ, vào lại với cuộc sống, và cảm nhận chỉ một điều, ngoài ra không còn gì khác: tôi đang ở đây - đúng, tôi đang ở đây!