Buổi chiều tối ngồi nhà và cố thử làm việc gì đó. Nhưng ý định không thành, và suốt một giờ qua tôi lang thang không mục đích trên các con phố. Tôi có đi ngang qua quán Hà Lan. Đây là quán ruợu thứ ba mới khai trương trong ba tuần trở lại đây. Những cái quán với biển hiệu sặc sỡ như thế mọc lên khắp nơi như nấm ruồi xen giữa các ngôi nhà mặt phố.
Quán Hà Lan là quán lớn nhất và thanh lịch nhất.
Trước cửa kính ra vào sáng ánh đèn là một nhân viên gác cửa có vẻ ngoài nửa như đại tá khinh kỵ binh, nửa như giám mục - một gã trai mạnh mẽ với một cây ba toong mạ vàng trong tay. Tôi nhìn xoáy vào mắt anh ta; thế là toàn bộ vẻ danh giá nơi anh ta biến mất, anh ta giơ gậy chọc vào bụng tôi và mỉm cười:
"Xin chào Ernst, đồ bù nhìn đuổi chim! Com-măng sa-va[1] , như người Pháp vẫn nói."
Đó là hạ sĩ quan Anton Demuth, một cựu đầu bếp của chúng tôi. Tôi đứng nghiêm chào anh, bởi vì trong quân ngũ chúng tôi đã được nhồi sọ rằng lễ nghi này là dành cho bộ quân phục chứ không phải cho người mặc nó. Bộ đồng phục Anton đang mặc vào loại đẳng cấp cao và chí ít cũng xứng đáng để chào.
"Chào anh, Anton," tôi cười. "Thôi ta vào luôn chuyện nghiêm túc, anh nói cho tôi biêt: anh có gì chén khong?
1. Nguyên văn tiếng Pháp "Comment ca va” : “Cậu thế nào rồi?”
"Này cậu học trò," Anton hưởng ứng, "Franz Elstermann thật ra cũng đang ở trong cái quán nước quả này đấy. Làm đầu bếp!"
"Khi nào tôi ghé qua được?" tôi hỏi, vì chỉ nghe thế thôi là đủ biết tình hình sáng sủa. Elstermann và Demuth là những kẻ trưng dụng đồ ăn vĩ đại nhất toàn nước Pháp.
"Sau một giờ đêm nay," Anton nháy mắt. "Quán vừa được một thanh tra Sở lưong thực tuồn cho một tá ngỗng, hàng lậu. Cậu có thể tin chắc rằng Franz Elstermann sẽ cắt cụt cẳng vài con trước đã! Ai dám khẳng định rằng giữa bầy ngỗng với nhau không có chiến tranh khiến chúng có thể mất đôi cẳng hả?"
"Chẳng ai cả..." tôi nói và hỏi, "Quán đắt hàng chứ?"
"Tối nào cũng chật cứng. Ngó thử tí không?"
Anh đẩy tấm rèm cửa sang bên một chút. Tôi liếc qua khe hở nhìn vào trong phòng. Ánh đèn ấm áp, êm ái tỏa xuống các mặt bàn, khói thuốc lá xanh lơ kéo thành những vệt dài, những tấm thảm óng ánh, đồ sứ long lanh, và bạc thì tỏa sáng. Ngồi bên những chiếc bàn là các bà các cô, được bao quanh bởi đám bồi bàn, và bên họ là những quý ông không hề toát mồ hôi hay bối rối. Họ lên tiếng sai bảo với sự tự nhiên tuyệt vời.
"Thế nào, mẹ kiếp, giá được chơi cầu trượt ra trò với một em như thế kia, hả?" Anton nói và chọc vào sườn tôi.
Tôi không trả lời, vì cái phần đời sặc sỡ chìm trong khói thuốc này kích thích tôi kỳ lạ. Có gì đó không thật trong nó, gần như là tôi chỉ đang mơ, đang đứng trên con phố tối tăm, chân giẫm trong tuyết ướt và ngắm nhìn bức tranh này qua khe cửa. Tôi say mê cảnh đó, mà không quên rằng có lẽ đây chỉ là một đám những kẻ đầu cơ đang vung tiền... Nhưng chúng tôi đã nằm quá lâu trong những hố cá nhân bẩn thỉu, như thể không có chuyện đôi khi trong chúng tôi vẫn trỗi lên một nỗi thèm khát mạnh mẽ và gần như điên rồ trước những xa hoa và sang trọng - vì xa hoa là được che chở và chăm sóc - và đó chính là thứ chúng tôi hầu như không hề biết đến.
"Sao, ông bạn thấy thế nào?" Anton lại hỏi tôi. "Những ả mèo cái cực êm ái trên giường, hả?"
Tôi cảm thấy mình ngớ ngẩn, nhưng ngay lúc đó tôi không thể phụ họa Anton được. Toàn bộ cái giọng điệu mà trong nhiều năm qua tôi vẫn hòa theo chẳng chút nghĩ ngợi, thì giờ đây tôi bỗng thấy nó quá thô lô và khả ố. May sao vừa đúng lúc Anton lấy lại tư thế đứng thẳng và đĩnh đạc, vì có một chiếc xe tiến đến. Một thiếu nữ thanh mảnh xuống xe và đi qua cánh cửa, mình hơi cúi về phía trước, một tay giữ chiếc khăn choàng lông trên ngực, mái tóc óng mượt dưới chiếc mũ chụp vừa khít bằng vàng, hai đầu gối sát nhau, với đôi chân nhỏ nhắn và một khuôn mặt thon gầy.
Với bước chân hơi chênh chao, nàng đi ngang qua tôi trong mùi nước hoa thoang thoảng, hăng hắc; và đột nhiên tôi cảm thấy ước muốn điên dại được đi cùng người đàn bà-trẻ thơ này qua cánh cửa quay đến các bàn trong bầu không khí dễ chịu, được che chở đầy sắc màu và ánh sáng, không chút âu lo đi rong qua cuộc sống êm ái vốn được bao bọc bởi những anh bồi bàn, những người đầy tớ và lớp cách ly của đồng tiền, không biết đến đói khát và bẩn thỉu — là thứ bánh ăn hằng ngày của chúng tôi từ nhiều năm nay.
Chắc trông tôi phải giống một cậu học trò lắm, vì Anton Demuth cười phá lên sau bộ râu của anh và vừa đánh măt vê phía bên kia vừa thụi tôi: "Dù họ có đi trong nhung và lụa — trên giường ai cũng như ai."
"Cố nhiên " tôi nói và làm quà thêm một chuyện tiếu lâm loại con heo, để Anton không nhận thấy điều gì đang xảy ra trong tôi.
"Thế nhé, hẹn đến một giờ, Anton!"
"Được cậu học trò," anh đĩnh đạc đáp, "hoặc Bong-xoa[1] , như người Pháp vẫn nói.”
1. Nguyên văn tiếng Pháp "Bonsoir": tiếng chào dùng vào buổi chiều hoặc buổi tối.
Tôi lang thang tiếp, hai tay thọc sâu trong túi. Tuyết lạo xạo dưới giày. Tôi công phẫn đá văng cả tuyết. Liệu tôi có thể làm gì, nếu như tôi thực sự được ngồi bên bàn với một người phụ nữ như nàng? Tôi chỉ có thể nhìn nàng chằm chằm, ngoài ra không có gì hơn. Thậm chí tôi còn không thể ăn mà không cảm thấy ngượng nghịu. Tôi nghĩ ở bên một người như nàng cả ngày chắc phải khó khăn lắm. Luôn phải để ý, luôn phải cẩn thận.
Và phải đến đêm... hẳn lúc đó tôi hoàn toàn không biết gì. Đương nhiên tôi đã từng có chút kinh nghiệm với phụ nữ, nhưng đó là Jupp và Valentin đã bày dạy cho tôi, còn với những quý cô như nàng thì điều tôi học được chắc chắn không phù hợp.
Tháng sáu năm 1917 lần đầu tiên tôi đã ở bên một người đàn bà. Đại đội chúng tôi khi đó đóng quân trong khu binh xá. Đó là buổi trưa, chúng tôi nằm dài trên đồng cỏ nô giỡn với hai chú chó con từ đâu chạy đến. Tai dựng, lông bóng mượt, hai con cún nhảy cẫng lên trong đám cỏ mùa hè mọc cao, bầu trời xanh thẳm và chiến tranh ở khá xa.
Bỗng Jupp từ văn phòng chạy ra. Những con cún lao đến và nhảy chồm lên chào đón anh. Anh hất chúng ra, kêu lớn:
"Vừa có lệnh, tối nay chúng ta phải đi."
Chúng tôi biết điều đó có nghĩa là gì! Từ nhiều ngày nay chân trời phía tây ầm ầm tiếng súng của cuộc tấn công lớn, từ nhiều ngày nay chúng tôi thấy các trung đoàn tơi tả quay về, và nếu chúng tôi có hỏi thăm ai đó về tình hình chiến trường thì anh ta chỉ trả lời bằng một cái phẩy tay, mắt tiếp tục đờ đẫn nhìn về phía trước, từ nhiều ngày nay xe chở thương binh lũ lượt lăn bánh ngang qua, từ nhiều ngày nay mỗi sáng chúng tôi lại đào những dãy mộ dài...
Chúng tôi đứng lên. Bethke và Weßling đi đến chỗ đặt ba lô của mình để tìm giấy viết thư, Willy và Tjaden mò sang nhà bếp lưu động còn Franz Wagner và Jupp chèo kéo tôi đi với họ tới nhà thổ.
Mẹ kiếp, Ernst," Wagner nói, "cậu cũng phải một lần nếm mùi đàn bà chứ! Biết đâu ngày mai cả lũ chúng ta lại chẳng về chầu giời, vì nghe nói chúng có cơ man các loại pháo mới. Thật là quá ư ngu ngốc nếu cậu ngỏm như một trinh nữ trong trắng."
Nhà chứa mặt trận nằm ở một thị trấn nhỏ, đi tới đó mất khoảng một giờ. Chúng tôi được phát thẻ và phải đợi khá lâu; vì cũng có những trung đoàn khác phải lên tuyến trước, và nhiều anh muốn vớt vát nhanh từ cuộc sống những gì họ có thể. Chúng tôi phải nộp thẻ trong một căn buồng nhỏ.
Một binh nhất quân Y kiểm tra xem chúng tôi có khỏe mạnh không, sau đó chúng tôi đã được tiêm vài giọt Protargol[1] , và một thượng sĩ giải thích với chúng tôi rằng cuộc vui có giá ba mark và vì quá đông người chờ nên không được kéo dài quá mười phút. Sau đó, chúng tôi xếp hàng trên cầu thang.
1. Một loại muối bạc được dùng làm thuốc chống bệnh lậu.
Hàng người chậm chạp nhích về phía trước. Trên kia, tiếng những cánh cửa đóng mở. Mỗi lần lại thấy một anh chàng bước ra, rồi có tiếng gọi: "Người tiếp theo!"
"Có bao nhiêu con bò cái trong đó?" Franz Wagner hỏi một lính công binh.
"Ba," anh kia trả lời, "nhưng cậu không được kén chọn. Đây là trò xổ số — nếu cậu số ruồi, cậu vớ được một bà lão."
Tôi gần như phát ốm trong lối cầu thang ngột ngạt, tích tụ khí nóng và hơi người bốc lên từ những người lính đói khát. Giá được tôi đã muốn đánh bài chuồn, vì tất cả sự tò mò của tôi đã bay biến cả. Nhưng tôi sợ những người khác sẽ cười tôi, vì vậy tôi tiếp tục chờ đợi.
Cuối cùng cũng đến lượt tôi. Người vào trước đó loạng choạng đi ngang qua tôi, và tôi bước vào. Căn phòng thấp và tối tăm, nồng nặc mùi chất tẩy và mô hôi, đên nỗi tôi cảm thấy lạ lùng khi nhìn thấy ngoài cửa sổ những tán lá cây bồ đề xanh non đang đùa giỡn cùng nắng gió; sao mà mọi thứ trong gian phòng này lại tàn tạ đến vậy. Một chậu nước hoa hồng đặt trên một chiếc ghế, và trong góc phòng kê một chiếc giường dã chiến, trên đó phủ một tấm chăn nhàu nát. Người đàn bà to béo và mặc một chiếc áo sơ mi ngắn, trong suốt. Cô ta hoàn toàn không nhìn tôi, mà nằm ngay xuống giường.
Không thấy tôi đến, cô ta mới sốt ruột nhìn lên; rồi gương mặt hum húp của cô ta lộ vẻ thông cảm. Cô ta nhận ra tôi vẫn còn quá non.
Đơn giản là tôi không thể, toàn thân tôi ớn lạnh, và tôi nghẹt thở vì ghê tởm. Người đàn bà làm vài cử chỉ khêu gợi tôi: những cử chỉ thô bỉ, gớm ghiếc; cô ta muốn lôi kéo tôi vào cuộc và thậm chí còn mỉm cười, ngọt ngào và điệu bộ. Lẽ ra có thể thương hại cô ta, bởi vì rốt cuộc cô ta cũng chỉ là một cái nệm nhà binh khốn khổ, mỗi ngày phải chịu đựng hai mươi, ba mươi gã trai hoặc nhiều hơn nữa... nhưng tôi để lại tiền cho cô ta và vội vã bỏ đi, chạy xuống cầu thang.
Jupp nháy mắt với tôi. "Thế nào?"
"Còn phải hỏi," tôi trả lời như một tay chơi sành sỏi, và chúng tôi muốn về. Nhưng trước đó chúng tôi phải quay lại chỗ anh lính quân y và nhận thêm một mũi Protargol.
Hóa ra tình yêu là thế, tôi tuyệt vọng và chán chường nghĩ trong khi chúng tôi gói ghém đồ đạc, hóa ra tình yêu là thế, tất cả những cuốn sách của tôi ở nhà đều tràn ngập những dòng về tình yêu, và tôi đã chờ mong biết bao điều tốt đẹp từ nó trong những giấc mơ tuổi trẻ mơ hồ! Tôi cuộn áo măng tô và gập tấm lều bạt của mình, nhận đạn dược, rồi chúng tôi hành quân. Tôi bước đi lặng lẽ, buồn rầu, bụng nghĩ giờ đây tất cả những ước mơ bay bổng về cuộc sống và tình yêu không còn lại gì ngoài một khẩu súng, một ả điếm béo và tiếng súng ì ầm phía chân trời, nơi chúng tôi đang chầm chậm dấn thân vào. Rồi bóng tối nuốt chửng mọi thứ, xuất hiện các chiến hào và cái chết… Franz Wagner đã ngã xuống ngay đêm hôm đó, và ngoài cậu ấy chúng tôi còn mất thêm hai mươi ba người anh em.
Mưa lắc rắc rơi từ trên cây, tôi kéo cao cổ áo khoác. Giờ đây tôi thường xuyên khao khát sự dịu dàng, những lời nói rụt rè, những cảm xúc mênh mang bay bổng; tôi muốn thoát khỏi sự lỗ mãng khủng khiếp của những năm tháng vừa qua. Nhưng rồi sẽ ra sao nhỉ nếu khát khao kia thành sự thật: nếu sự dịu dàng và xa xẩm của ngày xưa cùng trở lại, nếu có ai đó thật sự muốn tốt với tôi, một cô gái dịu dàng, mảnh mai, giống cô gái đội mũ chụp vàng có bước chân mềm mại; sẽ ra sao nếu như sự say sưa của một buổi tối xanh bàng bạc sẽ quên mình, vĩnh viễn phủ bóng xuống chúng tôi? Liệu hình ảnh béo tốt của ả điếm có xen ngang đúng vào khoảnh khắc cuối cùng, liệu những giọng nói của các hạ sĩ quan cùng doanh trại với tôi có đột nhiên hô hố chen vào cùng những câu chuyện tục tĩu của họ, liệu những hồi ức, những mẩu đối thoại, những sự lỗ mãng của lính có xé nát và đâm thủng mọi cảm xúc tinh khiết?
Chúng tôi vẫn còn gần như trong trắng, nhưng trí tưởng tượng của chúng tôi đã bị phân hủy mà chúng tôi không nhận thấy, và trước khi chúng tôi kịp biết chút gì về tình yêu, chúng tôi đã phải xếp hàng để người ta công khai khám các căn bệnh tình dục. Cảm giác nghẹt thở, những sự hăng hái, cơn gió, bóng tối, câu hỏi... mọi thứ đã từng có khi chúng tôi, những cậu trai tuổi mười sáu, đuổi theo sau Adele và các cô gái khác dưới ánh sáng nhấp nháy của đèn đường, sau đó đã không bao giờ còn quay trở lại ngay cả nếu như tôi đã không đến cho một ả điếm, ngay cả nếu tôi tin rằng tình yêu phải khác, ngay cả khi có người phụ nữ ôm siết lấy tôi và sự ham muốn làm tôi run rẩy. Sau mỗi lần như vậy tôi chỉ luôn buồn bã.
Tôi vô tình đi nhanh hơn và thở hổn hển. Tôi muốn có lại nó... Tôi phải có lại nó. Nó phải trở lại, nếu không không có lý do gì để sống!
Tôi rẽ vào con đường đến căn hộ của Ludwig Breyer. Phòng cậu ta vẫn sáng đèn. Tôi ném đá lên cửa sổ. Ludwig đi xuống mở cửa cho tôi.
Trên phòng, Georg Rahe đang đứng trước những hộp sưu tập đá của Ludwig. Cậu ta cầm một hòn thạch anh lớn trong tay và xoay cho nó lấp lánh.
"May mà tớ vẫn gặp được cậu, Ernst," cậu ta mỉm cười nói "Tớ có ghé đến nhà cậu. Ngày mai tớ lên đường."
Cậu ta mặc quân phục.
"Georg," tôi nói ngắc ngứ, "cậu hẳn không muốn..."
"Có đấy!" cậu ta gật đầu. "Lại vào lính. Đúng vậy. Mọi thứ đã xong.
Mai bắt đầu."
"Cậu có hiểu nổi không?" tôi quay hỏi Ludwig.
"Có," Ludwig trả lời. "Tớ hiểu. Nhưng sẽ chẳng ích gì cho cậu ấy,"
cậu ta quay sang Rahe. "Cậu đang thất vọng, Georg, nhưng cậu hãy suy nghĩ rằng điều đó là tự nhiên. Ngoài mặt trận, các dây thần kinh của bọn mình bao giờ cũng căng thẳng cực độ, bởi lúc đó luôn là chuyện sống chết.
Còn bây giờ chúng chỉ khẽ lay động như cánh buồm lúc đứng gió, bởi lúc này mọi sự chỉ còn xoay quanh những tiến bộ cỏn con."
"Đúng thế," Rahe cắt ngang, "xoay quanh sự tranh giành cái ăn vặt vãnh, bon chen danh lợi và một vài lý tưởng chắp vá, chính cái đó làm tớ thấy buồn nôn, và vì thế mà tớ muốn bỏ đi!"
"Nếu cậu nhất định muốn làm một cái gì đó, cậu có thể tham gia cách mạng mà," tôi nói, "biết đâu cậu còn trở thành Bộ trưởng chiến tranh."
"Ôi dào, cái cuộc cách mạng ấy," Georg khinh bỉ đáp. "Cách mạng gì mà được thực hiện với hai bàn tay buông thõng, cách mạng của những vị đứng đầu các đảng phái, chưa kịp can đảm đã sợ vãi đái. Hãy nhìn xem chúng đã túm tóc nhau như thế nào, đám Dân chủ Xã hội, đám Độc lập, đám Sparta, đám Cộng sản. Trong lúc đó thì những kẻ khác đã lạnh lùng lấy đi vài cái đầu thực sự có trình độ mà chúng có và chẳng mảy may hay biết."
“không, Georg," Ludwig nói, "không phải vậy đâu. Chúng ta đã làm cách mạng với quá ít hận thù, đó là sự thật, và chúng ta muốn công bằng ngay từ đầu, do đó tất cả đã trở nên tê liệt. Một cuộc cách mạng phải đốt sạch như một đám cháy rừng sau đó cậu mới có thể bắt đầu gieo trồng; nhưng chúng ta không muốn phá hủy thứ gì mà lại muốn đổi mới. Chúng ta thậm chí không còn có đủ sức để thù hận, chúng ta đã quá mỏi mệt và kiệt quệ bởi chiến tranh. Người ta có thể ngủ thiếp đi ngay dưới làn đạn pháo vì mệt mỏi, cậu cũng biết rồi đấy... Nhưng có lẽ cũng chưa phải quá muộn để bắt tay vào làm việc, nhằm lấy lại những gì đã bỏ lỡ trong cuộc chiến."
"Làm việc sao," Georg đáp giọng phản bác, tay giơ hòn thạch anh dưới ánh đèn cho nó sáng lấp lánh, "chúng ta có thể chiến đấu, nhưng không biết làm việc."
"Chúng ta phải học lại thôi," Ludwig đang ngồi trên góc ghế sofa bình thản nói.
"Học hành gì nữa, chúng ta đã hỏng hẳn rồi," Georg trả lời.
Im lặng trong một khoảnh khắc. Gió ngân nga bên ngoài các ô cửa sổ.
Rahe sải những bước dài quanh căn phòng nhỏ của Ludwig, và trông có vẻ như cậu ta thực sự không còn phù hợp nữa giữa những bức tường đầy sách, sự yên tĩnh và công việc... Dường như khuôn mặt rõ nét, sắc cạnh trên bộ quân phục màu xám của cậu ta chỉ còn thuộc về chiến hào, chiến đấu và chiến tranh. Cậu ta chống tay lên bàn và cúi xuống Ludwig. Anh đèn chiếu vào cầu vai cậu ta, và sau lưng cậu ta lấp lánh những viên thạch anh trong bộ sưu tập đá.
"Ludwig " cậu ta nói nhẹ nhàng, "chúng ta đang làm gì ở đây? Hãy nhìn xung quanh cậu: tất cả mới ủ rũ và tiêu điều làm sao! Chúng ta là gánh nặng cho chính mình và những người khác. Những lý tưởng của chúng ta bị phá sản, nhưng giấc mơ của chúng ta bị hỏng, và chúng ta chạy vòng quanh trong thế giới của những kẻ cơ hội và những tên gian thương hệt như những chàng Don Quixote đã bị đánh dạt đến một đất nước xa lạ."
Ludwig nhìn cậu ta hồi lâu. ''Tớ cho rằng chúng ta đang bị bệnh, Georg. Chúng ta vẫn còn chiến tranh nằm sâu trong xương tủy."
Rahe gật đầu. "Chúng ta cũng sẽ không bao giờ thoát khỏi nó."
"Có đấy," Ludwig trả lời, "bởi vì nếu không mọi thứ sẽ là vô ích."
Rahe nhảy lên và đấm tay xuống bàn. "Đã vô ích rồi, Ludwig. Đó chính là điều đang làm tớ phát điên! Chúng ta đã là những con người như thế nào ngày ấy, khi chúng ta đi ra tiền tuyến trong cơn bão của sự nhiệt tình! Một kỷ nguyên mới dường như đã bừng sáng. Mọi thứ cũ nát, mục ruỗng, nửa vời, chia rẽ đã bị cuốn đi. Chúng ta đã là một lứa thanh niên trước đây chưa từng có!"
Cậu ta nắm chặt hòn thạch anh như một trái lựu đạn. Nắm tay cậu ta giật giật.
"Ludwig," cậu ta tiếp tục, "tớ đã nằm trong nhiều hầm trú ẩn, và tất cả chúng ta đều là những người trẻ tuổi, những người ngồi túm tụm quanh một ngọn nến khốn khổ và chờ đợi, trong khi phía trên chúng ta cơn bão lửa đang dập xuống như một trận động đất. Chúng ta không còn là những tân binh và biết rõ chúng ta đang chờ đợi gì, biết rõ cái gì sẽ đến... nhưng Ludwig, trên những gương mặt trong bóng tối nhập nhoạng dưới lòng đất là thứ mạnh hơn cả sự bình tĩnh, mạnh hơn cả lòng can đảm, mạnh hơn cả sự sẵn sàng hy sinh: ý chí cho một tương lai khác hiển hiện trên những gương mặt cứng rắn, bất động ấy, và nó vẫn ở nguyên đó khi chúng ta tấn công, vẫn ở nguyên đó cả khi chúng ta chết! Chúng ta trầm lặng hơn, năm này qua năm khác, nhiều thứ đã rơi rụng, nhưng ý chí này vẫn ở lại. Còn bây giờ, Ludwig, bây giờ nó ở đâu rồi? Cậu có hiểu rằng tất cả có thể nhấn chìm nó trong cái vũng bùn của trật tự, nghĩa vụ, đàn bà, sự chừng mực và tất cả những gì gì nữa mả ở đây người ta gọi là cuộc sống? Không, ngày ấy chúng ta đã sống ra sống, cho dù cậu có nói với tớ cả trăm ngàn lần rằng cậu căm ghét chiến tranh, tớ vẫn sẽ nói ngày ấy chúng ta đã sống ra sống, bởi vì chúng ta đã ở bên nhau, và bởi vì trong chúng ta có thứ gì đó rực cháy, thứ có ý nghĩa hơn nhiều lần toàn bộ những rác rưởi ở nơi này!"
Cậu ta thở hổn hển: Nó phải tồn tại vì cái gì đó, Ludwig! Một lần, trong một khoảnh khắc, khi người ta nói đến cách mạng, tớ đã nghĩ: bây giờ sẽ là sự giải phóng, bây giờ dòng thác quay ngược trở lại và mạnh mẽ cuốn phăng bờ cũ, đắp lên bờ mới - thề có Chúa, nếu thế tớ đã tham gia!
Nhưng dòng thác đã tan vỡ thành hàng ngàn con rãnh nhỏ, cách mạng trở thành một cuộc tranh cãi xung quanh địa vị lớn nhỏ, nó bị rò rỉ, bị bôi bẩn, bị hút cạn bởi các ban ngành, các mối quan hệ, các dòng họ và các đảng phái. Nhưng tớ không thèm dây. Tớ đi đến chỗ mà tớ vẫn có thể tìm thấy tình đồng đội."
Ludwig đứng dậy. Trán cậu ta đỏ lên. Hai mắt cháy rực. Cậu ta nhìn sát vào mặt Rahe. "Mà vì sao chứ, Georg, vì sao? Vì chúng ta đã bị lừa dối, bị lừa dối cho đến tận bây giờ mà hầu như vẫn mơ hồ chưa nhận ra. Vì người ta đã lạm dụng chúng ta khủng khiếp! Người ta nói với chúng ta 'Tổ quốc' mà nghĩ đến những kế hoạch đánh chiếm của một nền công nghiệp tham lam; người ta nói với chúng ta 'danh dự' mà nghĩ đến cuộc tranh giành và khao khát quyền lực của một nhúm các nhà ngoại giao và quý tộc đầy tham vọng; người ta nói với chúng ta 'dân tộc' mà nghĩ đến sự hối thúc có việc làm của những vị tướng vô công rồi nghề!" Cậu ta lắc lắc vai Rahe.
"Chẳng lẽ cậu không hiểu? Họ nhồi nhét vào cái từ 'yêu nước' những ngôn từ sáo rỗng của họ, sự háo danh của họ, tham vọng quyền lực của họ, sư lãng mạn giả dối của họ, sự ngu ngốc của họ, máu ham lam giàu của họ và sau đó trình bày trước chúng ta như một lý tưởng sáng ngời! Còn chúng ta đã tin rằng đó là một tiếng chuông báo hiệu cho một cuộc sống mới, mạnh mẽ, vĩ đại! Chẳng lẽ cậu không hiểu? Chúng ta đã tiến hành chiến tranh chống lại chính mình mà không biêt! Và mỗi phát súng trúng đích, là một người trong chúng ta trúng đạn! Hãy nghe này, tớ sẽ hét vào tận tai cậu: tuổi trẻ của thế giới đã bị đập tan tành, ở đất nước nào tuổi trẻ cũng bị lừa dối, bị lạm dụng, ở đất nước nào tuổi trẻ cũng chiến đấu vì lợi ích thay vì cho lý tưởng, ở đất nước nào tuổi trẻ cũng bị bắn hạ và tự tiêu diệt lẫn nhau! Chẳng lẽ cậu không hiểu? Chỉ có một cuộc chiến: chống lại điều dối trá, sự nửa vời, sự thỏa hiệp và tuổi tác! Nhưng chúng ta đã để những lời sáo rỗng của họ bủa vây, và thay vì chiến đấu chống lại họ, chúng ta lại chiến đấu vì họ. Chúng ta đã tin rằng đó là vì tương lai! Nhưng lại đi ngược với tương lai. Tương lai của chúng ta đã chết, bởi vì tuổi trẻ gánh vác tương lai đã chết. Chúng ta chỉ là thứ còn sót lại, là di hài! Nhưng những kẻ kia - những kẻ no đủ và thỏa mãn - thì vẫn sống, lại còn sống no đủ hơn và thỏa mãn hơn bao giờ hết! Vì những kẻ bất mãn, bị thôi thúc, những người lính xung kích đã chết cho nó! Cậu hãy nghĩ đi! Cả một thế hệ đã bị phá hủy! Một thế hệ của niềm hy vọng, niềm tin, ý chí, sức mạnh, tài năng đã bị thôi miên, để đến nỗi tự bắn giết lẫn nhau, mặc dù họ có những mục đích giống nhau trên toàn thế giới này!"
Giọng cậu ta vỡ ra. Đôi mắt cậu ta đầy tiếng nức nở và hoang dại.
Chúng tôi đứng cả dậy.
"Ludwig," tôi nói và vòng tay quanh cổ cậu.
Rahe nhặt chiếc mũ của mình và ném hòn đá vào hộp trở lại. "Tạm biệt, Ludwig, người anh em một thời!"
Ludwig đứng đối diện Rahe, môi mím chặt, các xương gò má nhô hẳn lên. "Cậu bỏ đi, Georg," cậu ta thốt lên, "nhưng tôi sẽ ở lại! Tôi còn chưa bỏ cuộc!"
Rahe nhìn cậu ta hồi lâu, đoạn từ tốn nói: "Điều đó là vô vọng," và chỉnh lại khóa thắt lưng.
Tôi tiễn Georg xuong cau thang. Bên dưới, ánh sáng ban mai màu chì đã rọi qua ô cửa. Tiếng bước chân vang lên trên những bậc đá. Chúng tôi bước ra ngoài như chui lên từ một hầm trú ẩn. Con phố vắng tanh và u ám, dài hun hút. Rahe chỉ tay về phía trước.
"Tất cả là chiến hào, Ernst ạ..." cậu ta chỉ vào những ngôi nhà, "Toàn là hầm trú ẩn... Cuộc chiến vẫn tiếp tục... nhưng là một cuộc chiến tranh đê tiện... người này chống lại người kia."
Chúng tôi bắt tay nhau. Tôi không thể cất lời. Rahe mỉm cười. "Có chuyện gì vậy, Ernst? Ở phía đông đằng kia cũng đâu phải mặt trận thật sự nữa! Ngẩng đầu lên đi, chúng ta là những người lính kia mà. Đây đâu phải lần đầu tiên chúng ta nói lời tạm biệt..."
"Có đấy, Georg," tôi vội vã nói, "tớ nghĩ giờ mới là lần đầu tiên chúng ta thực sự nói lời tạm biệt."
Cậu ta còn đứng trước mặt tôi giây lát. Rôi cậu ta từ tốn gật đầu và bước xuôi theo con phố, không hề ngoảnh lại, mảnh khảnh, bình thản, và hồi lâu sau khi Georg đã khuất dạng tôi vẫn còn nghe tiếng bước chân của cậu ấy.