Đối với kỳ thi tốt nghiệp, cấp trên đã có lệnh: chiếu cố hết mức khi kiểm tra các cựu chiến binh. Lệnh này quả thực đuợc chấp Đ hành. Chúng tôi vì thế đều qua đuợc cả. Nhóm tiếp theo, nhóm của Ludwig và Albert, thì sẽ thi tốt nghiệp sau ba tháng nữa. Cả hai đành phải tiếp tục đợi tới khi đó, mặc dù đề thi cho bốn thằng chúng tôi đã xong hết cả rồi.
Vài ngày sau kỳ thi, chúng tôi nhận được mấy chân dạy thay ở các làng lân cận. Tôi phấn khởi ra mặt, vì đã chán ngấy cuộc sống loăng quăng không mục đích. Nó chỉ dẫn đến những suy nghĩ đau đầu, buồn bã và sự buông thả ồn ào, vô nghĩa. Bây giờ tôi muốn làm việc.
Tôi xếp va li và cùng Willy đi nhận việc. May sao chúng tôi được là hàng xóm. Làng của chúng tôi nằm cách nhau chưa đến một giờ đi bộ.
Tôi được ở trong một nông trại cũ. Những cây sồi lớn đứng choán ngay trước cửa sổ, và từ phía chuồng gia súc vọng lại tiếng be be hiền lành của lũ cừu. Bà chủ nông trại mời tôi ngồi lên một chiếc ghế tựa chân cao và bắt đầu dọn bữa truớc tiên. Bà tin rằng tất cả đám dân thành thị đều đang đói rũ, và kể ra thì cũng khá đúng. Với một niềm xúc động nhẹ nhàng, tôi nhìn thấy những thứ gần như đã bị lãng quên xuất hiện trên bàn: một khúc giăm bông khổng lồ, một cái xúc xích dài băng cả cánh tay, ổ bánh mì trắng muốt như tuyết và những cái bánh kếp kiều mạch Tjaden yẫn thường ca ngợi có cục mỡ muối to tướng à chính giữa. Chồng bánh nhiều đến mức có thể đủ cho cả một đại đội.
Tôi bắt đầu ngốn, còn bà chủ nhà tay chống nạnh vui sướng đứng nhìn, nụ cười hài lòng nở rộng trên môi. Sau một giờ tôi mới đành phải rên rỉ dừng lại, dù cho mẹ Schomaker ra sức mời tôi tiếp tục.
Đúng vào lúc này Willy đến thăm tôi.
"Bây giờ bác hãy chú ý nhé," tôi nói với bà chủ nông trại, "bây giờ bác có thể trải nghiệm một thứ đáng chiêm ngưỡng. So với cậu ta, cháu chỉ là nhãi nhép."
Willy biết những gì một người lính phải làm. Cậu ta không nghĩ ngợi nhiều, mà hành động ngay lập tức. Sau lời mời ngắn gọn của mẹ Schomaker, cậu ta bắt đầu với món bánh kếp. Đến lúc cậu ta ăn tới món pho mát, bà chủ nhà đã đứng tựa vào tủ mà tròn mắt ngó Willy, như thể cậu ta là kỳ quan thế giới thứ tám. Bà phấn khởi khệ nệ bưng ra thêm một liễn pudding to tướng, và Willy cũng dễ dàng vượt qua.
"Thế đấy," cậu ta phì phò nói và đặt cái thìa sang một bên, "bây giờ cháu mới đói thực sự đây. Bây giờ sẽ ăn đến những món ra trò, được không bác?"
Với câu nói này, cậu ta đã mãi mãi chinh phục được trái tim của mẹ Schomaker.
Tôi ngồi trên bục giảng có phần lúng túng và không tự tin. Bốn mươi đứa trẻ ngồi trước mặt tôi. Đó là những đứa nhỏ nhất. Giống như được xếp thẳng bằng thước kẻ, chúng ngồi trên tám cái bàn dài nối đuôi nhau, những bàn tay nhỏ mũm mĩm nắm chặt cây bút chì, hộp bút xếp gọn, bảng và vở đặt trước mắt. Những đứa nhỏ nhất bảy tuổi, lớn nhất mười tuổi.
Nhà trường chỉ có ba phòng học, vì vậy trong mỗi lớp đều trộn lẫn nhiều lứa tuổi khác nhau.
Những đôi guốc gỗ lộp cộp mài trên sàn nhà. Than bùn trong lò sưởi cháy kêu lách tách. Nhiều đứa trẻ quàng khăn len và đeo ba lô da đi bộ đến trường mất tới hai giờ đồng hồ. Đồ của chúng bị ướt, bắt đầu bốc hơi trong cái nóng khô của phòng học.
Lũ bé nhất với những khuôn mặt tròn như trái táo trố mắt nhìn tôi.
Vài bé gái lén cười khúc khích. Một cậu bé tóc vàng đang nhiệt tình ngoáy mũi. Một cậu bé khác đang nấp sau lưng bạn bàn trước để cố tọng một cái bánh kẹp bơ dày vào miệng. Nhưng tất cả đều chăm chú dõi theo từng cử động của tôi.
Tôi khó chịu ngọ nguậy trên ghế. Chỉ mới một tuần trước tôi vẫn còn ngồi trên ghế băng giống như chúng, ngắm nhìn những cái khoát tay điệu bộ của thầy Hollermann khi nói về các nhà thơ trong các cuộc chiến tranh giải phóng. Hôm nay, chính tôi đã trở thành một Hollermann. Ít nhất là đối với những đứa trẻ ngồi kia.
"Các em, bây giờ chúng ta sẽ tập viết chữ 'L' hoa," tôi nói và bước đến gần bảng, "mười dòng chữ 'L', sau đó năm dòng 'Lina'[1] và năm dòng 'Lerche'[2]."
Tôi cầm phấn thong thả viết chữ lên bảng. Phía sau có tiếng sột soạt và lạch cạch. Tôi cứ chờ đợi lũ trẻ sẽ cười mình, bèn quay lại. Nhưng chỉ là lũ trẻ đã mở vở và kê bảng cho ngay ngắn: bốn mươi cái đầu ngoan ngoãn cắm cúi viết bài. Tôi gần như ngạc nhiên.
Chì viết cót két và bút mực sột soạt. Tôi đi đi lại lại giữa những chiếc ghế băng.
Trên tường treo một cây thánh giá, một con cú nhồi bông và một tấm bản đồ nước Đức. Ngoài cửa sổ những đám mây thấp trôi đi vội vã.
1.
Tên riêng. (N. D. )
2.
Chim sơn ca. (N. D. )
Tấm bản đồ nước Đức được in hai màu xanh lá cây và nâu. Tôi dừng lại trước nó. Các đường biên giới màu đỏ, chạy ngoằn ngoèo kỳ quái từ trên xuống dưới. Köln... Aachen, đây là những đường manh màu đen chỉ đường sắt... Herbesthal Liège, Brüssel, Lille... tôi kiễng chân... Roubaix...
Arras Ostende… Kemmelberg đâu nhỉ?... Nó hoàn toàn không có trên bản đồ... nhưng đây, Langemarck, Ypern, Bixschoote, Staden. Trên bản đồ chúng mới bé nhỏ làm sao, chỉ là những cái chấm bé tí xíu, những cái chấm bé tí xíu câm lặng... Vậy mà ở đó sấm sét đã vang trên bầu trời, mặt đất đã rung chuyển vào ngày ba mươi mốt tháng bảy khi cuộc tấn công lớn bắt đầu, và đến đêm thì chúng tôi đã mất toàn bộ các sĩ quan.
Tôi quay đi và nhìn xuống những mái đầu tóc vàng và đen đang háo hức cúi trên những chữ "Lina" và "Lerche". Thật kỳ lạ... Đối với chúng, những cái chấm nhỏ trên bản đồ chẳng là cái gì khác ngoài một bài học đơn giản, một vài địa danh mới và một số ngày tháng phải học thuộc lòng cho các bài học trong giờ lịch sử thế giói, đại loại như Cuộc chiến tranh bảy năm và Trận chiến ở rừng Teutoburg.
Từ dãy bàn thứ hai một cậu bé nhảy cẫng lên, tay giơ cao quyển vở.
Nó đã viết xong cả hai mươi dòng. Tôi lại gần và chỉ cho nó thấy nó đã viết nét ngoặc ở chân chữ L quá rộng. Cậu bé nhìn tôi với cặp mắt xanh ươn ướt, rạng rỡ đến nỗi tôi phải cụp mắt xuống trong giây lát. Tôi đi nhanh lên bảng và viết hai từ bắt đầu bằng chữ cái mới. "Karl" và... tôi ngập ngừng một giây, nhưng không sao cưỡng lại được, dường như một bàn tay vô hình đã dẫn dắt viên phấn... "Kemmelberg".
"Karl là gì?" tôi hỏi.
Tất cả các cánh tay giơ lên. "Một người đàn ông," chính cậu bé ban nãy hét to.
"Còn Kemmelberg?" tôi hỏi tiếp với chút bối rối sau một khoảng dừng ngắn.
Im lặng. Cuối cùng, một cô bé giơ tay. "Từ Kinh Thánh ạ," cô bé ngập ngừng nói.
Tôi nhìn cô bé một lúc. "Không," đoạn tôi bảo, "không đúng. Ý em muốn nói đến Ölberg hoặc Libanon, phải không?" Cô bé gật đầu bẽn lẽn.
Tôi vuốt tóc em. "Vậy thì chúng ta hãy viết từ đó. Libanon là một từ rất đẹp."
Tôi lại trầm ngâm đi đi lại lại giữa các dãy bàn. Đôi lúc tôi cảm thấy một ánh mắt tò mò từ sau mép một cuốn vở hướng vào mình. Tôi dừng lại bên cạnh lò sưởi và ngắm nhìn những gương mặt trẻ thơ ấy. Đa số có vẻ ngoan ngoãn và bình thường, một số tinh nghịch, vài đứa khác lại ngô ngố... nhưng ở một vài đứa có cái gì ánh lên sáng rỡ. Đối với chúng rồi đây trong cuộc đời không phải cái gì cũng là đương nhiên và không phải mọi thứ đều suôn sẻ...
Đột nhiên, tôi cảm thấy một sự chán nản ghê gớm. Ngày mai chúng tôi sẽ học đến giới từ, tôi nghĩ... Và tuần tới sẽ viết một bài chính tả... Sau một năm các em có thể thuộc lòng năm mươi câu hỏi trong sách giáo lý, sau bốn năm các em bắt đầu học bảng cửu chương... Và các em sẽ lớn lên, và cuộc đời sẽ lôi các em vào trong gọng kìm của nó, dịu êm hay dữ dội, ôn hoà hay phá phách... Các em sẽ có số phận của riêng mình, và nó sẽ đến ngoài ý muốn của các em, thế này hay thế khác... Lúc đó phỏng tôi giúp gì được cho các em với những cách chia động từ hay dãy dài liệt kê các con sông ở nước Đức của minh... Bốn mươi em... bốn mươi cuộc đời khác nhau đang chờ đợi các em. Giá như tôi có thể giúp các em hạnh phúc, tôi sẽ làm ngay! Nhưng ở đây liệu có ai thật sự giúp đỡ nổi người khác chứ? Ngay đến Adolf Bethke tôi cũng đã giúp được gì chưa?
Chuông vang lên. Giờ học đầu tiên kết thúc.
Ngày hôm sau, Willy và tôi mặc lễ phục chỉnh tề - may mà bộ của tôi được may xong đúng lúc - để đi thăm ông mục sư. Cái này là nghĩa vụ.
Chúng tôi được tiếp đón thân thiện nhưng cũng rất dè dặt, vì qua cụộc nổi loạn ở trường, chúng tôi đã bị lắm tai tiếng trước những người đàng hoàng đứng đắn. Buổi tối chúng tôi còn muốn tìm gặp ông xã trưởng, vì đây cũng là việc bắt buộc phải làm. Nhưng chúng tôi đã gặp ông ta trong quán rượu đồng thời cũng là trạm bưu điện.
Xã trưởng là một nông dân láu cá, mặt đầy nếp nhăn, việc đầu tiên ông ta làm là mời chúng tôi vài ly rượu bự. Chúng tôi nhận lời. Bấy giờ hai, ba người nông dân khác cũng vừa nháy mắt vừa tiến lại chào đón chúng tôi và cũng lần lượt mời chúng tôi một ly. Chúng tôi lịch sự cụng ly với họ.
Họ nhìn chòng chọc và che tay nhấm nháy với nhau "mấy chú gà con đáng thương"... Tất nhiên chúng tôi đã lập tức nhận ra là họ muốn chuốc chúng tôi say mèm để đùa vui. Dường như họ vẫn thường xuyên thử trò này; vì họ cười tủm tỉm kể về những giáo sinh trẻ khác đã từng ở đây. Có ba lý do khiến họ tin rằng chúng tôi sẽ sớm gục ngã: thứ nhất, theo quan điểm của họ sức chịu đựng của dân thành thị chắc chắn không bằng họ; thứ hai, thầy giáo là những anh chỉ biết học hành do đó tửu lượng sẽ kém hơn; thứ ba, mấy thằng còn trẻ măng thế này sao đã kịp tôi luyện khoản rượu chè. Cái này có thể đúng với những anh giáo sinh mà họ đã từng gặp trước chúng tôi; nhưng với chúng tôi thì họ đã quên tính đến một điều: chúng tôi đã qua vài năm làm lính và uống rượu như húp canh. Chúng tôi chấp nhận cuộc đấu. Mấy bác nông dân chỉ muốn đưa chúng tôi ra làm trò đùa một chút; nhưng chúng tôi sẽ bảo vệ ba lần danh dự, điều đó tiếp thêm động lực cho chúng tôi.
Ông xã trưởng, ông thư ký và vài bác nông dân lực lưỡng ngồi đối diện chúng tôi. Họ có vẻ là những tay uống khỏe nhất trong đám sâu rượu ở đây. Với nụ cười nhẹ ranh mãnh kiểu nông dân, họ cụng ly với chúng tôi.
Willy làm ra vẻ như cậu ta đã bốc lắm. Những tiếng cười xung quanh càng rộ lên.
Chính chúng tôi mời một chầu bia với rượu. Sau đó liên tục thêm bảy chầu nữa từ những người khác. Các nông dân tin chắc chúng tôi sẽ xong đời. Họ hơi ngạc nhiên khi thấy chúng tôi cứ thế nốc sạch ly không chớp mắt. Những ánh mắt dò xét của họ bắt đầu lóe lên chút kính nể. Willy nét mặt tỉnh rụi gọi tiếp một tuần rượu nữa.
"Mà không bia đâu nhé, chỉ rượu thôi, ly lớn!" cậu ta réo chủ quán.
"Trời đất quỷ thần ơi, chỉ rượu thôi sao?" ông xã trưởng hỏi.
"Tất nhiên, không thì chúng ta ngồi đến sáng mai mất," Willy bình thản nhận xét. "Uống bia chỉ tổ càng tỉnh!"
Ông xã trưởng lại càng trố mắt ngạc nhiên. Giọng rụt rè, một nông dân khẳng định rằng chúng tôi uống quá siêu. Hai người khác lặng lẽ đứng dậy và biến mất. Một vài đối thủ của chúng tôi đã thử tìm cách lén đổ rượu dưới gầm bàn. Nhưng Willy cảnh giác để không ai thoát được.
Cậu ta bắt họ đặt cả hai tay lên bàn và dốc hết ly rượu vào cổ họng. Những nụ cười tắt lịm. Chúng tôi đã lên chiếu trên.
Một giờ sau, phần lớn đám nông dân không mặt tái xanh tái xám nằm vạ vật các góc phòng thì cũng xiêu vẹo chếnh choáng ngoài sân. Đám ngồi bên bàn cứ vơi dần, đến lúc chỉ còn lại có ông xã trưởng và tay thư ký.
Cuộc đấu tay đôi giữa hai bọn họ và chúng tôi bắt đầu. Thật ra chúng tôi đã nhìn một hóa hai, nhưng họ còn lắp bắp không ra hơi từ lâu, điều này tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi.
Sau nửa giờ nữa, khi mặt cả bọn đều đã đỏ gay, Willy tung ra đòn quyết định.
"Bốn cốc đầy cognac," cậu ta hét về phía quầy bar.
Ông xã trưởng giật nảy người. Các cốc rượu đến. Willy giúi hai cốc rượu vào tay họ.
"Chúc sức khỏe!"
Họ nhìn chúng tôi chằm chằm.
"Cạn ly!" Willy hét toáng lên với cái đầu đỏ rực. "Nào cạn một hơi!"
Ông thu ký định trốn tránh, nhưng Willy không chịu.
"Uống làm bốn ngụm nhé," ông xã trưởng năn nỉ, lúc này đã rất bối rối.
“Một hơi thôi,” Willy khăng khăng, đứng dậy và cụng ly của mình với ông thư ký. Tôi cũng đứng bật dậy.
"Nào! Chúc sức khỏe! Cạn ly! Ly này dành chúc riêng các bác! “
chúng tôi hét lên với hai bác nông dân đang choáng váng. Như những con bê sắp bị đưa vào lò mổ, họ nhìn chúng tôi và nhấp một ngụm.
"Tiếp đi! Các bác định lẩn hả?" Willy hú lên. "Đứng dậy nào!"
Họ loạng choạng đứng lên và uống. Họ nhiều lần thử dừng lại giữa chừng, nhưng chúng tôi quang quác lên với họ, chỉ cho họ thấy cốc của chúng tôi. "Chúc sức khỏe!"; "Nốt đi!"; "Cạn đến đáy!" và họ đành nhắm mắt nhắm mũi nuốt cho bằng hết. Sau đó, với cặp mắt đờ dại như bi ve, họ trượt từ từ nhưng chắc chắn xuống đất. Chúng tôi đã giành chiến thắng; nếu uống chậm có khi họ đã cho chúng tôi đo ván rồi; nhưng với cách nốc rượu nhanh thì chúng tôi đầy kinh nghiệm, và áp đặt cho họ tốc độ uống của mình chính là cơ hội của chúng tôi.
Lảo đảo và tự hào, chúng tôi quan sát chiến trường. Ngoài chúng tôi chẳng còn ai đứng nổi. Người đưa thư, đồng thời là chủ quán, gục đầu trên quầy khóc thương người vợ đã chết khi sinh con lúc ông ta đang ở ngoài mặt trận. "Martha ơi, Martha," ông ta nức nở với giọng the thé lạ tai. Cô hầu bàn cho chúng tôi biết ông ta luôn làm vậy vào giờ này. Tiếng khóc cứ xói vào tai chúng tôi. Cũng đã đến lúc ra về.
Willy túm ông xã trưởng, còn tôi ôm ông thư ký nhẹ hơn, và chúng tôi cùng lôi họ về nhà. Đây là chiến thắng cuối cùng của chúng tôi. Chúng tôi đặt ông thư ký trước thềm nhà và gõ cửa cho đến khi cửa sổ sáng đèn.
Còn ông xã trưởng thì đã có người chờ sẵn. Bà vợ đứng ngay ở cửa.
"Lạy Chúa Giêsu," bà ta rít lên, "ra là mấy anh giáo mới! Còn trẻ thế mà đã thành sâu rượu rồi! Xem ra sẽ còn hay ho lắm đây!"
Willy cố thử giải thích với bà ta rằng đây là vấn đề danh dự, nhưng rối trí quá nói không nổi.
"Chúng cháu nên đặt bác ấy vào đâu ạ?" cuối cùng tôi hỏi.
"Hãy để cái đồ nát rượu này nằm tạm lên đây," bà ta quyết định.
Chúng tôi đặt ông xã trưởng lên ghế sofa. Sau đó Willy nở nụ cười ngây thơ như con trẻ hỏi xin một tách cà phê. Người đàn bà nhìn cậu ta như nhìn người ngoài hành tinh.
"Chúng cháu đã mang bác trai về cho bác mà," Willy rạng rỡ giải thích.
Trước những lời càn rỡ rất mực hồn nhiên như thế thì ngay bà già nghiêm khắc nhất cũng phải đầu hàng. Bà vợ ông xã trưởng lắc đầu rót cho chúng tôi mấy tách cà phê lớn và lên lớp dạy dỗ chúng tôi. Bà khuyên gì chúng tôi cũng vâng tuốt, đó là cách tốt nhất vào lúc này.
Từ hôm đó chúng tôi được dân làng xem như những người đàn ông thực thụ và được chào hỏi với sự kính nể.