Buổi chiều, chúng tôi ngồi trong sân một nhà máy bia. Đại đội trưởng, thượng úy Heel, bước ra từ văn phòng nhà máy và tập hợp chúng tôi lại. Có lệnh phải bầu ban đại diện của lính. Chúng tôi kinh ngạc.
Chuyện như thế này chưa từng xảy ra.
Rồi Max Weil chạy vào sân. Anh ta huơ huơ một tờ báo, la lớn: "Có cách mạng ở Berlin rồi!"
Heel ngoảnh lại. "Vớ vẩn," ông xẵng giọng, "chỉ là mấy vụ lộn xộn ở Berlin."
Nhưng hóa ra Weil còn chưa nói hết. "Hoàng đế đã bỏ trốn sang Hà Lan."
Chúng tôi choàng tỉnh. Hẳn Weil điên mất rồi. Heel đỏ mặt phừng phừng thét: "Đồ nói dối khốn kiếp!"
Weil đưa tờ báo cho ông ta. Heel vò nát tờ báo và giận dữ trừng mắt nhìn Weil. Ông ta không chịu được Weil vì anh ta là người Do Thái, một con người điềm đạm, lúc nào cũng thấy ngồi chúi đầu đọc sách. Trong khi Heel là một kẻ bạt mạng.
"Nhảm nhí tất," ông ta rít lên, hằm hằm nhìn Weil như muốn ăn tươi nuốt sống.
Max mở cúc áo khoác của mình và lôi ra tờ báo thứ hai - số báo đặc biệt. Heel ngó nhìn tờ báo, rồi xé nó tan thành từng mảnh và đi vào nhà.
Weil nhặt các mảnh vụn, ghép lại và đọc cho chúng tôi nghe những tin tức mới nhất. Chúng tôi ngồi đực mặt như một đàn gà bị trúng gió. Chẳng ai còn hiểu gì.
"Ý là ông ta muốn tránh một cuộc nội chiến," Weil nói.
"Vớ vẩn!" Kosole kêu lên. "Sao không nói như vậy từ trước kia đi. Ôi, chết tiệt! Vậy mà anh em ta đã vào sinh ra tử nơi đây!"
"Jupp, véo tớ một phát, xem tớ tỉnh hay mơ," Bethke lấc đầu nói. Jupp xác định rằng Bethke vẫn đang tỉnh. "Thế có nghĩa là đúng rồi," Bethke tiếp tục, "nhưng tớ vẫn chẳng hiểu quái gì cả. Nếu ai đó trong bọn mình làm vậy, thằng đó sẽ bị dựa cột ngay lập tức."
"Lúc này tớ không dám nghĩ đến Weßling và Schröder," Kosole nói, siết chặt nắm đấm, "không thì tớ sẽ nổ tung vì căm uất. Cứ nhớ đến Schörder - chú gà con non nớt, một đứa trẻ - nằm lại nơi chiến trường, bị cán bẹp như tờ giấy, còn cái kẻ khiến cậu ấy hy sinh thì bỏ chạy! Khốn nạn đến thế là cùng!" Anh đá mạnh vào một thùng bia.
Willy Homeyer xua tay vẻ khinh miệt. "Ta nói chuyện gì đó khác đi,"
cậu ta đề nghị, "đối với tôi, con người đó vĩnh viễn không còn tồn tại."
Weil giải thích rằng trong nhiều trung đoàn đã thành lập Hội đồng quân nhân. Các sĩ quan giờ không còn là chỉ huy nữa. Nhiều người trong số họ đã bị lột quân hàm trên vai.
Anh ta muốn chúng tôi cũng thành lập một Hội đồng quân nhân.
Nhưng anh ta nhận được rất ít sự ủng hộ. Chúng tôi chẳng muốn thành lập cái gì nữa hết. Chúng tôi muốn về nhà. Cứ thế này mà về cũng có sao.
Cuối cùng chúng tôi vẫn bầu ra ba đại diện: Adolf Bethke, Max Weil và Ludwig Breyer.
Weil đòi Ludwig tháo quân hàm trên vai.
"Điên à," Ludwig mệt mỏi nói và gõ gõ ngón tay lên thái dương.
Bethke đẩy Weil ra sau. "Ludwig cùng hội bọn mình!" anh nói ngắn gọn.
Ludwig là lính tình nguyện đến với đơn vị chúng tôi và được thăng hàm trung úy. Cậu ây xưng hô thân mật không chỉ với đám Troßke, Homeyer, Bröger và tôi - chuyện này đương nhiên, vì chúng tôi là bạn học cũ — mà cả với những người lính lớn tuổi hơn, khi không có mặt các sĩ quan khác. Và việc đó khiến cậu ấy chiếm được cảm tình lớn từ anh em.
"Nhưng còn Heel," Weil vẫn ngoan cố.
Nghe dễ hiểu hơn rồi đây. Weil hay bị Heel hoạnh họe, và chẳng có gì lạ khi giờ đây Weil muốn nhấm nháp thắng lợi của mình. Chúng tôi thì chẳng thèm quan tâm. Heel khá là thô bạo thật, nhưng ông ta liều mình như chẳng có và luôn xông lên phía trước. Lính ăn nhau ở điểm này.
"Thì cậu thử nói chuyện với ông ấy xem," Bethke nói.
"Nhưng đừng quên mang theo bông băng nhé!" Tjaden hét với theo.
Nhưng mọi việc hóa ra lại khác. Heel bước ra khỏi văn phòng đúng lúc Weil định đi vào. Tay ông ta cầm vài tờ giấy in sẵn và chỉ chỉ vào đó.
"Đúng thế thật," ông ta bảo Max.
Weil bắt đầu nói. Khi anh ta nhắc đến ngù vai, Heel phác một cử chỉ bất ngờ. Chúng tôi tưởng rằng ngay lúc này sẽ xảy ra chuyện ầm ĩ, nhưng trước sự ngạc nhiên của chúng tôi, đại đội trưởng bỗng chỉ nói: "Cậu nói đúng." Ông ta quay sang Ludwig và đặt tay lên vai cậu ta. "Breyer, có lẽ cậu sẽ không hiểu được điều này, hả? Chỉ còn lại cái áo lính. Mọi thứ khác đều đã thành dĩ vãng."
Không ai trong chúng tôi thốt nổi lời nào. Đó không còn là Heel mà chúng tôi vẫn biết, người hằng đêm vẫn cầm cây ba toong đi tuần tra và được xem như xương đồng da sắt chẳng đạn nào xuyên thủng: người đàn ông trước mặt chúng tôi lúc này là một người nói năng khó nhọc và hầu như không còn đứng vững trên đôi chân của mình.
Buổi tối, khi đã ngủ thiếp đi, tôi bị tiếng thì thào đánh thức.
44
"Cậu bịa," tôi nghe tiếng Kosole."Thật mà," Willy cãi, "thì anh tự đi nhìn xem."
Họ lồm cồm bò dậy và đi ra sân. Tôi theo sau họ. Trong văn phòng đỏ đèn, có thể nhìn rõ từ bên ngoài. Heel đang ngồi ở bàn. Áo khoác sĩ quan đặt trước mặt. Không còn ngù vaiông ta mặc một chiếc áo lính. Hai tay Heel ôm đầu, và - nhưng không thể có chuyện này được - tôi bước lại gần hom - Heel, Heel đang khóc.
"Thế đấy," Tjaden thì thầm.
"Xéo!" Bethke nói và đá Tjaden một cú. Chúng tôi bối rối nhón chân quay về.
Sáng hôm sau, chúng tôi nghe nói một viên thiếu tá ở trung đoàn bên cạnh đã tự sát bằng súng khi hay tin hoàng đế tháo chạy.
Heel xuất hiện. Gương mặt ông xám xịt, phờ phạc vì mất ngủ. Ông ta nhỏ nhẹ căn dặn những việc cần thiết. Rồi ông ta lại bỏ đi. Tất cả chúng tôi đều cảm thấy kinh khủng. Người ta đã lấy đi thứ cuối cùng mà chúng tôi còn. Giờ đây chúng tôi đã mất luôn mặt đất dưới chân mình.
"Cảm giác mình thực sự bị phản bội," Kosole cau có nói.
Đội quân lúc này vào hàng ngũ và ủ rũ lên đường hoàn toàn không còn là đội quân của ngày hôm qua. Một đoàn quân thất trận, bị bỏ rơi.
Tiếng xẻng va leng keng theo mỗi bước đi... một giai điệu buồn tẻ... vô ích... vô ích...
Chỉ có Ledderhose là vui như sáo. Anh ta bán đồ hộp và đường từ trong kho đồ Mỹ của mình.
Tối hôm sau chúng tôi đặt chân lên đất Đức. Phải đến tận bây giờ, khi không còn nghe tiếng Pháp xung quanh nữa, chúng tôi mới dần thật sự tin vào hòa bình. Sâu thẳm bên trong, chúng tôi vẫn luôn lường trước sẽ có lệnh bắt quay gót vù trở lại chiến hào, vì lính tráng luôn ngờ vực điều tốt đẹp, nên tốt hơn là ngay từ đầu hãy cứ tính đến điều tồi tệ. Nhưng giờ đây một cảm giác ấm áp dịu dàng từ từ xâm chiếm chúng tôi.
Chúng tôi tiến vào một ngôi làng lớn. Vài vòng hoa héo lủng lẳng treo ngang đường. Rõ ràng là đã có quá nhiều đoàn quân đi qua đây, đến nỗi người ta chẳng còn thiết làm một cái gì đó đặc biệt cho đám quân cuối cùng. Vì thế chúng tôi đành hài lòng với dòng chữ "Chào mừng!" bạc phếch trên vài ba tám áp phích nhàu nhĩ vì nước mưa được viền khung vụng về bởi những vòng lá sồi làm bằng giấy màu xanh lục. Dân chúng gần như chẳng còn ngó ngàng gì đến chúng tôi khi chúng tôi đi ngang qua, họ đã quá quen rồi. Nhưng với chúng tôi việc đặt chân lên đất quê hương là mới mẻ, và chúng tôi thèm khát những lời nói ân cần, những ánh mắt thân thiện, cho dù vẫn nói ra mồm rằng mình thì nhổ toẹt vào những thứ ủy mị đó. Lẽ ra ít nhất các cô gái cũng có thể chạy ra đứng vẫy chào chúng tôi chứ. Tjaden và Jupp cứ chốc chốc lại tìm cách ơi ới bắt chuyện với một hai cô, nhưng chẳng được gì. Chắc vì trông chúng tôi quá nhếch nhác bẩn thỉu. Cuối cùng cả hai đành bỏ cuộc.
Chỉ có bọn trẻ con là theo chúng tôi. Chúng tôi dắt tay chúng và chúng tung tăng chạy bên cạnh. Chúng tôi chia kẹo sô cô la cho bọn trẻ sau khi giữ bớt lại một phần, vì cố nhiên chúng tôi cũng muốn mang chút quà về nhà.
Adolf Bethke bế một bé gái lên. Cô bé kéo ria anh như thể người ta kéo cương ngựa và cười như nắc nẻ vì Adolf làm mặt nhăn nhó. Hai bàn tay bé xíu vỗ vỗ lên mặt anh. Adolf nắm lấy một bàn tay cô bé và chìa cho tôi xem nó mới nhỏ xinh làm sao.
Khi Adolf không còn làm mặt nhăn nhó nữa, cô bé òa lên khóc. Adolf cố gắng dỗ dành, nhưng cô bé càng khóc to hơn, nên anh đành thả nó xuống đất.
"Có vẻ như bọn mình đã trở thành những gã ngoáo ộp thực thụ,” 'Kosole càu nhàu.
"Chúng sợ quá đi chứ, mang cái bộ mặt kinh dị từ chiến hào về thì ai mà chả sợ," Willy tuyên bố.
"Bọn mình bốc mùi máu, vấn đề là ở đó," Ludwig Breyer thủng thẳng.
"Vậy chắc bọn mình phải tắm thôi," Jupp suy tính, "tắm rửa rồi có lẽ bọn con gái cũng sẽ để mắt đến hơn."
"Chà, giá như chỉ cần tắm rửa sạch sẽ là đủ," Ludwig trầm ngâm bảo.
Chúng tôi tiếp tục đi trong tâm trạng buồn bực. Sau bấy nhiêu năm ngoài mặt trận, chúng tôi đã hình dung chuyến trở về quê hương khác hẳn.
Cứ tưởng mình được chờ mong lắm, giờ mới thấy ai ở nhà cũng đã quay lại bận bịu với công việc của họ. Mọi sự đã tiếp tục trôi và đang tiếp tục trôi, gần như chúng tôi đã là những người thừa. Ngôi làng này hiển nhiên không phải là cả nước Đức, nhưng cơn giận vẫn cứ ứ nghẹn nơi cổ họng, và một bóng đen quét qua chúng tôi, một dự cảm lạ kỳ.
Xe cộ rầm rầm chạy ngang qua, những người đánh xe la hét, mọi người lén ngước nhìn rồi vội vã chạy theo những suy nghĩ và lo toan của họ. Đồng hồ ở tháp nhà thờ điểm chuông, và làn gió ẩm ướt thổi trên đầu chúng tôi. Duy có một bà cụ đội chiếc mũ gắn những dải ruy băng dài cứ chạy không biết mệt dọc hàng quân của chúng tôi và rụt rè hỏi tin tức về một anh lính tên là Erhard Schmidt.
Chúng tôi được xếp vào ở trong nhà kho lớn. Nhưng mặc dù đã hành quân một chặng đường dài, chẳng ai trong chúng tôi nghỉ ngơi. Chúng tôi kéo nhau đến quán rượu.
Nơi đây thật sôi động. Có loại rượu vang ngọt của năm nay, ngon tuyệt, uống vào thấm xuống tận chân. Thế nên chúng tôi càng thích ngồi đó. Khói thuốc lững lờ trôi dưới trần nhà thấp lè tè, còn rượu vang tỏa hương của đất và mặt trời mùa hạ. Chúng tôi lôi đồ hộp của mình ra, phết thịt lên trên những lát bánh mì bơ dày, cắm dao lên mặt bàn gỗ rộng ngay bên cạnh mình và bắt đầu đánh chén. Ngọn đèn dầu tỏa sáng xuống chúng tôi như một người mẹ hiền.
Buổi tối khiến thế gian đẹp hơn. Trong chiến hào thì không, nhưng trong hòa bình thì quá hiển nhiên. Chiều nay chúng tôi tiến vào ngôi làng này trong tâm trạng bực bội, nhưng bây giờ chúng tôi tươi tỉnh hẳn lên.
Ban nhạc nhỏ chơi trong góc quán nhanh chóng được anh em chúng tôi tiếp viện. Trong chúng tôi không chỉ có những tay biết chơi dương cầm và thổi kèn harmonica, mà có hẳn một nhạc công thực thụ người Bayer chơi guitar bass. Lại thêm cả Willy Homeyer, cậu ta tự chế cho mình một cây vĩ cầm quỷ quái, và chơi nhạc trên những cái nắp chậu giặt thay cho trống, chiêng và thanh la.
Nhưng của lạ khiến chúng tôi nhanh bốc hơn cả rượu vang là các cô gái. Họ khác hẳn lúc ban chiều, tươi cười và dễ gần. Hay đây là những cô gái khác? Đã lâu chúng tôi chăng còn nhìn thấy các cô gái nên ngu ngơ khó nhận biết.
Thoạt đầu chúng tôi vừa khao khát họ vừa lúng túng, chúng tôi không tin tưởng chính mình, ở ngoài mặt trận chúng tôi đã quên cách cư xử với phụ nữ. Nhưng rồi Ferdinand Kosole bắt đầu nhảy valse với một cô nàng chắc nịch có bộ ngực đồ sộ như một ụ súng lý tưởng dành cho anh.
Những người khác theo anh ra sàn nhảy.
Rượu vang ngọt, đậm hơi men ngân nga khoan khoái trong đầu, các cô gái chạy qua chạy lại, âm nhạc đang chơi, và chúng tôi ngồi tụ tập quanh Adolf Bethke trong góc quán.
"Này mấy nhóc," anh nói, "mai hoặc ngày kia là chúng ta đã về đến nhà. Ôi chao mấy nhóc, mấy nhóc ơi, bà xã tớ... đã mười tháng rồi chứ ít gì...”
Tôi tì người qua bàn nói chuyện với Valentin Laher bấy giừ đang lạnh lùng và cao ngạo săm soi các cô gái. Một cô tóc vàng ngồi ngay bên anh ta, nhưng anh lại tỏ vẻ ít để ý đến cô. Khi tôi ngả người về phía trước, một cái gì đó trong áo khoác của tôi chạm vào bàn. Đó là chiếc đồng hồ của Weßling. Tưởng như ngày đó đã lùi xa lắm rồi!...
Jupp vớ được cô nàng to béo nhất. Trông anh chàng nhảy với cô ta loi choi như một dấu hỏi. Bàn tay to bè của Jupp xòe rộng trên bộ mông đồ sộ của cô gái, các ngón thi nhau gõ như chơi dương cầm. Cô béo cứ hé cặp môi ướt át cười tình với Jupp khiến anh chàng mỗi lúc một hưng phấn.
Cuối cùng thì anh ta nhè hưóng cửa mà tiến và cùng với cô gái lủi ra sân.
Vài phút sau tôi ra vườn tìm góc khuất gần nhất, nhưng ở đó lại vướng một hạ sĩ quan mồ hôi nhễ nhại cùng một cô gái. Tôi mò mẫm trong vưòn và vừa định bắt đầu, thì sau lưng nghe cái rầm. Tôi quay phắt lại thì thấy Jupp cùng với cô béo đang nằm lăn dưới đất. Họ đã cùng cái bàn ngoài vườn đổ sập xuống. Trông thấy tôi, cô béo thổi phù và còn thè lưỡi ra với tôi. Jupp thì hầm hè. Tôi vội lủi vào sau các lùm cây và giẫm phải tay ai đó – thật là một đêm đen đủi...
"Đồ bò đực, mù à?" một giọng trầm gầm lên.
"Làm sao mà tao biết được có con lừa nằm ở đây?" tôi tức giận vặc lại.
Cuối cùng tôi cũng tìm được một góc yên tĩnh.
Làn gió mát lạnh, rất dễ chịu sau khi phải hít thở cái không khí đặc quánh khói thuốc trong quán, những góc mái nhà tối sẫm, những vòm lá, sự yên tĩnh và tiếng nước róc rách thanh bình khi tôi tiểu tiện... Albert đến và đứng lại bên cạnh tôi. Mặt trăng chiếu sáng. Hai thằng xả ra những tia bạc lấp lánh.
"Tuyệt, hả Ernst?" Albert nói.
Tôi gật đầu. Chúng tôi còn đứng ngắm trăng hồi lâu.
"Vì tất cả những thứ khốn kiếp đã qua rồi, hả Albert?"
"Ừ, Ernst, quỷ thật..."
Sau lưng chúng tôi có tiếng răng rắc. Từ trong các bụi cây vọng ra những tiếng kêu hân hoan cố kìm nén của các cô gái. Đêm như một cơn dông tích đầy sự sống đang bùng nổ, cháy lan tỏa cùng nhau, điên cuồng và hối hả.
Ai đó rên lên trong vườn. Có tiếng cười khúc khích đáp lại. Những cái bóng leo xuống từ chỗ chứa cỏ khô. Hai người đứng trên cái thang.
Người đàn ông cứ rúc mãi đầu vào váy áo của cô gái như một gã điên, miệng lắp bắp gì đó. Còn cô gái thì cất tiếng cười, giọng khàn khàn như thể có cái bàn chải đang cọ vào các dây thần kinh của chúng tôi. Tôi rùng mình, như có kiến bò suốt dọc sống lưng. Hôm qua và hôm nay, cuộc sống và cái chết, sao mà gần nhau đến vậy.
Tjaden đi ra từ trong bóng tối của khu vườn, đầm đìa mồ hôi nhưng mặt mày sáng rỡ.
"Này các cậu, giờ mới lại biết là mình đang sống," cậu ta nói và cài lại khuy áo.
Chúng tôi đi vòng qua ngôi nhà và đụng phải Willy Homeyer. Trên một ruộng bắp cải, Willy đốt một đống lửa lớn và quẳng vào đó mấy vốc đầy khoai tây chiến lợi phẩm. Giờ cậu ta ngồi đó một mình, bình yên và mơ mộng trước đống lửa, chờ khoai tây chín. Xung quanh có vài hộp sườn của Mỹ đã mở nắp. Con chó nằm bên cạnh cậu ta, vẻ chăm chú.
Lửa bập bùng hắt ánh đồng lên mớ tóc hung của Willy. Sương mù tràn lên từ những đồng cỏ dưới kia. Các vì sao lấp lánh. Chúng tôi ghé ngồi xuống bên Willy và lôi khoai tây từ trong đống lửa ra. Vỏ khoai đã cháy đen nhưng trong ruột vàng óng và tỏa mùi thơm. Chúng tôi cầm những miếng sườn bằng cả hai tay mà gặm như đang thổi kèn harmonica.
Vừa ăn chúng tôi vừa uống rượu mạnh từ những chiếc ca nhôm của lính.
Khoai tây mới ngon làm sao! Có phải trái đất đang quay? Mà chúng tôi đang ở đâu vậy? Chẳng phải chúng tôi lại đang là những chàng trai từng suốt ngày ngồi ngoài đồng bới khoai tây từ dưới lớp đất hăng nồng, sau lưng là những cô gái má đỏ hây hây mặc những chiếc váy xanh bạc màu, tay xách giỏ? Ôi, ngọn lửa nướng khoai của tuổi trẻ! Những làn khói trắng bay trên cánh đồng, ngọn lửa kêu lách tách, còn lại là tịch mịch.
Khoai tây là loại hoa màu được thu hoạch sau cùng, và khi tất cả đã thu hái xong, chỉ còn có mặt đất trải rộng, không khí trong trẻo, làn khói thân thương màu trắng, nồng nồng, và mùa thu cuối cùng. Khói nồng, hương nồng của mùa thu, ngọn lửa nướng khoai của tuổi trẻ... làn khói bay, bay, và bay mất, những gương mặt của anh em đồng đội, chúng tôi đang trên đường về, chiến tranh đã kết thúc, mọi thứ tan chảy lạ kỳ... và bông lại xuất hiện ngọn lửa nướng khoai, rồi mùa thu, và cuộc đời.
"Chao, Willy, Willy..."
"Quá ngon lành, hả?" cậu ta ngước lên hỏi, hai tay đầy thịt và khoai tây.
Chà, đồ đầu bò, tớ đang nghĩ đến điều hoàn toàn khác.
Đống lửa đã cháy hết. Willy chùi tay vào quần và gập con dao lại. Vài con chó sủa trong làng. Còn thì yên tĩnh. Không còn tiếng nổ của đạn pháo.
Không tiếng rầm rầm của xe kéo pháo. Thậm chí không cả tiếng rì rì cẩn trọng của xe cứu thương. Một đêm mà số người chết ít hơn hẳn mọi đêm trong suốt bốn năm qua.
Chúng tôi quay lại quán rượu. Cuộc vui đã tàn. Valentin cởi áo và biểu diễn vài động tác trồng cây chuối. Các cô gái vỗ tay nhưng Valentin không vui. Anh buồn rầu nói với Kosole: "Tớ đã có thời là nghệ sĩ nhào lộn hay phết đấy Ferdinand. Nhưng nay thì đến gánh xiếc rong ở hội chợ cũng chẳng thèm nhận tớ. Xương cốt rã hết rồi. Trò nhào lộn của Valentin giờ chỉ là một tiết mục trong dĩ vãng! Giờ tớ bị thấp khớp..."
"Dào ôi, hãy mừng là xương cốt cậu còn lành lặn!" Kosole kêu lên và đấm tay xuống mặt bàn. "Willy, nổi nhạc lên!"
Homeyer hăng hái gõ trống và lục lạc. Không khí sôi động trở lại. Tôi hỏi thăm Jupp xem cô béo thế nào. Anh ta phẩy tay vẻ khinh thường.
"Ôi chà," tôi sửng sốt bảo, "nhanh chán thế!"
Jupp nhăn mặt. "Tớ nghĩ cô ả yêu mình, cậu hiểu không? Thế mà sau đó con điếm ấy lại đòi tớ tiền mới đau chứ. Đã vậy tớ còn phang cả đầu gối vào cái bàn chết tiệt trong vườn, manh đến nỗi tưởng không còn lê được chân."
Ludwig Breyer ngồi ở bàn, im lặng và xanh xao. Lẽ ra phải đi ngủ từ lâu rồi mới phải, nhưng cậu ấy không muốn, vết thương trên cánh tay cậu ấy đang lành dần, bệnh kiết lị cũng đã đỡ đôi phần. Nhưng cậu ấy vẫn đầy ưu tư.
"Ludwig," Tjaden nói giọng lè nhè, "cậu cũng nên ra vườn tí đi... sẽ tốt cho mọi thứ đấy..."
Ludwig lắc đầu, mặt bỗng nhiên tái dại. Tôi ngồi xuống bên cậu ấy.
"Cậu không hề vui vì sắp về nhà sao?" tôi hỏi.
Ludwig đứng dậy bỏ đi. Tôi không hiểu cậu ấy nữa. Lát sau tôi bắt gặp cậu ấy đứng hoàn toàn lẻ loi ngoài vườn. Tôi cũng không hỏi gì nữa.
Chúng tôi im lặng quay vào.
Chúng tôi đụng phải Ledderhose ở cửa. Anh ta đang định chuồn đi cùng ả béo. Jupp cười nhăn nhở: "Thằng cha sẽ được phen mừng hụt!"
"Có cô ả mừng hụt ấy," Willy nói, "dễ cậu tưởng Arthur sẽ chịu nhả ra dù chỉ một xu chắc?"
Rượu vang lênh láng trên bàn, đèn tỏa khói khét mù, váy áo các cô gái tung bay. Một sự mỏi mệt ấm áp khiến đầu óc tôi chuếnh choáng, mọi thứ trở nên mờ ảo, giống như pháo sáng trong sương mù; tôi từ từ gục đầu xuống bàn... Đêm như con tàu tốc hành, lướt nhẹ và tuyệt vời êm ái về quê hương: chúng tôi sắp về đến nhà.