Người ta thông báo chiều nay sẽ có biểu tình trong thành phố. Từ nhiều tháng trở lại đây giá cả tăng vọt khắp nơi, và cảnh túng đói trở nên tệ hại còn hơn cả thời chiến tranh. Tiền lương không đủ để mua sắm những thứ cần thiết nhất, và ngay cả khi có tiền, bạn cũng thường chẳng thể mua được gì với số tiền đó. Vậy nhưng ngày càng mọc ra nhiều quán rượu và vũ trường, đầu cơ và lừa đảo cũng không ngừng tăng.
Những nhóm công nhân đình công rời rạc kéo nhau đi dọc các đường phố. Đây đó tụ lại thành những đám đông. Có tin đồn quân đội đã được lệnh tập trung trong doanh trại. Nhưng chưa thấy biểu hiện gì của việc này.
Những tiếng í ới to có nhỏ có vang lên. Ai đó đang diễn thuyết trong một góc phố. Nhưng bỗng chốc tất cả đều im lặng...
Một đoàn người trong những bộ áo lính chinh chiến bạc màu chầm chậm tiến lại gần. Họ đi theo hàng lối, luôn luôn bốn người một hàng. Dẫn đầu là những khẩu hiệu lớn được giương lên: "Lòng biết ơn của Tổ quốc đâu rồi?", "Thương bệnh binh đang chết đói".
Giương khẩu hiệu là những thương binh chỉ còn một cánh tay. Họ thường xuyên ngoái lại, xem đoàn người phía sau có theo kịp hay không.
Bởi vì họ đi nhanh nhất.
Ngay sau họ là những người dắt chó chăn cừu bằng những dây da ngắn. Đàn chó đeo hình chữ thập đỏ của người mù trên vòng cổ. Chúng chăm chú đi bên các ông chủ của mình. Khi đoàn người dừng, chúng sẽ lập tức ngồi xuống và những người mù đứng lại. Thỉnh thoảng những con chó ngoài phố vừa sủa vang vừa vẫy đuôi xông vào đoàn, muốn chơi đùa, vật lộn với chúng. Nhưng chúng chỉ ngoảnh đầu đi không quan tâm đến trò hít ngửi và sủa ăng ăng đó. Dù tai chúng vẫn dỏng lên nghe ngóng và đôi mắt vẫn sống động, nhưng chúng chỉ thong thả bước, như thế chúng không bao giờ còn muốn chạy nhảy nữa như thể chúng nhận thức được chúng đang ở đây để làm gì. Chúng khác với những kẻ đồng loại kia cũng như các xơ giàu lòng nhân từ khác với các cô gái bán hàng vui vẻ. Những con chó ngoài phố cũng không cố gắng lâu; sau ít phút chúng quay đầu và bỏ chạy vội vàng như thể chúng đang chạy trốn thứ gì đó. Chỉ có một con chó săn to lớn đứng lại với hai chân trước choãi rộng, cất tiếng sủa chậm rãi, trầm trầm, ai oán, cho tới lúc cả đoàn đi qua nó...
Thật là lạ... Tất cả những người này đều mù do bị thương; do đó họ di chuyển khác với những người mù bẩm sinh. Họ mau lẹ hơn đồng thời thận trọng hơn với những cử chỉ vốn chưa có được sự tự tin của nhiều năm dài trong bóng tối. Trong họ vẫn còn sống động ký ức về màu sắc, bầu trời, trái đất và hoàng hôn. Họ cử động như thể họ vẫn có đôi mắt, vô tình ngẩng đầu và ngoảnh lại để nhìn người đang nói chuyện với mình. Một số đeo miếng che màu đen hoặc băng trên mắt, nhưng đa số đi mà không đeo gì, như thể không có chúng thì màu sắc và ánh sáng sẽ gần hơn một chút.
Hoàng hôn nhợt nhạt lấp lánh đằng sau những cái đầu cúi xuống của họ.
Trong các gian kính bày hàng, những ngọn đèn đầu tiên bắt đầu thắp sáng.
Nhưng họ hầu như không cảm nhận được không khí nhẹ nhàng và dịu mát của buổi tối trên trán mình... Với những đôi ủng nặng nề, họ chậm rãi đi xuyên qua cái bóng tối vĩnh cửu, trải rộng xung quanh họ như một đám mây, và những suy nghĩ của họ cứ dai dẳng và buồn bã leo lên leo xuống những con số nghèo nàn mà lẽ ra phải là bánh mì, sự chăm sóc và cuộc sống đối với họ nhưng lại vẫn chưa đủ sức vì quá ít ỏi. Đói khát và bần hàn uể oải cựa quậy trong những khoang tối om của trí não họ. Bất lực và tràn ngập nỗi sợ hãi nặng nề, họ cảm nhận được sự cận kề của chúng, nhưng họ không thể nhìn thấy và cũng không thể làm gì chống lại chúng ngoài việc cùng nhau đi bộ chậm chạp qua các đường phố và ngẩng những gương mặt chết chóc từ bóng tối ra ánh sáng với lời khẩn cầu câm lặng tới những người khác, những người vẫn còn sáng mắt.
Đi sau những người mù là những người chột mắt, những gương mặt rách nát của đám người bị thương ở đầu, những cái miệng méo xệch, lồi lõm, những cái đầu mất hẳn mũi và hàm dưới, chỉ một vết sẹo đỏ lớn duy nhất phủ kín gương mặt, với vài cái lỗ ở những chỗ vốn trước kia là miệng và mũi. Nhưng bên trên sự tàn phá này là những cặp mắt người buồn bã, chất vấn, lặng câm.
Theo sau họ là hàng dài những thương binh cụt chân. Nhiều người mang chân giả, hấp tấp xiêu vẹo bước đi, gõ lóc cóc trên đá lát đường, như thể toàn thân họ đều làm bằng sắt gắn những bản lề.
Sau đó đến những người bị chấn thương sọ não. Tay họ, đầu họ, quần áo họ, thân thể họ rung bần bật như thể họ vẫn đang run lên vì sợ hãi. Họ không đủ sức chế ngự chúng nữa, ý chí của họ đã bị dập tắt, các cơ bắp và dây thần kinh nổi loạn chống lại bộ óc, cặp mắt họ trở nên đờ đẫn và bất lực.
Những người chỉ còn một mắt và một tay đẩy những chiếc xe nhỏ bằng mây đan, trên phủ vải dầu, chở những thương binh nặng, những người từ nay chỉ còn có thể sống trên xe lăn. Giữa đám họ có vài người đang kéo một chiếc xe sàn phẳng, loại mà cánh thợ mộc vẫn dùng để vận chuyển khung giường và quan tài. Trên xe ngự một thân người. Hoàn toàn không có chân. Đó là phần thân trên của một người đàn ông lực lưỡng, chỉ có vậy thôi.
Anh ta có cái cổ chắc nịch và một guong mặt phưong phi quả cảm với một bộ ria mép rậm. Anh ta có lẽ từng làm nghề đóng gói đồ gỗ. Bên cạnh anh ta có một tấm biển vói dòng chữ xiêu vẹo chắc hẳn do chính anh ta viết: "Tôi cũng muốn tự bước đi lắm, hỡi những người anh em". Người đàn ông ngồi với vẻ mặt nghiêm trang; chỉ đôi khi anh ta chống tay nâng mình cố nhích một chút trên xe để thay đổi tư thế.
Đoàn diễu hành chậm rãi kéo qua các đường phố. Nó đi ngang chỗ nao, nơi đó trở nên im ắng. Một lần đoàn người phải dừng khá lâu ở góc phố Haken. Người ta đang xây ở đó một vũ trường mới rất lớn, và con phố bị chặn bởi hàng đống cát xi măng, giàn giáo. Giữa các giàn giáo phía trên cửa, biển tên đã sáng rực dòng chữ bằng đèn đỏ: "Astoria: Vũ trường và Bar". Chiếc xe kéo chở nửa thân người dừng lại đúng chỗ này chờ người ta dọn đi một số thanh sắt. Ánh sáng đỏ ối của tấm biển phủ lên người thương binh và tô gương mặt đang lặng lẽ ngắm nhìn của anh ta thành màu đỏ sẫm, như thể nó đang nở phồng lên vì quá đỗi say sưa và sẽ lập tức nổ tung như một tiếng thét kinh hoàng.
Nhưng sau đó đoàn người đi tiếp, và lại vẫn chỉ gương mặt của người thợ đóng gói đồ gỗ, xanh xao vì nằm quân y viện và vì ánh sáng nhợt nhạt của buổi tối, là mỉm cười biết ơn, khi một đồng đội nhét cho anh ta một điếu thuốc vào giữa đôi môi. Những nhóm thương binh lặng lẽ kéo qua các đường phố, không hô hào, không phẫn nộ, bình tĩnh, chỉ than thở, không đổ lỗi... Họ biết rằng ai không thể bắn được nữa cũng sẽ chẳng còn mong được giúp đỡ nhiều. Họ sẽ đi đến tòa thị chính và đứng ở đó một lúc sẽ có vị thư ký nào đó ra nói chuyện với họ, rồi họ sẽ giải tán va ai lại trở về nhà nấy, về với những căn nhà chật chội, với những đứa con xanh xao và cảnh đói nghèo u ám, chăng có nhiều hy vọng... Họ chỉ là tù nhân của cái số phận mà những kẻ khác đã gieo cho họ...
Càng tối muộn, thành phố càng bất an hơn. Tôi cùng Albert đi qua các con phố. Ở mỗi góc phố đều có những đám người tụ tập. Xung quanh có đủ loại tin đồn. Nghe nói quân đội đã đụng độ với một đoàn công nhân đang biểu tình.
Từ phía nhà thờ Marie đột nhiên vang lên tiếng súng nổ; thoạt tiên chỉ đơn lẻ, sau đó là một tràng dài. Albert và tôi nhìn nhau, rồi chúng tôi chẳng nói chẳng rằng tiến về hướng có tiếng súng.
Mỗi lúc càng thêm đông người chạy ngược về phía chúng tôi. "Lấy vũ khí mau lên, lũ khốn nạn đang bắn," họ hét to. Chúng tôi bước nhanh hơn. Chúng tôi luồn lách giữa những đám người, chúng tôi chen lấn tiến lên và giờ đây chúng tôi đang chạy... Một sự kích động nguy hiểm, dữ tợn thúc đẩy chúng tôi lao về phía trước. Chúng tôi thở hổn hển. Tiếng súng tành tạch tăng lên.
"Ludwig!" tôi gọi.
Cậu ấy chạy bên cạnh chúng tôi. Môi cậu ấy mím chặt, xương hàm bạnh ra, đôi mắt lạnh lùng và căng thẳng... Cậu ấy lại mang vẻ mặt của chiến hào. Albert cũng vậy. Tôi cũng thế. Chúng tôi đang chạy theo tiếng súng nổ như chạy theo một tín hiệu có sức lôi kéo ghê gớm.
Đám đông trước mặt chúng tôi vừa la hét vừa lùi lại. Chúng tôi lách lên trước. Đám phụ nữ kéo tạp dề che mắt và chạy tán loạn. Một tiếng thét giận dữ vang lên. Người ta đang kéo một người bị thương ra.
Chúng tôi chạy đến quảng trường chợ. Ở đó quân đội đã được triển khai quanh tòa thị chính. Những cái mũ sắt xam xám lấp loáng. Trước bậc tam cấp dẫn vào tòa thị chính lù lù một khẩu súng máy sẵn sàng nhả đạn.
Quảng trường trống không... Người ta chỉ chen chúc trên các nẻo đường dẫn tói đó. Có họa là điên mới bước tiếp. Khẩu súng máy đang thống trị cả quảng trường.
Nhưng có một người bước lên trước, hoàn toàn một mình. Đằng sau anh đám đông nhấp nhô tràn ra từ các con phố, sôi sục quanh các ngôi nhà và tụ lại với nhau thành những cụm tối đen Người đàn ông đã tiến xa về phía trước. Đến chính giữa quảng trưòng, anh bước khỏi bóng tối của nhà thờ, đi ra chỗ có ánh trăng. Một giọng đanh và rõ ràng thét lên: "Lùi lại!"
Người đàn ông giơ hai tay lên. Trăng sáng vằng vặc, đến mức người ta thấy rõ cả hàm răng trắng ánh lên trong hốc miệng tôi tối khi anh bắt đầu nói.
"Hỡi các đồng đội!"
Im lặng.
Giọng anh vang lên đơn độc giữa nhà thờ, giữa khối nhà đồ sộ của tòa thị chính và bóng tối, nó đơn độc bay trên quảng trường như con chim câu đang vỗ cánh.
"Hỡi các đồng đội, hãy bỏ vũ khí xuống! Chẳng lẽ các bạn muốn bắn vào anh em mình? Hãy bỏ vũ khí xuống và đến với chúng tôi!" Chưa bao giờ trăng sáng như thế. Những bộ quân phục trên các bậc thang tòa thị chính nom trắng như phấn. Các cửa sổ sáng lấp lánh. Một nửa của tháp nhà thờ được chiếu sáng trông tựa tấm gương bằng lụa màu xanh lục. Các bức tượng hiệp sĩ bằng đá bên cổng nhà thờ với mũ giáp và tấm che mặt lấp lóa nổi bật trên bức tường sấp bóng.
"Lùi lại, hoặc sẽ nổ súng!" giọng nói ban nãy lạnh lùng ra lệnh. Tôi nhìn sang Ludwig và Albert. Đó là chỉ huy đại đội chúng tôi! Đó là giọng của Heel! Một sự căng thẳng nghẹt thở ôm siết lấy tôi, như thể tôi đang phải chứng kiến một cuộc hành quyết. Tôi biết: Heel sẽ ra lệnh nổ súng.
Khối người sẫm đen di chuyển trong bóng tối của những ngôi nhà rục rích và rì râm. Một khoảng thời gian vô tận trôi qua. Rồi hai người lính cầm súng rời khỏi các bậc thang đi đến chỗ người đàn ông đơn độc giữa quảng trường. Thời gian tưởng như kéo dài vô tận cho tới lúc họ đến nơi, như thể họ đang giẫm chân tại chỗ trong bãi lầy xám xỉn, những con búp bê vải lấp loáng giương ngang súng sẵn sàng nhả đạn. Người đàn ông bình thản chờ đợi. Khi họ tới gần, anh lại nói: "Các đồng đội..."
Họ tóm phía dưới cánh tay và lôi anh về phía trước. Người đàn ông không cưỡng lại. Họ tiếp tục lôi anh rất nhanh đến nỗi anh vấp dúi dụi. Từ phía sau vang lên những tiếng hét, đám đông rục rịch chuyển động, cả một con phố chầm chậm, lộn xộn tiến về phía trước. Giọng nói sang sảng ra lệnh: "Lùi lại ngay cùng với anh ta! Tôi hạ lệnh bắn!" Một loạt súng cảnh cáo vang lên trong không trung. Người đàn ông đột nhiên vùng thoát ra nhưng anh không chạy tháo thân, mà lao thẳng tới chỗ để súng máy.
"Đừng bắn, các đồng đội!"
Vẫn chưa có gì xảy ra, nhưng khi thấy người đàn ông không có vũ khí tiếp tục dấn thân, đám đông cũng tiếp tục tiến lên. Họ đang chen chúc trong một lối đi hẹp cạnh nhà thờ. Ngay khoảnh khắc sau đó, một mệnh lệnh bay trên quảng trường, tiếng nổ tạch tạch của súng máy vang lên, vọng lại nhiều lần từ những ngôi nhà, những viên đạn rít xé không trung rồi văng tung tóe xuống mặt đường.
Nhanh như chóp, chúng tôi lao về phía sau một khối nhà nhô ra.
Trong khoảnh khắc đầu tiên, một nỗi sợ hãi chó má, tê dại, hoàn toàn khác khi ở chiến trường, choán lấy tôi. Sau đó, nó biến thành cơn tức giận. Tôi còn nhìn thấy người đàn ông đơn độc ấy xoay người và ngã sấp về phía trước như thế nào. Tôi thận trọng ngó ra từ sau góc tường. Đúng lúc này anh cố gắng thử gượng dậy lần nữa, nhưng anh không làm được. Cánh tay anh từ từ gập lại, đầu gục xuống, và, tựa như anh đã vô cùng mệt mỏi, thân hình anh trượt dài xuống mặt đường... Khi đó cục nghẹn chặn ngang họng tôi tan ra. "Không!" tôi thét lên. "Không!"
Tiếng thét vang lên chói tai giữa những bức tường của các ngôi nhà.
Rồi tôi cảm thấy bị đẩy sang bên. Ludwig Breyer đứng dậy và đi qua quảng trường đến cái khối đen ngòm của thần chết.
"Ludwig!" tôi kêu lên.
Nhưng cậu ấy vẫn bước tiếp... bước tiếp... Tôi kinh hoàng trân trối nhìn cậu ấy.
"Lùi lại!" lại vang lên mệnh lệnh từ phía cầu thang tòa thị chính.
Ludwig dừng lại trong giây lát.
"Hãy tiếp tục ra lệnh bắn đi, thuợng úy Heel!” cậu ấy gọi về phía tòa thị chính. Vừa gọi cậu ấy vừa tiến về phía trước va cúi xuống người nằm trên mặt đất.
Chúng tôi nhìn thấy một sĩ quan rời khỏi cầu thang. Không nhớ rõ bằng cách nào, chúng tôi đột nhiên đứng bên cạnh Ludwig và đợi người kia tới, vũ khí duy nhất mà ông ta cầm theo là một chiếc ba toong. Ông ta không hề do dự một giây, mặc dù lúc đó chúng tôi có ba người và có thể lôi cổ ông ta đi nếu chúng tôi muốn, vì những người lính của ông ta sẽ không dám bắn, sợ có thể trúng ông ta.
Ludwig đứng thẳng lên. "Chúc mừng ông, thượng úy Heel. Người này đã chết."
Một vệt máu chảy ra từ dưới áo của người chết và nhỏ xuống các rãnh nhỏ giữa những viên gạch lát đường. Cạnh bàn tay phải gầy gò vàng vọt thò ra từ ống tay áo, máu đã đọng lại thành vũng, lấp loáng một màu đen sẫm dưới ánh trăng.
"Breyer!" Heel nói.
"Ông có biết đó là ai không?" Ludwig hỏi. Heel nhìn cậu ấy và lắc đâu.
"Max Weil."
"Tôi đã muốn thả cậu ta đi.” một lúc sau Heel nói, có chút trầm ngâm.
"Anh ấy đã chết," Ludvvig trả lời.
Heel nhún vai.
"Anh ấy là đồng đội của chúng ta," Ludwig nói tiếp.
Heel không đáp lời.
Ludwig lạnh lùng nhìn ông ta. "Làm sạch gọn lắm!"
Heel dường như sực tỉnh. "Vấn đề không phải chỗ đó " ông ta nói bình tĩnh, "mà là ở mục đích: để duy trì bình yên và trật tự."
"Mục đích ư?" Ludwig khinh bỉ đáp. "Ông biện bạch cho hành động của mình từ khi nào vậy? Mục đích! Ông cần việc làm... đó là tất cả! Lôi người của ông về đi, như thế sẽ không còn bắn giết nữa!"
Heel phác một cử chỉ nôn nóng. "Người của tôi sẽ ở nguyên vị trí.
Nếu rút về, ngày mai họ sẽ bị tấn công bởi một đội quấn đông hơn gấp mười lần. Cậu tự biết rõ mà. Năm phút nữa tôi sẽ cho chặn mọi ngả đường.
Tới lúc đó các cậu có đủ thời gian đưa người chết đi khỏi đây."
"Mang anh ấy đi," Ludwig nói với chúng tôi. Sau đó, cậu ta quay lại Heel. "Nếu ông rút đi bây giờ, sẽ không ai tấn công ông. Nếu ông ở lại, sẽ lại có thêm người chết. Bởi tay ông! Ông có biết điều đó không?"
"Tôi biết," Heel lạnh lùng đáp.
Chúng tôi đứng đối diện nhau thêm một giây nữa. Heel lần lượt nhìn từng người chúng tôi. Đó là một khoảnh khắc kỳ lạ. Có cái gì đó đã vỡ tan.
Sau đó, chúng tôi nâng cơ thể bất động của Max Weil và mang anh đi. Các đường phố lại tràn ngập người. Khi chúng tôi đến gần, mọi người tách ra thành một lối đi rộng cho chúng tôi. Những tiếng thét bay lên: "Đồ chó săn! Lũ cảnh sát khát máu! Bọn giết người!" Máu nhỏ giọt từ lưng Max Weil.
Chúng tôi đưa anh đến ngôi nhà gần nhất. Hóa ra đó chính là Quán Hà Lan. Một số nhân viên y tế đã có mặt và đang băng bó hai người bị thương nằm trên sàn nhảy. Một thiếu phụ đeo cái tạp dề thấm đẫm máu đang rên la và nằng nặc đòi về nhà.
Khó khăn lắm mới giữ được cô để đội băng ca và bác sĩ đến. Cô bị một vết thưong ở bụng. Nằm bên cô là một người đàn ông vẫn còn mặc áo khoác lính cũ. Cả hai đầu gối của anh đều bị đạn xuyên qua. Chị vợ quỳ bên cạnh chồng mà than vãn: "Anh ấy có làm gì đâu kia chứ! Anh ấy chỉ tình cờ đi qua đó! Tôi vừa mới mang bữa tối đến cho anh ấy!" Chị chỉ vào chiếc cạp lồng tráng men màu xám. "Chỉ là bữa tối cho anh ấy…”
Các cô vũ công trong vũ trường của Quán Hà Lan đứng túm tụm trong một góc phòng. Người quản lý luống cuống chạy qua chạy lại hỏi xem liệu có thể chuyển những người bị thương sang nơi nào đó khác hay không. Việc kinh doanh của ông ta sẽ đi đời nếu chuyện này lan ra. Sẽ chẳng khách nào còn muốn đến đây nhảy nữa. Anton Demuth trong bộ đồng phục gác cổng óng ánh vàng đi lấy một chai cognac và đưa lên miệng người bị thương. Người quản lý kinh hãi nhìn và ra hiệu cho anh ta.
Nhưng Anton không thèm bận tâm. "Cậu có nghĩ rằng tôi sẽ vẫn giữ được hai chân không?" người bị thương hỏi. "Tôi làm nghề lái xe!"
Những chiếc cáng đã được mang đến. Bên ngoài lại vang lên những tiếng súng nổ rất đanh. Chúng tôi nhảy dựng lên. Tiếng gào thét, la ó và tiếp theo là tiếng kính vỡ loảng xoảng. Chúng tôi chạy ra ngoài. "Hãy lật đá lát đường lên!" ai đó thét và bổ lưỡi cuốc xuống mặt đường. Những cái nệm giương bị ném xuống, rồi những chiếc ghế, cả một cái xe đẩy trẻ con.
Phía quảng trường lập lòe súng nổ. Từ các mái nhà lúc này vang tiếng súng đáp trả.
"Tắt đèn đường đi!" Một người đàn ông nhảy lên phía trước và ném một viên gạch vào cái đèn. Ngay lập tức bóng tối ập xuống.
"Anh Kosole!" Albert hét. Chính là anh ấy. Valentin ờ bên cạnh anh.
Như một cái xoáy nước, những tiếng súng đã hút tất cả bọn tôi lại một chỗ.
"Xông lên Ernst, Ludwig, Albert!" Kosole gầm lên. "Bọn lợn đó bắn cả vào phụ nữ!"
Chúng tôi nằm rạp trong những khung cửa các ngôi nhà đạn xé ngang tai, người người la hét; chúng tôi bị ngập lụt, bị cuốn đi, bị tàn phá, điên giận bởi căm hờn, máu phun xuống mặt đường; chúng tôi lại trở thành lính, quá khứ lại tóm được chúng tôi, dữ dội và điên loạn; cuộc chiến tranh lại lướt trên chúng tôi, giữa chúng tôi, trong chúng tôi... Tất cả đã chấm dứt, tình đồng đội đã bị súng máy bắn thủng, những người lính bắn vào những người lính, đồng đội bắn vào đồng đội, mọi thứ đã kết thúc, kết thúc thật rồi!...