Đường Về

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii.

❊ ❊ ❊

Lần cuối cùng chúng tôi xếp hàng trong sân doanh trại. Một phần trong đại đội chúng tôi quê ở gần đây và được về ngay. Những người còn lại phải tự lo đi tiếp. Đường xe lửa chỗ đến chỗ không nên cả bọn không thể cùng nhau lên tàu. Đã đến lúc phải chia tay.

Cái sân rộng xám xịt quá lớn đối với chúng tôi. Làn gió uể oải tháng mười một bốc mùi chia ly và chết chóc quét ngang qua sân. Chúng tôi đứng lọt thỏm giữa nhà ăn và trạm gác, lính còn nhiều nhặn gì đâu mà cần nhiều chỗ. Mặt sân rộng và trống trơn quanh chúng tôi làm thức dậy những ký ức không gì xoa dịu nổi. Đó là những hàng dài vô hình của đội quân chết.

Heel đi dọc theo đại đội. Một đoàn bóng ma các sĩ quan tiền nhiệm của Heel lặng lẽ bám theo ông ta. Ngay sau lưng Heel là Bertinck máu vẫn tuôn ra từ cổ, với cái cằm vỡ nát và đôi mắt u sầu, đã từng chỉ huy đại đội một năm rưỡi, vốn là giáo viên, có vợ và bốn con; bên cạnh ông ấy là gương mặt xanh đen của Möller, mười chín tuổi, bị trúng hơi ngạt chỉ ba ngày sau khi tiếp nhận chỉ huy đại đội; tiếp đến là Redecker, thợ rừng, hai tuần sau đó bị một quả đạn pháo nổ trúng vùi vào lòng đất; và kia, mờ ảo hơn, xa xăm hơn là Büttner, đại úy, đã ngã xuống khi đang tấn công vì một viên đạn súng máy xuyên tim; và sau nữa là những người khác như những cái bóng, gần như không ai còn nhớ tên, quá xa xôi... bảy chỉ huy đại đội trong vòng hai năm. Và hơn năm trăm binh sĩ. Mà giờ đây đang đứng trên sân doanh trại chỉ còn ba mươi hai người.

Heel cố gắng nói vài lời chia tay. Nhưng ông ta bất lực, đành thôi.

Không lời nào trên thế gian có thể đứng vững trước cái sân lính đơn côi, hoang vắng, nơi lèo tèo dăm hàng quân sống sót đứng câm lặng và run rẩy trong những tấm áo khoác sờn và những đôi ủng mòn vẹt mà tưởng nhớ đến những người đồng đội của mình.

Heel lần lượt đi tới bắt tay từng người một. Khi đến chỗ Max Weil, ông ta mím môi nói: "Giờ đã đến thời của cậu đó Weil..."

"Nó sẽ ít đẫm máu hơn," Max điềm tĩnh trả lời.

"Và ít anh hùng hơn," Heel đáp lại.

"Đó không phải là điều tối hậu trong cuộc sống," Weil nói.

"Nhưng là điều tốt nhất," Heel trả lời. "Còn có gì tốt hơn thế nữa?"

Weil chần chừ một thoáng. Sau đó, anh ta nói: "Có thứ mà hôm nay có vẻ khó nghe, thưa ngài thượng úy: lòng nhân hậu và tình yêu. Đó cũng là một thứ chủ nghĩa anh hùng."

"Không," Heel đáp nhanh, vầng trán sầm lại, như thể ông đã ngẫm nghĩ nhiều về điều đó. "Không, chỉ có tử vì đạo thôi, đó là thứ hoàn toàn khác. Chủ nghĩa anh hùng bắt đầu ở nơi mà lý trí không còn, nơi mà người ta coi thường mạng sống. Chủ nghĩa anh hùng đi cùng với sự vô nghĩa, men say và sự liều lĩnh, nói để cậu biết. Nhưng nó lại có ít điểm chung với mục đích. Mục đích, đó là thế giới của cậu. Tại sao, để làm gì, cho ai —

những kẻ đặt những câu hỏi đó chẳng hiểu quái gì về chủ nghĩa anh hùng cả."

Ông ta nói rất hăng, như muốn thuyết phục chính mình.

Gương mặt hốc hác cau có. Trong vài ngày mà ông ta trở nên hận đời, già sọm đi cả chục tuổi. Nhưng Weil cũng thay đổi nhanh chóng như vậy. Trước đây anh ta luôn là con người lặng lẽ chẳng ai thực sự hiểu nổi.

Giờ anh ta bỗng bước ra khỏi cái bóng của mình và ngày càng trở nên cương quyết hơn. Ai mà đoán được anh ta có thể đối đáp như thế. Heel càng kích động bao nhiêu, Max càng bình tĩnh bấy nhiêu. Anh ta nói nhỏ nhẹ nhưng cứng rắn: "Vì chủ nghĩa anh hùng của số ít người thì sự thống khổ của hàng triệu người là cái giá quá đắt."

Heel nhún vai. "Quá đắt... mục đích... trả giá... Lời lẽ của cậu thế đấy.

Để rồi xem cậu sẽ tiến xa đến đâu vói lối suy nghĩ đó."

Weil nhìn vào cái áo lính Heel vẫn đang mặc trên người. "Vậy ông đã tiến xa đến đâu với suy nghĩ của ông?"

Heel đỏ mặt. "Đến một ký ức," ông ta vặc lại thô bạo, "ít nhất đến một ký ức về những thứ không thể mua được bằng tiền."

Weil im lặng hồi lâu. "Đốn một ký ức," đoạn anh nhắc lại, rồi đưa mắt nhìn cái sân lính trống trơn và hàng quân lèo tèo vài mống của chúng tôi, "phải... đến một trách nhiệm khủng khiếp..."

Chúng tôi chẳng hiểu gì nhiều toàn bộ cuộc đấu khẩu này. Chúng tôi đang rét run và cho rằng nói nhiều chả đi đến đâu. Vì nói suông đâu có thay đổi được thế giới.

Các hàng lính tản ra. Bắt đầu những lời từ biệt. Anh chàng Müller đứng bên tôi xốc lại ba lô trên vai, kẹp túi thực phẩm vào nách và chìa tay cho tôi: "Nào, khỏe nhé, Ernst..."

"Khỏe nhé, Felix..."

Cậu ta tiếp tục đi đến từ biệt Willy, Albert, Kosole... Gerhard Bohl-quản ca của đại đội - tiến lại gần. Khi diễu hành, giọng nam cao của anh luôn vút lên mỗi lúc bài hát đến đoan cao trào. Ở những đoạn khác, anh ngừng lại dưỡng hơi để sau đó đủ sức ngân thật vang những nốt cao.

Gương mặt rám nắng có cái mụn cóc của anh lộ vẻ xúc động; anh vừa chia tay với Karl Bröger, kẻ đã cùng anh chơi biết cơ man là ván bài. Chia tay thật chẳng dễ dàng gì.

"Tam biệt, Ernst."

"Tạm biệt, Gerhard." Anh bước đi.

Weddekamp bắt tay tôi. Ông chuyên làm các cây thánh giá bằng gỗ cho những người anh em tử trận.

"Tệ quá, Ernst," ông nói, "tiếc là tôi không còn có dịp làm cho cậu một cây thập tự. Lẽ ra cậu thậm chí còn được hẳn một chiếc làm từ gỗ gụ cơ đấy. Tôi đã để dành hẳn một cái nắp đàn dương cầm rõ đẹp cho việc ấy."

"Cái gì chưa xảy ra vẫn có thể sẽ xảy ra," tôi đáp. "Khi nào tới lúc, tôi sẽ gửi cho ông một tấm bưu thiếp."

Ông cười. "Nhớ dỏng tai lên mà giữ mình nhé, cậu bé, cuộc chiến vẫn chưa kết thúc đâu."

Rồi ông tập tễnh bước đi với đôi vai vẹo vọ.

Nhóm đầu tiên đã biến mất sau cánh cổng doanh trại. Scheffler, Fassbender, Lucke "con" và August Beckmann có trong số đó. Những người khác theo sau. Chúng tôi trở nên bất an. Thật khó quen với ý nghĩ là họ bỏ đi mãi mãi. Trước đây chỉ có ba lý do khiến người ta phải rời đại đội: tử trận, trúng thương hoặc bị điều sang đơn vị khác. Nay thêm một lý do nữa: hòa bình.

Kể cũng kỳ lạ: chúng tôi quen với các hố đạn pháo và chiến hào tới mức bỗng trở nên nghi ngờ sự tĩnh lặng của các vùng quê mà giờ đây mình đang đi đến, như thể sự tĩnh lặng này chỉ là một cái cớ lôi kéo chúng tôi vào vùng đất đã bị lén cài mìn... Và lúc này đây, những anh em đồng đội của chúng tôi đang bước tới, khinh suất, một mình, không súng, không lựu đạn. Thật muốn chạy theo họ, muốn kéo họ lại, muốn hét lên: "Các cậu định đi đâu, định làm gì một mình nơi ấy, các cậu phải đi cùng bọn tớ, bọn mình phải ở bên nhau, làm sao bọn mình có thể sống khác được đây."

Trong đầu tôi như có cái cối xay đang quay: chúng tôi làm lính đã quá lâu.

Cơn gió tháng mười một rít trên sân doanh trại trống trơn. Đồng đội lần lượt rời đi. Chỉ lát nữa, mỗi thằng sẽ lại chỉ có một mình.

Số còn lại của đại đội chung một con đường về nhà. Chúng tôi chầu chực ở ga xe lửa hòng bắt một chuyến tàu nào đó. Nhà ga là một trại lính chất đầy hòm xiểng, túi xách, ba lô và những tấm lều bạt.

Trong bảy tiếng đồng hồ chỉ có hai đoàn tàu đi qua. Người đeo bám bên các cửa toa tàu như những chùm nho. Buổi chiều chúng tôi đã chiếm được một chỗ gần đường ray. Đến tối, chúng tôi đã lên hàng đầu, ở vị trí tốt nhất. Chúng tôi ngủ đứng.

Chuyến tàu đầu tiên đến vào trưa hôm sau, một đoàn tàu hàng chở những con ngựa mù từ mặt trận trở về. Những tròng mắt lác xẹo của chúng vằn đầy tia máu xanh và đỏ ngầu. Bầy ngựa đứng bất động, vươn cổ thò đầu ra phía trước, chỉ những lỗ mũi đang hít hít cho thấy chúng còn sống.

Buổi chiều có thông báo hôm nay sẽ không còn đoàn tàu nào chạy qua. Chẳng ai rời chỗ. Lính tráng không thèm tin các thông báo. Và quả nhiên thêm một đoàn tàu nữa xuất hiện. Thoạt nhìn biết ngay đúng là dành cho chúng tôi - đoàn tàu giỏi lắm chỉ mới đầy một nửa.

Nhà ga ồn ã bởi tiếng thu gom hành lý, tiếng đám lính ào ra như vỡ chợ từ các phòng đợi, chen lấn vào đám đông đang đợi trên sân ga, tạo thành một mớ hỗn độn, bát nháo.

Con tàu từ từ trườn qua. Một cửa sổ đang mở. Chúng tôi quăng Albert Troßke, người nhẹ nhất trong cả bọn lên, và cậu ấy trèo vội vào trong toa như một con khỉ. Nháy mắt sau các cửa lên tàu đã đầy người đu bám. Hầu hết các cửa sổ tàu đều đóng. Rồi kính cửa vỡ loảng xoảng dưới những cú nện bằng báng súng của những kẻ quyết lên tàu bằng mọi giá, cho dù tay chân có bị cào rách. Những tấm chăn được ném phủ trên các mảnh kính vỡ, và đây đó dòng người bắt đầu tràn lên tàu.

Tàu dừng hẳn. Albert chạy dọc hành lang toa xe, kéo kính cửa sổ ngay trước chúng tôi xuống. Tjaden và con chó phi lên đầu tiên, tiếp theo là Bethke và Kosole với sự giúp đỡ của Willy. Cả ba lập tức lao đến các cửa thông hành lang nhằm chặn không cho ai vào khoang từ cả hai phía. Đồ đạc của chúng tôi bay vào cùng lúc với Ludwig và Ledderhose, sau đó Valentin bò vào, rồi đến tôi và Karl Bröger; Willy nhảy vào cuối cùng, sau khi đã làm việc tích cực bằng khuỷu tay và nắm đấm.

"Vào đủ chưa?" Kosole hét to từ ngoài hành lang, nơi đám đông đang điên cuồng xô đẩy.

"Đủ rồi!" Willy gào lại.

Bethke, Kosole và Tjaden lao như tên bắn về chỗ của mình, và dòng người ào ạt tràn vào các toa xe, leo lên các ngăn xếp hành lý, lấp kín từng xen ti mét.

Đầu tàu bị tấn công. Trên những bộ đệm nối toa kín người ngồi. Các nóc toa cũng không còn chỗ trống.

Lái tàu thét: "Xuống ngay! Các người muốn bay sọ hả!"

"Câm đi! Bọn này khắc biết cẩn thận!" có tiếng quát lại.

Trong buồng vệ sinh chen chúc năm người. Một anh lính ngồi trên bậu cửa sổ, thò hẳn mông ra ngoài.

Con tàu bắt đầu chuyển bánh. Vài kẻ xấu số không bám chắc bị rơi xuống. Hai người bị tàu cán và lôi đi. Lập tức những người khác nhảy lên thế chỗ. Các bậc thang lên tàu kín người.

Người ta tiếp tục xô đẩy cả khi tàu đã chạy. Một người bám chặt vào cánh cửa. Cánh cửa bật mở và anh ta treo lơ lửng bên ngoài, cạnh cửa sổ.

Willy thò người ra, chộp cổ áo kéo anh ta vào trong.

Đêm đến, toa chúng tôi chịu những tổn thất đầu tiên. Đoàn tàu chạy xuyên qua một đường hầm trần thấp. Vài người ngồi trên nóc toa bị va đập tan thây và hất văng xuống đất. Những người khác hẳn trông thấy thảm cảnh, nhưng từ trên nóc không có cách nào bảo dừng tàu. Anh lính ngồi trên bậu cửa sổ buồng vệ sinh cũng ngủ thiếp đi và ngã lộn ra ngoài.

Những toa xe khác cũng có thương vong. Vì vậy nóc tàu được gia cố và che chắn bởi các khúc gỗ, dây thừng và lưỡi lê chằng buộc vào nhau.

Ngoài ra còn cắt cử người canh chừng để cảnh báo các mối nguy hiểm.

Chúng tôi ngủ gà gật, ngủ trong mọi tư thế đứng, nằm, ngồi, ngồi xổm, gập mình gục trên ba lô và các thùng đồ. Con tàu xình xịch lắc lư.

Nhà cửa, cây cối, vưòn tược, người bên đường vẫy chào, những cuộc diễu hành, những lá cờ đỏ, những người gác ga, tiếng la hét, những số báo đặc biệt, cuộc cách mạng... Mặc, chúng tôi cứ ngủ cái đã, mọi thứ khác để sau.

Mãi đến lúc này người lính mới nhận thấy mình đã quá ư mệt mỏi sau bấy nhiêu năm tháng.

Trời tối dần. Một ngọn đèn leo lét cháy. Đoàn tàu chạy chậm chạp, cứ chốc chốc lại dừng vì máy móc trục trặc.

Đám ba lô đung đưa. Những cái tẩu nhả khói. Con chó bình yên ngủ trên đầu gối tôi. Adolf Bethke ngồi xích lại gần tôi và vuốt ve bộ lông của nó. "Thế đấy, Ernst, tụi mình cũng sắp mỗi thằng một nẻo rồi," Bethke nói sau hồi lâu im lặng.

Tôi gật đầu. Thật kỳ lạ, nhưng tôi không thể tiếp tục hình dung cuộc sống không có Adolf, không có đôi mắt cảnh giác và giọng nói điềm đạm của anh. Anh đã dạy dỗ tôi và Albert từ ngày hai thằng còn là những chú lính mới lơ ngơ không chút kinh nghiệm bước chân ra mặt trận, và tôi không nghĩ mình còn có thể sống sót nếu không có anh.

"Adolf, anh em mình nhất định phải gặp lại nhau, thường xuyên," tôi nói.

Một gót ủng phang trúng mặt tôi. Tjaden ngồi trên giá để hành lý ngay trên đầu chúng tôi và đang sốt sắng đếm tiền - cậu ta định đi thẳng từ ga đến một nhà chứa. Để tạo cảm hứng cho mình, cậu ta đang chia sẻ kinh nghiệm tình trường với vài anh lính. Không ai cho câu chuyện là nhơ nhớp - chẳng một lời nào về chiến tranh, vì thế họ sẵn sàng nghe.

Một lính công binh, bị mất hai ngón tay, tự hào kể rằng vợ anh đã sinh non một bé bảy tháng, thế mà đứa bé vẫn nặng ba ký lô hẳn hoi.

Ledderhose cười chế nhạo — làm gì có chuyện đó được. Anh lính không hiểu ý. Anh bấm đầu ngón tay tính số tháng từ ngày anh về phép đến ngày đứa trẻ ra đời.

"Bảy," anh nói, "không thể nhầm được."

Ledderhose cười khùng khục, bộ mặt chanh héo nhăn lại vẻ đầy mỉa mai: "Hẳn có thằng khác đã lo hộ cậu rồi."

Anh lính công binh trân trối nhìn Ledderhose. "Anh nói gì?" anh lắp bắp hỏi.

"Thì thế, quá rõ ràng," Arthur nói bằng giọng mũi và vươn vai.

Anh lính công binh túa mồ hôi. Anh cứ đếm đi đếm lại. Môi anh run rẩy. Một lái tàu to béo rậm râu cười gập cả người bên cửa sổ. "Giời ạ, đồ con bò, cậu đúng là ngu như bò."

Bethke đứng dậy. "Câm mõm đi thằng béo!"

"Tại sao?" gã rậm râu hỏi.

"Tại vì mày phải câm mõm lại!" Bethke nói, "Cả cậu nữa, Arthur."

Anh lính công binh tái mặt. "Tôi biết làm sao bây giờ?" anh bất lực hỏi, tay bấu chặt vào khung cửa sổ.

"Tốt nhất là hãy chỉ cưới vợ khi đã sinh con đẻ cái. Như thế sẽ không thể xảy ra chuyện tương tự,” Jupp trầm ngâm nói.

Buổi tối lướt nhẹ bên ngoài cửa sổ tàu. Những khu rừng như những con bò sẫm màu nơi chân trời, những cánh đồng lung linh mờ ảo trong ánh sáng nhợt nhạt hắt ra từ cửa sổ đoàn tàu. Bỗng chốc chỉ còn hai giờ nữa là về đến nhà. Bethke đứng dậy, sửa soạn lại ba lô của mình. Anh sống tại một ngôi làng nằm trước thành phố vài ga xép, nên anh sẽ xuống tàu sớm hơn.

Tàu dừng. Adolf bắt tay chúng tôi. Anh vấp chân khi bước xuống sân ga nhỏ, anh đảo mắt nhìn quanh với ánh mắt mà chỉ trong tích tắc đã thu nhận toàn bộ quang cảnh bốn bề, như cánh đồng khô hạn hút nước mưa.

Đoạn anh lại quay về phía chúng tôi, nhưng anh chẳng còn nghe thấy gì.

Ludwig Breyer mò ra đứng bên cửa sổ, dù vẫn đang chịu những cơn đau bụng.

"Về nhà mau đi, Adolf," cậu ta nói, "vợ anh đang đợi đấy..."

Bethke ngẩng nhìn chúng tôi và lắc đầu. "Đi đâu mà vội, Ludwig."

Trông anh cũng rõ có một lực hút cực mạnh đang kéo anh quay gót và bước đi, nhưng Adolf luôn là Adolf - anh vẫn đứng lại bên chúng tôi cho đến giây phút cuối cùng. Tuy nhiên, ngay khi con tàu vừa chuyển bánh, anh vội vã quay gót và sải bước rời sân ga.

"Tụi em sẽ sám đến thăm anh," tôi vội gọi với theo Adolf.

Chúng tôi nhìn anh đi qua những thửa ruộng. Anh còn vẫy tay hồi lâu. Khói phả ra từ đầu máy trôi ngang cửa sổ. Xa xa lập lòe vài đốm sáng đỏ.

Con tàu lượn một vòng cung lớn. Bây giờ Adolf chỉ còn là một cái chấm rất nhỏ, một con người bé xíu, trơ trọi trên bình nguyên tối thẫm thênh thang, úp trên đó là bầu trời đêm mênh mông, sáng lên trước cơn dông tố, nhuốm màu vàng lưu huỳnh khi hòa vào đường chân trời. Tôi không biết tại sao, cối này chẳng hề liên quan đến Adolf, nhưng tôi cảm thấy bất an trước cảnh một con người lẻ loi lang thang dưới bầu trời rộng lớn, đi qua bình nguyên bao la trải dài theo những cánh đồng trong bóng đêm và hoàn toàn đơn độc.

Rồi cây cối ở đâu kéo đến với những sắc màu tối thẫm hơn và chẳng mấy chốc không còn thấy gì ngoài tàu chạy, bầu trời và những cánh rừng.

Trong khoang trở nên ồn ào. Trong này thấy toàn là góc, là cạnh, là mùi, là hơi ấm, không gian và giới hạn; trong này là những gương mặt rám nắng, dãi dầu sương gió với những đốm sáng lấp loáng của đôi mắt, trong này hôi nồng mùi của đất, mùi máu, mùi mồ hôi và mùi quần áo lính -

nhưng ngoài kia, trong nhịp chuyển động nặng nề của đoàn tàu, một thế giới đang trôi đi vô định, lùi lại phía sau, lùi mỗi lúc một xa, thế giới của những chiến hào và những hố bom, thế giới của tăm tối và kinh hoàng, thế giới ấy giờ chỉ còn là một cơn lốc ngoài cửa sổ kia, không còn chạm được đến chúng tôi. Ai đó cất tiếng hát. Vài người khác hòa theo. Chẳng mấy chốc tất cả đều hát, khoang bên này, thêm khoang bên kia, rồi cả toa, rồi cả đoàn tàu hát. Chúng tôi hát càng lúc càng to hơn, càng mạnh mẽ hơn, hát đến đỏ cả trán, gân cả cổ, chúng tôi hát tất cả các ca khúc của lính mà chúng tôi biết, cả bọn vừa hát vừa đứng lên nhìn vào mặt nhau, mắt sáng ngời, tiếng bánh tàu lăn rầm rầm đánh nhịp, chúng tôi hát và hát...

Tôi đứng chen giữa Ludwig và Kosole, cảm nhận hơi ấm của họ xuyên qua áo khoác của mình. Tôi cử động hai tay, quay quay đầu, các bắp thịt căng lên, một cơn run rẩy bỗng từ đầu gối lan lên đến bụng, trong xương cốt tôi rùng rùng như nước chanh ga sủi bọt, trào lên phổi, lên môi, lên mắt, đến nỗi khoang tau bong benh như trong sương mù, tôi run rẩy toàn than như cây ăng ten điện tín trong cơn bão, hàng ngàn sợi dây reo vang, hàng ngàn con đường mở ra... Tôi chậm chạp đặt bàn tay mình lên bàn tay Ludwig và tưởng rằng sẽ làm bỏng tay cậu ấy... Nhưng khi Ludwig nhìn lên, mệt mỏi và xanh xao như cậu ấy vốn thế, tôi không thể nói ra những gì đang xảy ra trong tôi, mà chỉ có thể nặng nhọc, ấp úng hỏi:

"Cậu có điếu thuốc nào không, Ludwig?"

Cậu ta đưa cho tôi điếu thuốc. Con tàu vẫn lao đi, và chúng tôi tiếp tục hát. Nhưng rồi, có tiếng gì ì ầm, trầm đục hơn tiếng bánh tàu lăn, xen vào các bài hát của chúng tôi, và trong một quãng nghỉ lấy hơi bỗng rộ lên những tiếng nổ đinh tai và rền vang lan dài trên khắp bình nguyên. Những đám mây đã tụ lại, và cơn dông đang ập xuống. Các tia chớp lóe lên như ngọn lửa đầu nòng pháo. Kosole đứng bên cửa sổ lắc đầu.

"Giời ạ, lại nhè lúc này mà dông với gió," anh làu bàu và thò hẳn người ra ngoài cửa sổ. Đột nhiên, anh cuống quýt gọi: "Nhanh lên! Nhanh!

Thấy kia rồi!"

Chúng tôi chen nhau xô đến. Trong ánh chớp hiện rõ phía xa xa những tháp nhọn mảnh mai của thành phố đang vươn thẳng lên trời. Mỗi khi tiếng sấm rền vang, bóng đêm lại phủ kín chúng, nhưng mỗi lần chóp sáng, chúng lại tiến đến gần hơn.

Mắt chúng tôi sáng rỡ vì phấn khích. Sự mong đợi giống như một cái cây khổng lồ bất ngờ vươn mình lớn dậy giữa chúng tôi, trên đầu chúng tôi và trong chúng tôi.

Kosole thu dọn đồ đạc của mình. "Khỉ thật, một năm nữa tụi mình sẽ ngồi ở đâu được nhỉ?" anh nhún vai, dang hai cánh tay tự hỏi.

"Trên mông đít!" Jupp kích động tuyên bố. Nhưng chẳng ai cười.

Thành phố đã nhảy bổ đến bên chúng tôi, kéo chúng tôi lại với mình.

Thành phố nằm đó, thở dồn trong ánh sang man dại của những tia chớp.

Nó dang rộng vòng tay mà tiến lại, và chúng tôi lao vào nó trên đoàn tàu chở lính, đoàn tàu hồi hương từ chốn hư không, đoàn tàu của nỗi mong chờ lớn lao, gần nữa, gần hơn nữa, chúng tôi phóng như điên, các bức tường vùn vụt lao về phía chúng tôi, như sắp đâm sầm vào chúng tôi, những tia chớp bay vùn vụt, sấm rền vang... rồi nhà ga như bọt sủi trào lên ở hai bên toa tàu với tiếng ồn ào, tiếng gọi nhau í ới, một cơn mưa rất to ập xuống, sân ga loang loáng nước, và chúng tôi chả nghĩ ngợi gì nhảy đại vào cái mớ bòng bong đó.

Con chó cùng tôi nhảy xuống từ cửa toa. Nó nép sát vào tôi, cả hai cùng xuyên màn mưa chạy xuống các bậc thang.

phát hành: Đông A Ngày xuất bản: 05/2017 Số hóa: tudonald78 TVE-4u.org
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.