Tôi đi từ ga xe lửa đến thăm Adolf Bethke. Tôi nhận ra nhà anh ngay, ở ngoài mặt trận anh đã thường xuyên mô tả tỉ mỉ về nó T cho tôi nghe.
Một vườn cây ăn quả. Táo còn chưa thu hoạch hết. Nhiều quả rụng nằm vương vãi trên bãi cỏ dưới tán cây. Trên khoảng trống trước cửa nhà có một cây dẻ rất lớn. Những lớp lá màu nâu đỏ phủ kín mặt đất dưới gốc cây phủ đầy cả mặt chiếc bàn đá và ghế băng kê ở đó. Giữa đám lá cây lấp ló những cái vỏ trắng ánh hồng gai góc vỡ toác và sắc nâu bóng của hạt dẻ.
Tôi nhặt một vài hạt dẻ và ngắm nhìn lớp vỏ nhẵn bóng, có gân màu đỏ sẫm với vết mầm sang sáng ở phía dưới. Trên đời sao lại có thứ tuyệt thế chứ, tôi nghĩ và nhìn ra xung quanh, không ngờ trên đời vẫn còn có tất cả những thứ này: những cái cây sặc sỡ, những cánh rừng xanh ngút trong sương.
Những cánh rừng, chứ không phải những gốc cây cháy sém, nát bươm vì đạn pháo; làn gió thổi trên những cánh đồng không còn ám khói thuốc súng và hôi mùi khí độc, và đất ruộng đã được cày xói, ánh lên màu mỡ kia nồng nàn hương đất, những con ngựa được thắng vào trước những lưỡi cày chứ không phải vào những cỗ xe chất đầy đạn dược, và đằng sau chúng là những anh dân cày trở về nhà vai không đeo súng, những anh dân cày khoác áo lính.
Mặt trời ẩn vào sau đám mây phía trên một khu rừng nhỏ, nhưng từ đó vẫn hắt ra những chùm tía bạc lấp lánh, những cánh diều sặc sỡ của bọn trẻ con lơ lửng tít trên trời cao, lá phổi thoải mái hít vào thở ra làn không khí mát mẻ, không con súng, không còn mìn, không còn ba lô ép trước ngực, khống còn khóa thắt lưng siết nặng nơi bụng; đã qua rồi cảm giác ròn rợn sau gáy vì cảnh giác và rình mò, không còn tư thế nửa đi nửa bò vì sợ chỉ trong tích tắc có thể sẽ ngã xuống, nằm bất động, xám xịt và chết. Tôi bước đi tự do, vươn thẳng người với đôi vai đã trút bỏ mọi âu lo, và cảm thấy sức mạnh của thời điểm này: tôi đang ở đây và đang đến thăm người bạn Adolt của mình.
Cửa nhà khép hờ. Bên phải là nhà bếp. Tôi gõ cửa. Khóng có ai trả lời. Tôi nói to: "Xin chào!" Không một tiếng động. Tỏi bước tiếp vào bên trong và mở một cánh cửa nữa. Ai đó đang ngồi một mình bên bàn; bây giờ anh ngẩng lên, bộ dạng cẩu thả, quần áo lính sờn cũ, anh nhìn tôi: Bethke.
"Adolf," tôi vui vẻ kêu lên, "anh không nghe thấy gì à? Hẳn anh vừa chợp mắt, hả?"
Anh vẫn giữ nguyên tư thế ngồi của mình và chìa tay cho tôi.
"Muốn đến thăm anh tí, Adolf."
"Cậu thật tốt, Ernst," anh buồn bã nói.
"Có chuyện gì xảy ra à, Adolf?" tôi ngạc nhiên hỏi.
"À, thôi bỏ đi, Ernst..."
Tôi ngồi xuống bên cạnh anh. "Mẹ kiếp, Adolf, anh làm sao vậy?"
Anh phẩy tay. "ổn mà, Ernst, bỏ đi. Có điều, cậu biết không, thật tốt là một thằng trong các cậu đến thăm tôi." Anh đứng lên. "Đến phát điên lên vì cô độc thế này."
Tôi nhìn xung quanh. Không thấy vợ anh đâu cả. Anh im lặng hồi lâu, đoạn anh nhắc lại: "Thật tốt là cậu đã đến thăm, Ernst!"
Anh lục lọi, lôi rượu và thuốc lá ra. Chúng tôi uống rượu bằng những cái ly dày có hoa văn màu hồng dưới đáy. Cửa sổ nhìn ra vườn và một con đường chạy giữa các hàng cây ăn quả. Trời nổi gió. Cửa vườn bung ra dập vào lạch cạch. Chiếc đồng hồ quả lắc sẫm màu đứng trong góc phòng đang gõ đều đều.
"Chúc sức khỏe, anh Adolf!"
"Chúc sức khỏe, Ernst!"
Một con mèo nhẹ chân chạy ngang phòng. Nó nhảy lên trên cái máy khâu và kêu gừ gừ. Yên lặng một lúc, rồi Adolf bắt đầu nói:
"Họ đến đây và nói chuyện, cả cha mẹ tôi, cả cha mẹ vợ, họ cứ nói trong khi họ không hiểu tôi và tôi không hiểu họ. Cứ như thể tất cả chúng tôi giờ đều đã thành những con người khác." Anh chống tay vào cằm. "Cậu hiểu tôi, Ernst, và tôi hiểu cậu, nhưng giữa tôi và họ thì dường như có một bức tường chắn."
Cuối cùng tôi cũng đã được nghe mọi chuyện.
Bethke về đến nhà, ba lô sau lưng, tay xách một túi chứa đầy thực phẩm ngon lành, cà phê, sô cô la, thậm chí cả tấm vải lụa đủ may nguyên một chiếc váy.
Anh muốn đi thật nhẹ nhàng để dành cho vợ món quà bất ngờ, nhưng con chó sủa như hóa rồ và suýt giật đổ cả chuồng chó. Vậy là anh không kìm lòng được nữa, chạy như bay dọc con đường giữa các cây táo -
con đường của anh, những cái cây của anh, ngôi nhà của anh, vợ anh. Tim anh đập như búa thợ rèn, dội tận lên cổ, anh mở toang cửa, hít một hơi thật sâu, bước vội vào... "Marie..."
Anh nhìn thấy vợ, cái nhìn lập tức bao trọn chị ấy, niềm vui ngập tràn trong lòng anh, bóng tối nhập nhoạng, mái nhà thân yêu, tiếng đồng hồ tích tắc, cái bàn, cái ghế bành to tướng, vợ anh... Anh muốn lao đến với chị. Nhưng chị rụt lại và trân trối nhìn anh như nhìn một bóng ma.
Anh vẫn chưa hiểu gì cả. "Em giật mình đến thế cơ à?" anh cười hỏi.
"Vâng," chị ấy đáp đầy sợ sệt.
"Rồi sẽ ổn mà, Marie," anh nói, run rẩy vì xúc động. Lúc này, khi cuối cùng anh đã ở trong phòng, toàn thân anh run bần bật. Bởi anh đã xa nhà quá lâu.
"Em không biết rằng anh sắp về, Adolf," vợ anh nói. Chị lùi đến tận tủ quần áo và mở to mắt nhìn anh. Một cái gì lanh lẽo choán lấy anh trong giây lát, khiến anh như nghẹt thở.
"Em không hề vui mừng sao?" anh bất lực hỏi.
"Có chứ, Adolt..."
"Có chuyện gì xảy ra chăng?" anh tiếp tục hỏi, vẫn chưa bỏ ba lô và túi khỏi tay.
Thế là Heulerei bật khóc, chị ấy gục đầu xuống mép bàn, tại sao lại không cho anh biết ngay mọi việc, đằng nào thì những người khác cũng sẽ nói với anh, chị đã có quan hệ với một người, việc đó đã xảy ra, trong khi chị hoàn toàn không muốn và vẫn chỉ luôn nghĩ về anh, và bây giờ thì anh cứ đánh chết chị đi.
Adolf đứng ngây như trời trồng và cuối cùng bỗng nhận ra rằng mình vẫn còn đeo ba lô trên lưng. Anh tháo ba lô xuống, anh dỡ đồ ra, anh run rẩy, anh liên tục tự nhủ: điều này không thể là sự thật, không thể là sự thật - và tiếp tục dỡ đồ ra, chỉ để không phải đứng yên lúc này; tấm lụa sột soạt trong tay anh, anh chìa nó cho chị, "Anh muốn mang về cho em này, ”
và vẫn liên tục nghĩ: đó không thể là sự thật, không thể nào... Anh bất lực chìa tấm lụa đỏ, trong đầu hoàn toàn trống rỗng.
Nhưng chị vẫn khóc và không muốn biết gì. Anh ngồi xuống trầm ngâm và đột nhiên thấy đói kinh khủng. Trên bàn là những trái táo vườn nhà, giống táo ngon có tiếng, anh cầm lấy một quả và ăn, vì anh cần phải làm gì đó. Nhưng rồi hai tay anh thõng xuống và anh hiểu ra. Một cơn giận dữ sôi lên trong anh, anh muốn đập phá cái gì đó và lao ra khỏi nhà để đi tìm gã đàn ông kia.
Anh không tìm thấy gã. Vậy thì anh đi đến quán rượu. Ở đó người ta niềm nở chào đón; nhưng họ cư xử với anh giống như là nâng trứng, họ tránh nhìn vào mắt anh và cẩn trọng trong từng lời nói, nghĩa là họ đã biết cả. Mặc dù anh làm ra vẻ như không có chuyện gì, nhưng ai mà giữ nổi.
Anh dốc tuột ly rượu vào cổ họng và toan bỏ đi, thì một người bỗng hỏi:
"Cậu đã ghé qua nhà chưa?" và khi anh rời quán bia, tiễn anh chỉ là sự im lặng. Anh chạy loanh quanh không mục đích cho tới tối muộn. Rồi anh lại quay về trước cửa nhà mình. Anh biết làm gì đây, anh đi vào nhà. Đèn sáng, cà phê trên bàn, khoai tay chiên trong chảo trên bếp. Anh đau đớn tưởng muốn quỵ, sẽ hạnh phúc xiết bao nếu gia đình anh êm đẹp, thậm chí bàn ăn còn được phủ khăn trắng tinh tươm. Nhưng như thế này chỉ khiến anh cảm thấy càng thêm tồi tệ.
Vợ anh có nhà và đã thôi khóc. Khi anh ngồi xuống, chị rót cà phê và đặt món khoai tây kèm xúc xích lên bàn. Nhưng chị không bày đĩa cho mình.
Anh nhìn chị. Chị xanh và gầy. Một nỗi buồn vô vọng lại dâng lên, lấp đầy trong anh. Anh không muốn biết thêm gì nữa, anh muốn khép mình lại, lên giường nằm và hóa đá. Cà phê bốc khói, anh đẩy nó ra, đẩy cả chảo khoai tây ra. Vợ anh sợ rúm người. Chị biết điều gì sắp xảy đến.
Adolf không đứng dậy, anh không đứng dậy nổi, anh chỉ lắc đầu và nói: "Đi đi, Marie."
Chẳng nói chẳng rằng, chị choàng khăn lên vai, đẩy cái chảo tới trước mặt anh lần nữa và rụt rò nói: "Ít nhat anh ăn một chút đi, Adolf," rồi chị đi.
Chị đi, bước chân nhẹ nhàng, không tiếng động, cánh cửa vườn đóng lại, con chó sủa khe khẽ, gió rít bên ngoài cửa sổ. Bethke còn lại một mình.
Và rồi đêm xuống.
Mấy ngày liền sống cô đơn trong ngôi nhà của mình làm hao mòn một người đàn ông trở về từ chiến hào.
Adolf cố gắng tóm cho được gã khốn nọ để đánh què gã; nhưng gã đã kịp linh cảm có điều chẳng lành và lỉnh mất. Adolf rình mò gã, tìm gã ở khắp nơi - nhưng anh không thể bắt được gã và điều này khiến anh gục hẳn.
Sau đó cha mẹ vợ anh xuất hiện và ra sức khuyên nhủ, ràng anh hãy nên suy nghĩ lại, rằng vợ anh từ lâu đã thôi làm điều dại dột, rằng bốn năm dài vò võ một mình đâu có dễ dàng gì, tội lỗi là do gã kia, hơn nữa trong thời chiến tranh vẫn thường xảy ra những chuyện không mong đợi...
"Biết làm gì được đây, Ernst?" Adolf nhìn lên.
"Chết tiệt,” tôi nói. "Cứt thật!"
"Giờ ta về nhà chính là để lo những chuyện như thế này mà, Ernst!"
Tôi rót rượu, và chúng tôi uống. Vì trong nhà không còn xì gà, mà anh thì không muốn thò mặt ra quán, tôi chạy đi mua cho anh. Adolf là một người nghiện thuốc nặng, và anh sẽ cảm thấy nhẹ lòng hơn nếu có xì gà. Tôi lấy hẳn một hộp Waldfrieden, những điếu thuốc bự, màu nâu đúng như tên gọi. Chúng được làm toàn từ lá sồi, nhưng có còn hơn không.
Khi tôi quay về, có ai đó nữa trong nhà, và tôi đoán ngay rằng đó là vợ anh. Chị ngồi thẳng người, nhưng đôi vai xuôi xuông mềm mại. Có một cái gì đó quyến rũ nơi gáy người phụ nữ, cái gì đó mang nét trẻ thơ, và hẳn bạn không bao giờ có thể thực sự giận họ. Dĩ nhiên không kể các bà béo có cái cổ nung núc mỡ.
Tôi cất tiếng chào và bỏ mũ xuống. Người phụ nữ không đáp lời. Tôi đặt hộp xì gà trước mặt Adolf, nhưng anh không động tới nó. Đồng hồ gõ tích tắc. Bên ngoài cửa sổ, đám lá dẻ chao liệng, chốc chốc một chiếc lá lại bay sạt vào kính cửa sổ và bị gió ép vào đó. Năm cái lá dính đất nâu nâu cùng đính trên một cuống lá đu đưa ngoài cửa sổ đầy hăm dọa, tựa một bàn tay khô từ bên ngoài lăm le thò vào trong phòng, bàn tay nâu chết chóc của mùa thu.
Cuối cùng Adolf cũng cử động và nói bằng một giọng mà tôi chưa từng nghe ở anh: "Bây giờ thì đi đi, Marie."
Chị ngoan ngoãn đứng lên như một nữ sinh, mắt nhìn thẳng và đi ra.
Cái gáy mềm mại, đôi vai gầy, sao tất cả chuyện đó lại có thể là thật chứ?
"Ngày nào cô ấy cũng đến như thế và ngồi ở đó, không nói gì, chờ đợi và nhìn tôi,” Adolf rầu rĩ nói. Tôi thấy thương anh, nhưng giờ đây tôi cũng thương cả vợ anh.
"Đi vào thành phố với em đi, Adolf, anh cứ ngồi đây thật vô nghĩa,"
tôi rủ. Nhưng anh không muốn. Bên ngoài con chó cất tiếng sủa. Lúc này vợ anh đã đi qua cổng vườn, quay về nhà cha mẹ chị.
"Chị ấy muốn quay lại đây sao anh?" tôi hỏi. Anh gật đầu. Tôi không hỏi thêm gì nữa. Anh phải tự giải quyết thôi.
"Đi vào phố nào,” tôi cố gắng rủ một lần nữa.
"Đổ lúc khác, Ernst."
"Ít nhất thì anh cũng làm một điếu xì gà đi!" Tôi đẩy hộp xì gà về phía anh và chờ đến khi anh lấy một điếu. Sau đó, tôi chìa tay cho anh. "Em sẽ ghé thăm anh lần nữa, Adolf."
Anh tiễn tôi đến cổng vườn. Đi một lúc tôi quay lại vẫy vẫy. Anh vẫn còn đứng bên hàng rào, và phía sau anh lại là bóng tối nhập nhoạng, y như hôm nào khi anh xuống sân ga và rời khỏi chúng tôi. Lẽ ra anh nên ờ lại với chúng tôi. Bây giờ anh một thân một minh và bất hạnh, còn chúng tôi dù muốn đến đâu cũng không thể giúp anh. Chao ôi, ở chiến trường thật đơn giản hơn nhiều - ờ đó chỉ cần bạn còn sống là mọi thứ đều ổn.