
Đó là buổi sáng khởi hành đi Petra.
Sarah xuống dưới nhà để tìm gặp một phụ nữ to con dáng vẻ oai phong có cái mũi giống như mũi ngựa nhún của trẻ con mà cô từng để ý thấy trong khách sạn. Bà ta đang cực lực phản đối về kích cỡ của chiếc xe ở bên ngoài cổng chính.
“Xe nhỏ quá! Để cho bốn hành khách hả? Còn người phiên dịch nữa? Thế thì dĩ nhiên chúng tôi phải có một chiếc xe lớn hơn nhiều. Làm ơn đưa xe này đi và mang xe khác có kích cỡ phù hợp đến nhé!”
Đại diện công ty du lịch Castle cố lên tiếng giải thích nhưng vô ích. Đó là cỡ xe vẫn thường dùng để chở khách. Thật sự xe rất tiện nghi. Dùng xe lớn hơn thì không phù hợp với hành trình trên sa mạc. Bà to con, nói một cách ẩn dụ, lăn xả vào anh ta như một chiếc xe ủi to đùng.
Rồi bà chuyển hướng chú ý của mình sang Sarah.
“Cô King đây à? Tôi là Phu nhân Westholme. Tôi chắc rằng cô đồng ý với tôi chiếc xe ấy kích cỡ cực kỳ không thích hợp?”
“À,” Sarah thận trọng đáp, “tôi đồng ý rằng một chiếc rộng hơn có thể sẽ thoải mái hơn đấy!”
Người đàn ông trẻ từ công ty du lịch tới làu bàu nói xe rộng hơn thì giá sẽ tăng thêm.
“Giá cả,” phu nhân Westholme nói chắc như đinh đóng cột, “đã bao gồm tất cả trong đấy rồi. Chắc chắn tôi sẽ từ chối trả thêm bất cứ khoản tiền nào. Tờ quảng cáo của các anh đã ghi rõ là ‘đi xe khách bít bùng thoải mái tiện nghi’ cơ mà. Các anh phải giữ đúng các điều khoản của hợp đồng chứ.”
Thừa nhận mình đã thất bại, người trẻ tuổi làu bàu về việc để xem có thể làm được gì, rồi ỉu xìu lủi mất khỏi hiện trường.
Phu nhân quay sang cô gái, nụ cười chiến thắng vẻ vang trên vẻ mặt dãi dầu sương gió, hai lỗ mũi tông hốc như ngựa nhún của bà ta phổng lên đắc chí.
Phu nhân Westholme là một nhân vật rất nổi tiếng trên chính trường nước Anh. Huân tước Westholme là một nghị sĩ trung niên, tính tình đơn sơ mộc mạc, sở thích duy nhất trong đời ông là đi săn, bắn súng và câu cá. Khi du lịch nước Mỹ trở về, ông gặp một hành khách cùng đi là bà Vansittart. Ít lâu sau đó bà trở thành phu nhân Westholme. Cuộc hôn nhân này vẫn thường được nêu lên như một trong những ví dụ điển hình về hiểm họa khi viễn du trên đại dương. Tân phu nhân cả đời toàn chỉ mặc đồ bằng vải len và mang giày da thô kệch bền chắc, nuôi chó, hay bắt nạt dân làng và không hề thương xót ép chồng mình phải tham gia các sinh hoạt cộng đồng. Tuy nhiên bà vẫn khăng khăng một mực cho rằng chính trị không phải là và không bao giờ là metiernghề nghiệp của ngài huân tước. Bà ta rộng lượng để cho ông trở lại với các sở thích trước đó, còn chính mình thì ứng cử vào Nghị viện. Đắc cử với đa số phiếu, phu nhân Westholme hăng hái lao mình vào hoạt động chính trị, đặc biệt tích cực tham gia các buổi chất vấn chính phủ tại Nghị viện. Tranh biếm họa về bà ta bắt đầu xuất hiện thật sớm (vẫn luôn là dấu hiệu chắc chắn thành công). Là người của công chúng, bà cổ vũ các giá trị truyền thống trong sinh hoạt gia đình, công tác an sinh xã hội trong nữ giới, và là người nhiệt tình ủng hộ Hội Quốc Liên. Quan điểm của bà đã góp phần quyết định trong các vấn đề về nông nghiệp, nhà cửa và giải tỏa các khu ổ chuột. Bà rất được kính trọng nhưng hầu như không ai ưa bà ta! Rất nhiều khả năng bà sẽ được giao chức vụ thứ trưởng nếu đảng của bà trở lại cầm quyền. Vào lúc mà chính phủ của đảng Tự do hầu như bất ngờ nắm được quyền bính nhờ sự rạn nứt giữa đảng Lao Động và đảng Bảo thủ trong chính phủ Anh.
Phu nhân Westholme nhìn theo chiếc xe đang nổ máy chạy đi với vẻ hả hê ác nghiệt. “Đàn ông lúc nào cũng tưởng có thể lừa được phụ nữ,” bà ta nói.
Sarah nghĩ một người đàn ông phải to gan lắm mới tưởng mình lừa được phu nhân Westholme. Cô giới thiệu với bà bác sĩ Gerard vừa ra khỏi khách sạn.
“Tên ông dĩ nhiên rất quen thuộc với tôi,” bà bắt tay Gerard. “Tôi vừa nói chuyện với giáo sư Chantereau hôm kia ở Paris. Dạo gần đây tôi đã bắt đầu quan tâm rất sâu sắc đến vấn đề điều trị những người mất trí nghèo khổ. Quả thật rất sâu sắc đấy ạ. Chúng ta vào bên trong chờ người ta đưa xe khác đến nhé?”
Một quý bà trung niên nhỏ thó nhìn không rõ mặt, tóc bạc khá nhiều, đang lảng vảng gần đó, hóa ra lại là quý cô Amabel Pierce, thành viên thứ tư trong đoàn du khách này. Bà cô này cũng bị lôi vào phòng khách dưới đôi cánh bảo hộ của phu nhân Westholme.
“Cô là người có chuyên môn, hả cô King?”
“Tôi vừa đậu cử nhân y khoa ạ.”
“Tốt,” phu nhân tán thành với vẻ nhún nhường hạ cố. “Hãy ghi nhớ lời tôi, nếu có việc gì không hoàn thành được, chính phụ nữ sẽ làm được việc ấy.”
Lần đầu tiên có cảm giác khó chịu khi nghe bàn về nữ giới của mình, Sarah riu ríu theo sau phu nhân đi tìm một chỗ ngồi.
Ở đó trong khi chờ đợi, phu nhân báo cho họ biết mình vừa từ chối lời mời lưu trú tại phủ của Cao ủy[1] trong thời gian ở lại Jerusalem. “Tôi chẳng muốn bị bộ máy quan liêu ấy ngáng trở. Tôi mong ước được tự mình quan sát mọi chuyện.”
“Chuyện gì thế ạ?” Sarah thắc mắc.
Phu nhân giải thích sở dĩ bà lưu trú tại khách sạn Solomon là vì không muốn bị vướng víu. Bà nói thêm rằng mình đã gợi ý rất nhiều với ông giám đốc về việc điều hành khách sạn hiệu quả hơn.
“Hiệu quả,” bà nói, “là khẩu hiệu của tôi.”
Quả đúng thế! Mười lăm phút sau một chiếc xe khách to cực kỳ đầy đủ tiện nghi tới nơi, và theo đúng lịch trình đã định - sau khi được phu nhân khuyên bảo phải sắp xếp hành lý thế nào cho gọn gàng - đoàn du khách lên đường.
Nơi họ dừng chân trước tiên là Biển Chết. Họ dùng bữa trưa ở Jericho[2]. Sau đó, khi phu nhân cầm theo sổ tay hướng dẫn du lịch đã đi đâu đó với cô Pierce, còn ông bác sĩ và hướng dẫn viên người Ảrập béo phì đi tham quan thành phố cổ một vòng, thì Sarah vẫn ở lại trong vườn hoa của khách sạn. Cô hơi bị nhức đầu và muốn ở một mình. Một cảm giác hết sức chán chường trĩu nặng lòng cô - nỗi chán chường khó giải thích. Bất chợt cô cảm thấy mình chẳng hề quan tâm, chẳng hề vui thích, chẳng hề muốn tham quan gì cả, và bị các bạn đồng hành làm cho bực bội. Ngay lúc này cô ước gì mình không tham gia chuyến đi Petra. Rất tốn kém mà cô thấy chắc chắn sẽ không vui thú gì. Cái giọng ồm ồm rổn rảng của phu nhân Westholme, tiếng cười nói liên tu bất tận của cô Pierce và những lời phàn nàn chống chủ nghĩa phục quốc Do Thái của hướng dẫn viên người Ảrập đã làm thần kinh cô căng thẳng đến mệt mỏi rã rời. Cô cũng không ưa vẻ thích thú của bác sĩ vì ông biết đích xác cô đang cảm thấy thế nào.
Cô tự hỏi bây giờ gia đình Boynton đang ở đâu - có lẽ họ đã đến Syria - có thể đang ở Baalbek[3] hoặc Damascus. Còn Raymond - cô tự hỏi cậu ta đang làm gì. Thật kỳ lạ, cô có thể nhìn thấy khuôn mặt cậu rõ ràng đến thế nào - nét mặt thiết tha mong đợi - rụt rè thiếu tự tin - bồn chồn căng thẳng…
Chết tiệt, sao cứ nghĩ mãi đến những người có lẽ cô sẽ không bao giờ gặp lại vậy chứ? Chuyện đã xảy ra hôm kia với bà già ấy - ma xui quỷ khiến thế nào mà cô lại tiến thẳng tới bà ta và phun ra lắm điều vớ va vớ vẩn. Những người khác chắc hẳn đã nghe thấy. Cô cho rằng phu nhân Westholme lúc ấy đang ở rất gần. Sarah cố nhớ thật chính xác mình đã nói gì. Chắc có gì đó hết sức điên khùng. Trời ơi, cô đã tự biến mình thành một con ngốc! Nhưng thật ra đó không phải lỗi tại cô, mà là lỗi của bà già ấy. Bà ta có gì đó khiến cô mất bình tĩnh.
Bác sĩ Gerard đi vào, ngồi phịch xuống ghế rồi lau vầng trán nóng bừng.
“Phù! Người đàn bà đó chắc sẽ bị đầu độc mất thôi!” ông tuyên bố.
Sarah giật mình thảng thốt: “Bà Boynton ấy hả?”
“Bà Boynton sao! Không phải, tôi muốn nói đến phu nhân Westholme ấy! Tôi không tin nổi bà này từng có một ông chồng trong nhiều năm mà ông ta lại chưa hề được làm chồng, ông ta làm chồng cái kiểu gì vậy nhỉ?”
Sarah bật cười.
“Ôi, ông ấy là kiểu người chuyên đi săn, câu cá và bắn súng,” cô giải thích.
“Cứ theo tâm lý học mà nói thì điều đó rất hợp lý! Ông ta làm dịu cơn thèm muốn của mình bằng cách tiếp tục giết đi – cái gọi là – những sinh vật hạ đẳng.”
“Tôi tin ông ấy rất tự hào về các hoạt động của bà vợ.”
Ông người Pháp đưa ra giả thuyết: “Bởi vì việc ấy khiến bà ta phải ra khỏi nhà rất thường xuyên chứ gì? Điều đó có thể hiểu được.” Rồi ông nói tiếp: “Lúc nãy cô nói gì vậy? Bà Boynton hở? Đầu độc bà ta chắc chắn cũng sẽ là ý kiến rất hay. Dứt khoát đó là biện pháp tốt đẹp, đơn giản nhất để giải quyết vấn đề của gia đình ấy! Thực tế rất nhiều phụ nữ nên bị đầu độc thì sẽ tốt hơn. Tất cả những bà đã trở nên già nua xấu xí.”
Ông ta làm vẻ mặt diễn tả ý kiến đó của mình.
Sarah bật cười kêu lên: “Ôi, ông đúng là đàn ông Pháp! Bà nào không còn trẻ trung gợi cảm nữa thì ông cho là vô dụng tất.”
Bác sĩ Gerard nhún vai.
“Thì chúng tôi thật thà hơn, có thế thôi. Đàn ông Anh ấy à, họ không đứng lên nhường chỗ cho các bà xấu xí trên tàu điện ngầm và tàu hỏa… không, không có đâu.”
“Đời thật đáng chán quá!” Sarah thở dài.
“Cô thì không cần phải thở dài đâu, thưa cô.”
“À, hôm nay tôi thấy bực tức quá đi mất.”
“Chuyện thường tình mà!”
“Ông nói chuyện thường tình là ý gì chứ?”
“Cô có thể tìm ra lý do rất dễ dàng nếu xem xét trạng thái tinh thần của mình một cách trung thực.”
“Tôi nghĩ chính mấy người cùng đi du lịch với chúng ta đã khiến tôi chán chường,” Sarah nói. “Khiếp quá, đúng không? Nhưng quả thật tôi ghét đàn bà lắm! Khi họ bất tài và ngu ngốc như cô Pierce, họ làm tôi tức điên lên… còn khi họ có năng lực như phu nhân Westholme thì họ làm tôi còn bực mình hơn nữa.”
“Phải nói hai người đó làm cho cô bực mình là điều không thể tránh khỏi. Phu nhân Westholme đúng là giỏi lèo lái cuộc sống của mình và rất hạnh phúc và thành đạt. Cô Pierce thì nhiều năm làm nữ gia sư dạy kèm trẻ em, rồi bỗng dưng được thừa hưởng một gia tài nho nhỏ cho phép bà thực hiện những điều cả đời hằng mơ ước và đi du lịch. Và cho đến bây giờ bà ấy vẫn tính chuyện đi du lịch. Còn cô thì vừa bị cản phá không đạt được điều mình mong muốn, vì thế tất nhiên cô bực bội vì sự tồn tại của những kẻ đã thành công hơn cô trên đường đời.”
“Tôi nghĩ ông nói đúng,” Sarah rầu rĩ nói. “ông đọc suy nghĩ của người khác cực kỳ chính xác! Tôi cứ cố tự lừa dối mình, còn ông thì không để cho tôi làm điều ấy.”
Ngay lúc đó những người kia trở về. Hướng dẫn viên có vẻ đuối sức nhất trong ba người, và trên đường đi Amman anh ta không hé môi nói nửa lời, thậm chí cũng không đề cập tới dân Do Thái. Ai nấy đều rất biết ơn vì chuyện này. Trong hành trình từ khi rời Jerusalem, lời kể huyên thuyên điên cuồng của anh ta về những điều tội lỗi của dân Do Thái đã khiến mọi người rất bực mình.
Giờ đây con lộ quanh co khúc khuỷu dẫn từ thung lũng sông Jordan đi lên cao, những khóm trúc đào khoe sắc hồng hai bên đường.
Họ tới Amman lúc xế chiều, và sau khi tham quan nhanh nhà hát Graeco - Roman, họ đi ngủ sớm. Sáng hôm sau họ phải khởi hành sớm vì xe phải chạy suốt ngày băng qua sa mạc để tới Ma’an.
Ngay sau tám giờ sáng, họ lên đường. Đoàn du khách có chiều hướng lặng thinh. Đó là một ngày nóng bức không một chút gió, và đến giữa trưa khi họ nghỉ chân để dùng bữa trưa dã ngoại thì trời nóng đến mức ngạt thở. Cáu kỉnh vì suốt cả ngày nóng nực, lại bị nhốt chung với ba người khác khiến ai nấy đều có chút căng thẳng thần kinh. Phu nhân Westholme và bác sĩ Gerard đã có một cuộc tranh luận hơi gay gắt về Hội Quốc Liên. Phu nhân vốn là người ủng hộ hội rất hăng hái nhiệt thành, còn ông người Pháp lại chọn cách nói bông đùa về những điều bất lợi cho hội. Từ thái độ của Hội Quốc Liên về Abyssinia[4] và Tây Ban Nha, họ chuyển sang cuộc tranh chấp biên giới của Litvania mà Sarah chưa bao giờ nghe nhắc tới, rồi từ đó bàn đến các hoạt động của Hội Quốc Liên nhằm trấn áp các băng đảng buôn ma túy.
“Ông phải công nhận họ đã làm việc thật tuyệt vời. Quá tuyệt vời ấy chứ!” phu nhân Westholme đốp chát.
Bác sĩ Gerard nhún vai.
“Có lẽ thế. Với cái giá cũng tuyệt vời luôn!”
“Đấy là một vấn đề rất nghiêm trọng. Tuân theo Đạo luật Ma túy Nguy hiểm…” Cuộc tranh luận tiếp tục.
Cô Pierce liến thoắng với Sarah: “Đi du lịch cùng với phu nhân Westholme thích quá trời.”
Cô gái đáp lại thật chua chát: “Thế ư?”
Nhưng cô Pierce không để ý đến giọng chua chát ấy, cứ tiếp tục huyên thuyên.
“Tôi rất thường xuyên thấy tên bà ấy trên mặt báo. Phụ nữ tham gia hoạt động xã hội mà giữ vững vị trí của mình là quá tài giỏi. Bao giờ tôi cũng vui mừng khi một phụ nữ đạt được thành quả nào đó!”
“Tại sao?” Sarah hung hăng hỏi.
Miệng cô Pierce há hốc, rồi hơi lắp bắp:
“Ôi, là vì… tôi muốn nói là… chỉ vì… à, phụ nữ có năng lực làm việc này việc nọ thì quá tuyệt.”
“Tôi không đồng ý,” Sarah nói. “Thật tuyệt khi bất cứ ai cũng có khả năng hoàn thành việc gì đấy thật xứng đáng. Là đàn ông hay đàn bà chẳng có gì quan trọng. Sao phải thế chứ?”
“À, dĩ nhiên là thế…” cô Pierce nói. “Vâng, tôi xin thú thật là - lẽ dĩ nhiên, khi nhìn vấn đề theo cách ấy…”
Thế nhưng trông bà cô có vẻ hơi buồn bã. Sarah dịu giọng:
“Tôi xin lỗi, nhưng quả thật tôi ghét sự phân biệt giới tính kiểu ấy. ‘Con gái đời nay có một thái độ hoàn toàn thực tế đối với cuộc sống.’ Cái kiểu ấy đấy! Như thế chả đúng một chút nào. Một số con gái thực tế, một số thì không. Một số đàn ông ủy mị và đần độn, số khác lại sáng dạ và biết lý lẽ. Đấy chỉ là các kiểu đầu óc khác nhau mà thôi. Giới tính chỉ quan trọng khi liên quan trực tiếp đến vấn đề tình dục.”
Cô Pierce hơi đỏ mặt khi nghe nói tới tình dục, và khéo léo đổi đề tài.
“Người ta không thể tránh khỏi mong ước có một chút bóng mát che cho mình,” bà lẩm bẩm. “Nhưng tôi nghĩ tất cả cảnh trống vắng này thật tuyệt vời, cô có nghĩ thế không?”
Sarah gật đầu, thầm nghĩ, đúng thế, cảnh trống vắng chỉ có một mình này thật là tuyệt diệu… Chữa lành vết thương… Bình an… Chẳng người nào khiến mình phải xao xuyến với quan hệ qua lại chán ngắt… Chẳng có vấn đề cá nhân nóng bỏng nào cả! Giờ đây cô cảm thấy cuối cùng mình đã thoát khỏi gia đình Boynton. Thoát khỏi cái ước muốn kỳ lạ cứ thúc ép cô can thiệp vào cuộc sống của những kẻ mà quỹ đạo không hề đụng chạm vào quỹ đạo của cô. Cô thấy khuây khỏa và bình tâm. Nơi đây là cảnh quạnh hiu, trống vắng, bát ngát mênh mông… Thật sự an lành…
Duy chỉ có điều, dĩ nhiên ta chẳng được ở một mình để thụ hưởng. Phu nhân Westholme và bác sĩ Gerard đã kết thúc đề tài ma túy, bây giờ đang tranh luận về việc phụ nữ trẻ cả tin nhẹ dạ bị bán ra nước ngoài một cách ám muội đến tận các quán rượu tạp kỹ[5] ở Argentina.
Bác sĩ Gerard đã tỏ ra khinh suất trong suốt cuộc đàm đạo với phu nhân Westholme, vốn là một chính khách đích thực chẳng có tính hài hước nên thấy rõ ràng ông này thậi đáng chỉ trích.
“Bây giờ chúng ta đi tiếp nhé?” anh hướng dẫn viên da đen như bồ hóng thông báo, và lại nói về hành vi bất công của người Do Thái.
Chừng một giờ sau khi mặt trời lặn, họ tới Ma’an. Những người lạ mặt mày lộ vẻ man rợ vây quanh xe. Sau khi dừng lại giây lát, xe đi tiếp.
Nhìn khắp miền đất bằng phẳng hoang vắng, Sarah hoang mang không rõ thành trì bằng đá của Petra có thể ở nơi nào. Có chắc họ có thể nhìn thấy hàng dặm, hàng dặm xung quanh mình không? Chẳng có núi cũng chẳng có đồi ở nơi nào cả. Phải chăng họ còn cách xa đích đến của hành trình nhiều dặm nữa?
Họ tới làng Ain Musa và phải để xe lại ở đó. Bầy ngựa đang chờ họ - những con thú gầy còm trông thiểu não. Váy áo dài lượt thượt không thích hợp để cưỡi ngựa khiến cô Pierce vô cùng bối rối. Phu nhân Westholme nhạy bén đã mặc quần lửng đến đầu gối, có lẽ không phải là kiểu ăn mặc phù hợp với một nhân vật như bà, nhưng chắc chắn là có ích cho việc này.
Bầy ngựa được dắt ra khỏi làng theo con đường mòn trơn trượt lởm chởm đá. Con đường đổ dốc và ngựa đi xiêu vẹo. Mặt trời sắp tắt.
Sarah rất mệt vì chuyến đi dài nóng bức trên xe. Cô thấy người mụ mẫm. Hành trình trên lưng ngựa y hệt mộng mị. Dường như hố thẳm địa ngục đang mở ra theo mỗi bước chân mình. Đường đi ngoằn ngoèo dốc xuống - xuống dưới mặt đất. Những hình thù đá trồi lên quanh họ - xuống dưới lòng đất, qua một mê cung có những vách đá màu đỏ. Giờ đây đá nhô cao ở cả hai bên. Sarah thấy nghẹt thở - bị hẻm núi càng lúc càng hẹp lại đe dọa.
Cô bối rối thầm nghĩ: ‘Xuống thung lũng tử thần - xuống thung lũng tử thần…’
Cứ thế và cứ thế. Trời tối sầm - màu đỏ rực của những vách đá phai mờ dần - và vẫn cứ như thế, ngoằn ngoèo hết ra lại vào, bị giam hãm, lạc lõng trong lòng đất.
Cô nghĩ: ‘Thật là kỳ dị, không thể nào tin nổi… một thành phố chết.’
Và lần nữa cụm từ ấy trở lại như một điệp khúc: ‘Thung lũng tử thần…’
Giờ thì những chiếc đèn lồng được thắp lên. Mấy con ngựa cứ tiến tới qua những lối đi ngoằn ngoèo chật hẹp. Thình lình họ bước ra một khoảng trống rộng rãi - những vách đá lùi lại đằng sau. Xa xa đằng trước họ là một chùm đèn cháy sáng.
“Đó là khu trại!” hướng dẫn viên nói.
Bầy ngựa bước nhanh hơn một chút - không nhanh hơn nhiều lắm - chúng đói quá chẳng còn hơi sức nào, chỉ hăng hái chút xíu thôi. Giờ đây đường đi chạy dọc theo một lòng sông đầy sỏi xâm xấp nước. Ánh đèn đã gần hơn. Họ có thể trông thấy một cụm lều san sát nhau, dãy lều cao hơn thì tựa vào vách đá, ngoài ra còn có những hang động khoét sâu vào trong đá nữa.
Họ sắp đến nơi. Những nhân viên người Ảrập du cư chạy ra đón khách.
Sarah lập tức ngước nhìn những hang động chằm chặp. Có một bóng dáng đang ngồi ở đó. Là cái gì thế nhỉ? Tượng thần ư? Một hình tượng khổng lồ thấp bé chắc nịch?
Không phải, chính ánh đèn lù mù đã khiến nó hiện ra lù lù đến thế. Nhưng chắc hẳn đó là một tượng thần, ngồi im lìm bất động, phủ cái bóng u ám của nó lên điểm du lịch này.
Rồi sau đó cô bất chợt nhận ra rất nhiều điều. Cảm giác bình an - thoát thân - mà sa mạc đã cho cô giờ biến mất. Cô đã bị dẫn đi từ tự do trở về với tình trạng tù hãm. Cô đã cưỡi ngựa xuống thung lũng ngoằn ngoèo tăm tối này; và như mụ thầy cúng tinh quái của một tà giáo bị lãng quên, như bức tượng Phật bà trương phình quái đản, bà Boynton đang chễm chệ ngồi kia…
❀ ❀ ❀
[1] Đại sứ Anh, nói chung là đại diện chính của một nước trong Khối Thịnh vượng chung ở một nước khác trong khối này.
[2] Jericho được xem là thành phố cổ xưa nhất thế giới ở Vùng bờ Tây, trong thung lũng Jordan.
[3] Baalbek là thành phố ở miền đông Libăng, giữa hai dòng sông Litani và Asi.
[4] Abyssinia nay là Ethiopia.
[5] quán rượu tạp kỹ, cabaret, là quán rượu, nhà hàng hay hộp đêm có sàn diễn ca nhạc, khiêu vũ và các tiểu phẩm hài.