
Phu nhân Westholme đi vào phòng với dáng vẻ tự tin của con tàu khách xuyên Đại Tây Duong đang cập bến.
Cô Amabel Pierce thì như con tàu vô định theo ngay đằng sau tàu khách đó và ngồi xuống một cái ghế hạng thấp kém hơn, hơi tụt lại đằng sau.
“Hẳn nhiên rồi, ông Poirot ạ,” phu nhân Westholme nói oang oang. “Tôi rất vui được giúp ông bằng mọi cách trong phạm vi khả năng của mình. Tôi vẫn nghĩ chúng ta luôn có nghĩa vụ xã hội trong những việc như thế này…”
Khi nghĩa vụ công của phu nhân đã chiếm lĩnh sân khấu được vài phút, Poirot đủ khéo léo để có thể đưa ra một câu hỏi.
“Tôi có một hồi tưởng hoàn hảo về buổi chiều được đề cập đến,” phu nhân đáp. “Cô Pierce và tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để giúp ông.”
“Thưa vâng,” cô Pierce thở dài, gần như rất xúc động. “Bi thảm quá phải không? Chết như thế - chỉ trong nháy mắt!”
“Các bà có thể cho tôi biết chính xác những gì đã xảy ra buổi chiều hôm đó không?”
“Chắc chắn,” phu nhân Westholme đáp. “Sau khi ăn trưa xong, tôi quyết định ngủ trưa một lát. Cuộc đi chơi buổi sáng đã làm chúng tôi hơi mệt. Chẳng phải tôi mệt mỏi quá - hiếm khi tôi bị mệt. Tôi thật sự chẳng biết mệt nhọc là gì. Người ta rất thường xuyên bị mệt vào những dịp tụ họp công cộng, bất kể họ thật sự cảm thấy thế nào…”
Poirot lại lẩm bẩm gì đó thật khôn khéo.
“Như tôi vừa nói, tôi rất muốn ngủ trưa. Cô Pierce cũng đồng ý với tôi,” bà ta nói.
“Thưa vâng,” cô Pierce thở dài. “Và tôi đã mệt kinh khủng sau buổi sáng. Cuộc leo trèo quá nguy hiểm - và mặc dù thú vị thật, nhưng lại làm kiệt sức quá đỗi. Tôi e rằng mình hoàn toàn chả mạnh mẽ bằng phu nhân Westholme đâu ạ.”
“Chẳng thể chế ngự được cơn mệt mỏi đâu,” phu nhân Westholme nói, “mọi thứ khác cũng vậy. Tôi chả bao giờ chịu bỏ qua nhu cầu của cơ thể mình mà luôn xem đấy là việc quan trọng.”
Poirot hỏi:
“Sau bữa ăn trưa, hai bà đã về lều của mình phải không?”
“Phải.”
“Bà Boynton khi ấy đang ngồi ở cửa hang của bà ta à?”
“Cô con dâu đã đỡ bà ấy đến đấy rồi mới bỏ đi.”
“Cả hai bà đều có thể trông thấy bà ta hay sao?”
“Thưa vâng,” cô Pierce đáp. “Bà ấy ở phía đối diện, ông biết đấy - dĩ nhiên hơi cách xa và ở trên cao.”
Phu nhân Westholme làm sáng tỏ thêm lời khai đó.
“Cửa hang ở trên một mỏm đá. Dưới mỏm đá ấy có một số lều. Còn có một con suối nhỏ, và bên kia suối là lều lớn và một số lều khác nữa. Cô Pierce và tôi ở trong hai cái lều gần lều lớn. Bà ấy ở bên phải lều lớn, còn tôi thì ở bên trái. Cửa lều chúng tôi đối diện với mỏm đá, nhưng dĩ nhiên cách một quãng xa.”
“Gần hai trăm thước, tôi hiểu rồi.”
“Có thể như thế.”
“Tôi có ở đây một sơ đồ,” Poirot nói, “tự vẽ ra nhờ sự giúp đỡ của Mahmoud, hướng dẫn viên du lịch người Ảrập.”
Phu nhân lưu ý lỡ như ông đã vẽ sai thì sao!
“Gã ấy nói sai bét. Tôi đã kiểm tra lời gã nói dựa theo quyển sách hướng dẫn du lịch của tôi. Rất nhiều lần thông tin của gã rõ là sai lệch.”
“Cứ theo sơ đồ của tôi,” Poirot nói, “thì cái hang kế bên hang bà Boynton là của anh con trai Lennox và vợ anh ta. Raymond, Carol và Ginevra ở trong các lều ngay bên dưới đó nhưng lệch về bên phải - thực tế gần như đối diện với lều lớn. Bên phải lều của Ginevra là lều của bác sĩ Gerard và kế đó nữa là lều của cô King. Bên kia suối - kế bên trái lều lớn… là hai cái lều của bà và ông Cope. Còn lều cô Pierce thì như bà vừa nói, ở phía bên phải lều lớn. Có đúng như vậy không?”
Bất đắc dĩ phu nhân phải thừa nhận theo như bà ta biết thì đúng như thế.
“Tôi cảm ơn bà, đã hoàn toàn sáng tỏ. Xin bà tiếp tục, thưa phu nhân Westholme!”
Phu nhân cười duyên với Poirot rồi nói tiếp:
“Khoảng chừng bốn giờ kém mười lăm tôi đi đến lều cô Pierce, định bụng xem cô ấy đã thức giấc chưa và có thích đi tản bộ không. Cô ấy đang ngồi đọc sách ở cửa lều. Chúng tôi đồng ý chừng nửa giờ nữa sẽ ra đi, khi trời bớt nắng nóng. Tôi trở về lều của mình và đọc sách chừng hai mươi nhăm phút. Sau đấy tôi đi gặp cô Pierce. Cô ấy đã sẵn sàng và chúng tôi bắt đầu ra ngoài. Mọi người trong trại dường như đều say ngủ - chả có ai ở xung quanh, và khi thấy bà Boynton ngồi một mình ở trên đấy, tôi gợi ý với cô Pierce là chúng tôi nên hỏi bà ấy có cần gì hay không trước khi bỏ đi.”
“Vâng, bà đã gợi ý. Bà vẫn luôn suy nghĩ thấu đáo, tôi để ý thấy thế đấy,” cô Pierce lẩm bẩm.
“Tôi cảm thấy đấy là nghĩa vụ của mình,” phu nhân Westholme nói với vẻ hết sức đắc ý.
“Vậy mà bà ta lại tỏ ra quá khiếm nhã,” cô Pierce kêu lên.
Poirot có vẻ thắc mắc.
“Lối mòn chúng tôi đi ngang qua ngay bên dưới mỏm đá,” phu nhân Westholme giải thích, “và tôi ngước lên gọi bà ấy. Bảo là chúng tôi sắp đi tản bộ và có thể làm gì đấy cho bà ấy trước khi đi. Ông có biết không, ông Poirot, câu trả lời của bà ta hoàn toàn chỉ là một tiếng càu nhàu! Một tiếng càu nhàu thôi! Bà ấy chỉ nhìn chúng tôi như thể chúng tôi là - như thể chúng tôi là đồ rác rưởi!”
“Thật nhục nhã,” cô Pierce mặt đỏ bừng.
“Tôi phải thú thật,” phu nhân Westholme cũng hơi đỏ mặt, “khi ấy tôi đã có một nhận xét hơi khắc nghiệt.”
“Tôi nghĩ bà hoàn toàn có lý,” cô Pierce nói. “Hoàn toàn đúng - trong hoàn cảnh ấy.”
“Nhận xét gì vậy?” Poirot hỏi.
“Tôi nói với cô Pierce có lẽ bà ấy đã uống rượu! Thật sự tính khí bà ta hết sức kỳ cục. Hồi nào tới giờ vẫn thế. Tôi từng nghĩ rất có khả năng rượu đã gây ra điều ấy. Thói xấu nghiện rượu, như tôi biết quá rõ…”
Một cách khéo léo, Poirot lái cuộc trò chuyện ra xa đề tài nghiện rượu.
“Tính khí bà ta có hết sức kỳ khôi vào cái ngày đặc biệt ấy hay không? Chẳng hạn vào bữa ăn trưa?”
“À… không,” phu nhân Westholme đắn đo suy nghĩ. “Không, phải nói là lúc ấy tính khí bà ta khá bình thường - đối với một người Mỹ hạng ấy, thế đấy,” bà nói thêm có vẻ nhún nhường hạ cố.
“Bà ấy đã chửi rủa cậu nhân viên phục vụ,” cô Pierce nói.
“Chuyện gì nhỉ?”
“Không lâu lắm trước khi chúng tôi bắt đầu lên đường ấy mà.”
“À, tôi nhớ ra rồi, quả là bà ấy có vẻ bực tức rất khác thường với gã phục vụ! Dĩ nhiên rồi, ” phu nhân Westholme nói tiếp, “khi những nhân viên xung quanh mình chả hiểu được một từ tiếng Anh nào thì quả là rất gay go, nhưng điều tôi muốn nói là đi du lịch thì phải chấp nhận chuyện ấy chứ.”
“Nhân viên nào vậy?” Poirot hỏi.
“Một trong các nhân viên người Ảrập du cư phục vụ trong khu trại. Gã đi tới chỗ bà ấy - tôi nghĩ chắc hẳn bà ấy đã sai gã đi lấy cái gì đấy, và tôi cho là gã đã đem đến không đúng cái bà ấy cần - Thật tình tôi chẳng biết đấy là cái gì - nhưng bà ấy rất tức giận. Gã đàn ông đáng thương ba chân bốn cẳng chuồn ngay, và bà ấy vung gậy về phía gã rồi cất tiếng kêu to.”
“Bà ta kêu to cái gì?”
“Chúng tôi ở xa quá nghe chẳng rõ. Ít ra là tôi chả nghe rõ ràng bất cứ điều gì, cô có nghe rõ không, cô Pierce?”
“Không, tôi chẳng nghe rõ. Tôi nghĩ bà ấy đã sai anh ta đi lấy gì đấy từ lều của cô con gái út - hoặc có lẽ bà ấy tức giận vì anh ta đã vào lều con gái bà - tôi không thể nói đích xác.”
“Trông anh ta như thế nào?”
Cô Pierce là người được hỏi lắc đầu có vẻ mơ hồ.
“Thật tình tôi không nói được. Anh ta ở quá xa. Với tôi tất cả những người Ảrập ấy trông rất giống nhau.”
“Đấy là một gã đàn ông có chiều cao trên trung bình,” phu nhân Westholme nói, “và quấn khăn trùm đầu thông thường của người bản xứ. Gã mặc một cái quần lửng rách bươm vá chằng vá đụp - bọn chúng thật đáng hổ thẹn - còn xà cạp của gã thì quấn hết sức lôi thôi lếch thếch - ăn mặc thế nào cũng được! Bọn này cần phải có kỷ luật.”
“Bà có thể chỉ ra người đàn ông ấy trong đám nhân viên của khu trại hay không?”
“Tôi nghi ngờ điều ấy. Chúng tôi không trông thấy mặt hắn - ở quá xa. Và như cô Pierce vừa nói, thật sự bọn Ảrập này đều rất giống nhau.”
“Tôi thắc mắc,” Poirot nói vẻ tư lự, “không rõ anh ta đã làm gì khiến bà ấy tức giận đến thế?”
“Bọn chúng đôi khi rất phiền phức khiến ta mất cả kiên nhẫn,” phu nhân Westholme đáp. “Một gã trong bọn lấy đi đôi giày của tôi, mặc dù tôi đã nói với gã thật rõ ràng - bằng cả điệu bộ nữa - rằng tôi thích tự tay đánh giày của mình hơn.”
“Lúc nào tôi cũng làm như vậy,” Poirot nói, đi chệch hướng ra khỏi cuộc thẩm vấn của ông trong chốc lát. “Tôi mang theo bộ đồ nghề đánh giày nhỏ xíu của mình đi khắp mọi nơi. Tôi còn đem theo khăn lau bụi nữa.”
“Tôi cũng thế.” Phu nhân Westholme dịu giọng. “Bởi vì bọn Ảrập này chả bao giờ lau sạch bụi trên hành lý của ta.”
“Không bao giờ! Đương nhiên ta phải lau chùi đồ đạc của mình mỗi ngày ba bốn bận chứ…”
“Nhưng làm vậy cũng rất xứng đáng.”
“Phải, quả là thế. Tôi không chịu được bụi bẩn.”
Phu nhân Westholme trông có vẻ thật hung hăng. Bà ta xúc động nói thêm:
“Lũ ruồi - trong các chợ ngoài đường phố - thật khủng khiếp!”
“Thôi, thôi được rồi,” Poirot nói, hình như cảm thấy hơi có lỗi. “Chúng tôi có thể sớm thẩm tra người đàn ông ấy để xem điều gì đã khiến bà Boynton bực tức. Tiếp tục câu chuyện của các bà đi.”
“Chúng tôi từ từ đi dạo,” phu nhân kể. “Rồi sau đấy chúng tôi gặp bác sĩ Gerard, ông ấy bước đi loạng choạng và có vẻ bị bệnh nặng lắm. Tôi có thể tức khắc nhận ra ông ấy đang bị sốt.”
“Ông ấy đang run rẩy,” cô Pierce thêm vào. “Run lẩy bẩy toàn thân.”
“Tôi biết ngay là ông ấy đang lên cơn sốt rét,” phu nhân nói. “Tôi đề nghị đi cùng ông về trại và lấy cho ông ấy vài viên ký ninh, nhưng ông ấy bảo đã trữ sẵn thuốc rồi.”
“Tội nghiệp ông ấy quá giời,” cô Pierce nói. “Ông biết không, dường như lúc nào cũng quá kinh khiếp đối với tôi khi trông thấy một bác sĩ bị bệnh.”
“Chúng tôi tiếp tục bách bộ,” phu nhân kể tiếp, “rồi sau đấy ngồi xuống một tảng đá.”
Cô Pierce lẩm bẩm: “Đúng thế - quá mệt nhọc vì gắng sức rất nhiều vào buổi sáng - cứ leo với trèo…”
“Tôi chẳng bao giờ thấy mệt cả,” phu nhân quả quyết. “Nhưng không việc gì phải đi xa hơn. Chúng tôi đã rất vui thích vì được ngắm toàn bộ phong cảnh ở xung quanh.”
“Các bà ngồi ở đó chắc không thấy khu trại à?”
“Có chứ. Chúng tôi ngồi hướng mặt về phía ấy cơ mà.”
“Thật quá lãng mạn,” cô Pierce lẩm bẩm. “Một khu trại được cắm ngay giữa chốn hoang sơ toàn những tảng đá màu đỏ hoa hồng.”
Bà ta thở dài rồi lắc đầu.
“Khu trại ấy có thể được điều hành tốt hơn bây giờ rất nhiều,” phu nhân nhận xét. Hai lỗ mũi ngựa nhún của bà ta nở rộng. “Tôi sẽ đề cập vấn đề này với công ty du lịch Castle. Tôi hoàn toàn không chắc chắn nước uống đã đun sôi cũng như đã lọc sạch hay chưa, cần phải làm thế. Tôi sẽ chỉ ra điều ấy cho họ biết.”
Poirot ho, rồi dẫn dắt cuộc trò chuyện nhanh chóng ra khỏi đề tài nước uống.
“Các bà có thấy thành viên nào khác trong đám người đó hay không?” ông gặng hỏi.
“Có đấy, cậu cả Boynton và cô vợ đã đi ngang chỗ chúng tôi trên đường quay về.”
“Họ có đi cùng nhau hay không?”
“Không. Cậu Boynton về trước. Trông cậu ấy có vẻ như hơi bị say nắng. Cậu ấy bước đi như thể bị choáng.”
“Đằng sau ót,” cô Pierce nói. “Ta phải bảo vệ đằng sau ót của mình chứ! Tôi vẫn luôn quấn khăn lụa dày che nắng quanh cổ.”
“Lennox Boynton đã làm gì khi trở về trại?” Poirot hỏi.
Ít nhất một lần cô Pierce cố chen vào trước khi phu nhân Westholme kịp mở miệng.
“Cậu ấy đi thẳng đến chỗ mẹ mình, nhưng chẳng ở lại lâu với bà ấy.”
“Là bao lâu?”
“Chỉ một hai phút gì đấy thôi.”
“Tôi xin nói rõ là chỉ hơn một phút,” phu nhân nói.
“Rồi cậu ấy đi tiếp vào hang của mình và sau đó đi xuống lều lớn.”
“Còn vợ anh ta thì sao?”
“Cô ấy về đến chừng mười lăm phút sau đấy. Cô dừng lại một lát và nói chuyện với chúng tôi - hết sức lễ độ.”
“Tôi thấy cô ấy rất hiền lành,” cô Pierce nhận xét. “Quả thật rất hiền lành đấy ạ.”
“Cô ấy không bất lực như những người còn lại trong gia đình,” phu nhân Westholme công nhận.
“Bà có quan sát cô ta lúc về trại hay không?”
“Có ạ. Cô ấy đi đến nói với mẹ chồng, rồi vào hang của mình khuân ra một chiếc ghế và ngồi bên cạnh bà ấy trò chuyện một lúc khá lâu - phải nói là chừng mười phút.”
“Rồi sau đó thì sao?”
“Sau đấy cô khuân ghế trở vào hang rồi đi xuống lều lớn gặp chồng cô đang ở đấy.”
“Chuyện gì tiếp theo?”
“Cái ông người Mỹ rất kỳ khôi ấy đi tới,” phu nhân đáp. “Cope, tôi nghĩ đấy là tên ông ta. Ông bảo chúng tôi có một kiểu mẫu rất hay của nền kiến trúc thời kỳ ấy nay đã bị bôi xấu, ở ngay khúc quanh của thung lũng. Ông bảo chúng tôi chẳng nên bỏ sót. Vì thế chúng tôi cuốc bộ đến đấy. Ông Cope có cầm theo một bài báo rất thú vị về Petra và dân Nabatean.”
“Cũng khá thú vị,” cô Pierce tỏ ý tán đồng.
Phu nhân Westholme tiếp tục:
“Chúng tôi rảo bước quay về trại, lúc ấy chừng sáu giờ kém hai mươi phút. Trời càng lúc càng lạnh.”
“Bà Boynton vẫn đang ngồi đó y như lúc các bà ra đi hay sao?”
“Phải.”
“Các bà có nói chuyện với bà ta không?”
“Không. Thật ra tôi hầu như không để ý đến bà ấy nữa.”
“Bà đã làm gì sau đó?”
“Tôi về lều thay giày rồi lấy ra gói trà Tàu của mình. Sau đó tôi đi đến lều lớn. Hướng dẫn viên người Ảrập đang ở đấy, và tôi hướng dẫn gã pha trà cho cô Pierce và tôi với gói trà tôi mang theo, rồi kiểm tra thật chắc chắn nước pha trà đã đun sôi hay chưa. Gã nói chừng nửa giờ sau sẽ sẵn sàng phục vụ bữa ăn tối - lúc ấy bọn nhân viên đang dọn bàn - nhưng tôi bảo giờ nào cũng được.”
“Tôi luôn nói uống một tách trà sẽ khác hẳn đấy,” cô Pierce lẩm bẩm mơ hồ.
“Có ai trong lều lớn không?”
“Ồ, có chứ. Hai vợ chồng Lennox đang ngồi đọc sách ở một đầu bàn. Và Carol Boynton cũng đang ở đấy.”
“Còn ông Cope thì sao?”
“Ông ấy đến cùng uống trà với chúng tôi,” cô Pierce đáp. “Mặc dù ông nói uống trà không phải thói quen của người Mỹ.”
Phu nhân Westholme ho húng hắng.
“Tôi cảm thấy hơi lo sợ một chút, e rằng ông Cope sẽ gây phiền toái - sợ ông ấy có thể sẽ bám lấy tôi mãi. Đôi lúc khi đi du lịch ta hơi khó giữ khoảng cách để người ta ở ngoài tầm của mình. Tôi thường thấy họ có khuynh hướng lợi dụng. Nhất là người Mỹ, đôi khi khá thô thiển.”
Poirot khẽ nói với giọng dịu dàng:
“Tôi chắc chắn, phu nhân Westholme ạ, bà hoàn toàn có khả năng xử lý những tình huống đại loại như thế. Khi những người quen biết cùng đi du lịch không còn đem lại bất cứ lợi ích nào cho bà nữa, tôi tin chắc bà sẽ rất thông thạo việc bỏ rơi họ luôn.”
“Tôi nghĩ mình có khả năng xử lý hầu hết mọi tình huống,” phu nhân có vẻ giương giương tự đắc.
Ánh mắt lấp lánh của thám tử hoàn toàn biến mất khi nhìn bà ta. Ông lẩm bẩm:
“Bà sẽ kết thúc lời tường trình của mình về những chuyện xảy ra ngày hôm đó chứ?”
“Hẳn thế rồi. Theo như tôi còn nhớ được, Raymond và cô Boynton tóc đỏ đi vào chẳng bao lâu sau đấy. Cô King đến nơi sau rốt. Lúc ấy bữa tối đã sẵn sàng phục vụ. Một nhân viên được người hướng dẫn du lịch sai đi báo cho bà Boynton. Gã ấy đã chạy trở lại cùng với một đồng nghiệp trong tình trạng có đôi chút kích động, và nói với hướng dẫn viên bằng tiếng Ảrập. Có đề cập gì đấy về việc bà Boynton đã ngã bệnh. Cô King đề nghị đi khám bệnh. Cô ấy ra ngoài với hướng dẫn viên. Cô đã quay trở lại báo tin cho người nhà của bà Boynton.”
“Cô ấy nói rất vội vã,” cô Pierce nói chêm vào. “Chỉ buột miệng nói ra. Tôi nghĩ việc ấy nên nói từ từ thôi.”
“Và gia đình bà Boynton đã tiếp nhận tin ấy như thế nào?” Poirot hỏi.
Chỉ một lần cả phu nhân Westholme lẫn cô Pierce đều có vẻ hơi lúng túng. Cuối cùng phu nhân đáp với một giọng chẳng còn tự tin như trước nữa:
“À - thật ra - rất khó nói. Bọn họ - họ rất bình thản khi nghe tin ấy.”
“Sửng sốt,” cô Pierce nói.
Cô ta nêu ra cái từ đó như một gọi ý chứ không phải là một nhận xét thực tế.
“Tất cả bọn họ đều ra ngoài cùng với cô King,” phu nhân nói. “Cô Pierce và tôi vẫn rất tỉnh táo ngồi yên một chỗ.”
Có thể nhận thấy một nét đăm chiêu mờ nhạt trong đôi mắt của cô Pierce vào thời điểm này.
“Tôi ghét cay ghét đắng cái thói tò mò tọc mạch tầm thường,” phu nhân Westholme nói tiếp.
Nét đăm chiêu kia trở nên rõ rệt hơn. Rõ là cô Pierce vì hoàn cảnh bắt buộc cũng đã phải ghét bỏ cái thói tò mò tọc mạch tầm thường ấy.
Phu nhân Westholme đi vào hồi kết: “Một lát sau hướng dẫn viên người Ảrập và cô King quay trở lại. Tôi đề nghị nên phục vụ bữa tối ngay lập tức cho bốn người chúng tôi, để cho gia đình Boynton ăn tối sau trong lều lớn khỏi phải bối rối vì có mặt người lạ. Đề nghị của tôi được chấp thuận và ngay tức khắc sau bữa ăn tôi lui về lều của mình. Cô King và cô Pierce cũng làm y như thế. Còn ông Cope thì tôi tin là đã ở lại trong lều lớn vì ông là một người bạn của gia đình ấy và tôi nghĩ có thể phụ giúp cho họ đôi chút. Đấy là tất cả những gì tôi biết, ông Poirot ạ.”
“Khi cô King đã báo tin rồi, cả nhà Boynton đi theo cô ta ra khỏi lều lớn, phải không?”
“Phải - à không, bây giờ khi ông đề cập đến điều ấy, tôi mới nhớ ra cô gái tóc đỏ chắc chắn vẫn ở lại. Có lẽ cô vẫn còn nhớ được, đúng không cô Pierce?”
“Vâng, tôi nghĩ là - mình hoàn toàn chắc chắn như thế.”
Poirot hỏi: “Cô ta đã làm gì?”
Phu nhân Westholme nhìn ông chằm chặp.
“Cô ấy đã làm gì sao, thưa ông Poirot? Theo như tôi còn nhớ được thì cô ta chẳng làm gì cả.”
“Ý tôi muốn hỏi có phải cô ta đang khâu vá - hay đang đọc - trông cô ta có vẻ bồn chồn lo lắng - có nói gì hay không?”
Phu nhân cau mày: “À, thật ra… cô ấy - à - theo như tôi còn nhớ được thì cô ấy chỉ ngồi đấy mà thôi.”
“Cô ấy xoay xoay vặn vặn mấy ngón tay,” cô Pierce chợt nói. “Tôi nhớ mình đã để ý thấy - tội nghiệp con bé, tôi đã nghĩ thế, việc ấy cho thấy cô bé đang cảm thấy điều gì đấy! Chẳng phải có gì biểu hiện trên mặt cô ấy đâu, ông biết đấy, chỉ là hai bàn tay cứ xoay xoay vặn vặn.”
“Có một lần,” cô Pierce nói kiểu buôn chuyện, “tôi còn nhớ mình đã xé nát tờ giấy bạc một bảng Anh theo cái kiểu ấy đấy - chả nghĩ gì về việc mình đang làm cả. Tôi đã nghĩ - có nên lên chuyến tàu hỏa đầu tiên đi thăm bà ấy hay không? Đấy là một bà cô của tôi - thình lình ngã bệnh. Hay là thôi đừng đi? Tôi chẳng thể nào quyết định nổi và, tôi nhìn xuống, thay cho tờ điện tín tôi đang xé nát một tờ giấy bạc một bảng Anh - một tờ giấy bạc một bảng Anh đấy - thành những mẩu vụn.”
Cô Pierce dừng lại một cách kịch tính.
Không hoàn toàn tán thành mẩu chuyện đột xuất nhằm thu hút sự chú ý này của cái bà làm vệ tinh cho mình, phu nhân Westholme lạnh lùng hỏi: “Còn gì nữa không, thưa ông Poirot?”
Poirot giật nảy người như thoát khỏi trạng thái trầm ngâm suy tưởng. “Không còn gì - không còn gì đâu - bà đã nói hết sức sáng tỏ - hết sức rõ ràng.”
“Tôi có trí nhớ cực kỳ tốt,” phu nhân nói vẻ tự mãn.
“Một yêu cầu nho nhỏ cuối cùng,” Poirot nói. “Thưa phu nhân Westholme, xin vui lòng tiếp tục ngồi như bà đang ngồi - xin đừng nhìn xung quanh! Bây giờ bà làm ơn miêu tả cho tôi biết chính xác cô Pierce hôm nay ăn mặc thế nào - tức là nếu cô Pierce không phản đối?”
“Ồ không! Không hề!” cô Pierce đáp liến thoắng.
“Thật ra, thưa ông Poirot, ông có mục đích gì…”
“Xin làm ơn làm theo yêu cầu của tôi, madamethưa bà!”
Phu nhân Westholme nhún vai rồi miễn cưỡng nói:
“Cô Pierce mặc váy áo bằng vải màu trắng sọc nâu, mang thắt lưng Sudan bằng da màu đỏ, xanh lơ và màu be. Cô mang vớ dài bằng lụa màu be và đi giày có quai màu nâu bóng. Chiếc vớ bên trái bị rách một đường, cổ cô ta đeo một chuỗi ngọc cáclinh và một chuỗi hạt xanh lam sẫm… Cổ áo cài ghim hoa có hình con bướm bằng ngọc trai. Cô ấy đeo chiếc nhẫn mô phỏng hình bọ hung trên ngón áp út của bàn tay phải, đầu đội mũ phớt rộng vành có hai chóp màu nâu và hồng.”
Bà ta tạm dừng - theo kiểu kín đáo tỏ quyền uy. Rồi bà lạnh lùng hỏi:
“Còn thêm gì nữa không?”
Poirot xòe cả hai tay ra chiêu bối rối.
“Tôi vô cùng ngưỡng mộ bà, thưa bà. Quan sát của bà đúng là siêu đẳng.”
“Hiếm khi tôi bỏ sót các chi tiết.”
Phu nhân Westholme đứng dậy, hơi nghiêng đầu rồi rời khỏi phòng. Khi cô Pierce đang theo sau bà ta, chằm chặp nhìn xuống chân trái của mình thật rầu rĩ, Poirot nói:
“Một chút xíu nữa thôi, xin vui lòng giúp cho, được không cô?”
“Gì thế ạ?” cô Pierce ngước nhìn lên, mặt lộ vẻ hơi sợ sệt.
Poirot nghiêng người tới trước một cách tin cậy:
“Cô thấy bó hoa dại trên bàn ở đây chứ?”
“Vâng,” cô Pierce đáp, mắt nhìn chăm chú.”
“Và cô có để ý khi mới vào phòng này tôi đã hắt hơi một hai lần chứ?”
“Sao ạ?”
“Cô có để ý trước đó tôi vừa mới ngửi những đóa hoa này hay không?”
“À - thật sự là - không - tôi không thể nói.”
“Nhưng cô nhớ tôi đã hắt hơi, đúng không?”
“Thưa vâng, tôi nhớ ra rồi.”
“A, được rồi - không có gì đâu. Tôi thắc mắc, không rõ những đóa hoa này có thể gây ra bệnh sốt cỏ khô hay không. Không có vấn đề gì đâu!”
“Bệnh sốt cỏ khô ư?” cô Pierce kêu lên. “Tôi còn nhớ một bà chị họ tôi đã phải đau khổ vì nó đấy. Chị ấy lúc nào cũng bảo nếu hằng ngày ông xịt vào mũi một dung dịch có chất boracic…”
Với đôi chút khó khăn Poirot bỏ xó cách điều trị bệnh mũi của bà chị họ ấy và tống khứ được cô Pierce đi. Ông đóng cửa lại rồi trở vào phòng, lông mày nhướn lên.
“Mình đâu có hắt hơi,” ông lẩm bẩm. “Thật quá đáng. Không, mình đã không hắt hơi.”