Khi Mizoguchi vén tấm mành bước vào cửa tiệm mỳ Nagase, xung quanh ông khói bốc nghi ngút. Chủ tiệm đang đứng sau quầy làm bằng gỗ mộc, mặc tạp dề trắng, tay mở vung. Mizoguchi tiến đến một chiếc bàn nhỏ ở trong cùng rồi ngồi xuống. Kính ông đã mờ hơi nước, nhưng vài phút sau, khi Honma tiến vào và đang tìm quanh quất, ông đã nhận ra ngay và vẫy vẫy anh.
“Vậy là anh vẫn tìm được đường đến đây cơ đấy?” Vị luật sư vừa nói vừa chỉ vào ghế đối diện.
“Tôi rất tiếc vì đã đến làm phiền khi bác chuẩn bị dùng bữa.”
“Cũng không sao mà. Trợ lý của tôi bảo anh có gọi tới.” Ông nhấc kính ra lau sạch rồi bổ sung, “Tôi nghĩ anh nên gọi mỳ tempura.”
Honma làm theo, khi cô bồi bàn mang ly nước lọc tới. Giờ cao điểm của bữa trưa đã qua, nhưng quán vẫn đông khách. Mặc dù vậy, nơi này không quá ồn đến độ không nói chuyện được. Trên thực tế, giữa tiếng nói cười vừa phải, bọn họ có thể thoải mái trò chuyện.
“Có tiến triển gì không?” Mizoguchi hỏi trong lúc đặt kính trở lại sống mũi. Lúc bỏ kính trông ông trẻ ra bao nhiêu.
“Tôi không biết có nên gọi ngần đó là ‘tiến triển’ hay không. Mọi việc càng lúc càng trở nên phức tạp.”
Đôi mắt Mizoguchi mở to hơn một chút sau mắt kính. “Vậy rốt cuộc anh cũng đã khám phá ra điều gì đó?”
Honma gật đầu. “Thực ra đây là một câu chuyện dài,” anh bắt đầu. Đã kể hết mọi chuyện cho Jun vào tối hôm trước nên bây giờ lời lẽ của anh trở nên gãy gọn hơn nhiều. Quả là “trăm hay không bằng tay quen”, anh nghĩ, đối với bất cứ việc gì cũng thế.
Đồ ăn được đưa tới. Mizoguchi cầm đũa lên, ra hiệu cho Honma cùng ăn.
Rồi ông chuyên chú lắng nghe, dáng điệu bình thản, không lúc nào giật mình hay ngạc nhiên. Kể cũng phải, nếu làm luật sư mà để lộ cảm xúc ra nét mặt thì khó lòng tiến xa được.
Honma kết thúc câu chuyện thì Mizoguchi cũng vừa ăn xong bát mỳ. Ông chỉ khẽ gật đầu. “Tôi hiểu,” ông nói. “Giờ đến phiên anh ăn, còn tôi nói.”
Honma liếc nhìn đồng hồ.
Mizoguchi lắc đầu. “Nếu anh lo lắng về giờ giấc của tôi thì tạm dẹp sang một bên đi. Tôi tự thu xếp được.” Ông lại gỡ kính ra, dùng khăn tay lau thêm lần nữa, trong khi nhẩm sắp xếp những ý nghĩ trong đầu. Rồi ông lên tiếng, hết sức điềm tĩnh. “Anh bảo với tôi rằng anh muốn khám phá về Shoko Sekine và cuộc đời cô ta. Ừm, tôi sẵn lòng chia sẻ với anh những điều tôi biết. Tôi nghĩ mình có thể làm rõ một vài điều anh đã hiểu sai.”
“Tôi hiểu sai ạ?”
“Đúng thế. Nếu tôi sai thì anh cứ việc chỉnh, nhưng tôi cho là anh sẽ nghĩ lại thôi. Shoko Sekine tự tuyên bố phá sản. Tệ hơn nữa, cô ta là gái quán bar, trong bao lâu thì chẳng ai biết. Như vậy cô ta không biết cách quản lý tiền bạc, và là một phụ nữ không quá chặt chẽ. Vân vân và vân vân. Đấy là những điểm nổi bật của cô ta, thế nên lần theo dấu vết của cô ta sẽ có ích trên phương diện nào đó. Liệu tôi có suy luận chệch hướng không?”
Honma giơ đôi đũa, ngụ ý “không phản bác” đối với tất cả những chi tiết ông già vừa chỉ ra. Những lời tóm gọn của Mizoguchi chính là những gì Isaka đã nói. Đa phần mọi người khi gặp từ “phá sản” có lẽ đều đi đến kết luận như thế cả.
Vị luật sư nở nụ cười, bày ra hàm răng đều tắp. Răng hơi nhỏ, nhưng đặc biệt chắc khỏe so với một người ở độ tuổi như ông. “Đấy chính là chỗ anh nhận thức sai. Sự thực là, trong thời đại hiện nay, chính những người thực thà, thận trọng, thậm chí là nhút nhát, mới bị đẩy đến bước đường phá sản. Nguyên nhân là bởi cách vận hành của nền công nghiệp tín dụng.”
Cho tay vào túi áo, ông lấy ra một cuốn sổ bìa da màu đen rồi đặt xuống trước mặt. “Anh sinh năm nào, Honma?”
“1950.”
“Vậy là anh bốn mươi hai tuổi. Hừm, tôi phải thừa nhận là anh trẻ hơn tuổi thực đấy.” Ông cười nói. “Nhưng như vậy có nghĩa là anh tầm mười tuổi khi mọi chuyện bắt đầu. Cửa hàng tạp hóa Marui đã khơi dậy trào lưu tín dụng vào năm 1960. Tất nhiên hiện nay những tấm thẻ đó của họ là dạng thẻ tín dụng bán lẻ nổi tiếng nhất, nhưng vào thời ấy mọi thứ khác hẳn. Những gì họ thực sự đóng góp chỉ là sử dụng từ ‘tín dụng’ trong tiếng Anh thay cho từ kappu (trả nhiều lần) vốn rất quen thuộc. Trên thực tế họ không đem đến nhiều dịch vụ mới mà chỉ giới thiệu một từ mới, họ thích dùng nó bởi sức hấp dẫn của ‘hàng ngoại’, đọc lên nghe có phong vị nước ngoài. Đừng quên năm 1960 là năm ký Hiệp ước Bảo an giữa Mỹ và Nhật. Cùng năm đó, thẻ Câu lạc bộ Người dự tiệc cũng được phát hành. Bấy giờ, quy trình tuyển lựa hội viên cực kỳ nghiêm ngặt, đến nay nó vẫn được coi là một trong những loại thẻ đáng tin cậy nhất trên khắp đất nước này.”
Và đã có tuổi đời đến ba mươi hai năm.
“1960 là năm đầu tiên của giai đoạn được mệnh danh là kỷ nguyên của nhịp độ phát triển thần kỳ, khi đất nước chúng ta bắt đầu hăng hái tiến lên để giành vị thế siêu cường về kinh tế. Một khi nền kinh tế khởi sắc, ngành kinh doanh tín dụng trở nên cần kíp.” Mizoguchi nói trôi chảy, như thể trước đây ông đã trình bày hàng bao nhiêu lần rồi. “Quả thật, nếu không có ngành tài chính bán lẻ, tôi cũng không biết nền kinh tế Nhật Bản hay điều kiện sống của chúng ta đến bao giờ mới thực sự cất cánh được. Kể từ bấy đến nay, ngành tài chính đó chưa hề sụt giảm. Chúng ta sẽ làm rõ hơn nhé. Vừa rồi tôi có sử dụng thuật ngữ ‘tài chính bán lẻ’. Nói chính xác hơn sẽ là ‘cho vay tiêu dùng’. Xét nghiêm ngặt thì nó sẽ được chia làm hai bộ phận. Trước tiên là ‘mua bán tín dụng’, về cơ bản chính là ngành kinh doanh thẻ tín dụng. Loại còn lại chính là ‘các khoản vay tiêu dùng’, những khoản vay trái ngược với tài khoản cố định hay tiết kiệm bưu điện như khoản vay có thế chấp, số tiền chi trội ở ngân hàng và những thứ tương tự. Thuật ngữ ‘các khoản vay tiêu dùng’ này bao gồm cả việc vay dựa trên thẻ tín dụng lẫn từ những tổ chức vẫn được gọi là công ty tài chính tiêu dùng, anh biết đấy, những nơi vốn được mệnh danh ‘cho vay nặng lãi’. Anh vẫn theo kịp tôi đấy chứ?”
Honma đã ăn xong và vẫn đang ghi chép.
“Với danh mục đầu tiên, ‘mua bán tín dụng’ chia nhỏ hơn thành các hệ thống ‘trả theo kỳ’ và ‘trả không theo kỳ’. Cách phân chia này đơn giản chỉ ra rằng chủ thẻ có được tùy chọn trả sau hạn vài tháng không. Thông thường, với các thẻ do ngân hàng cấp, anh không được phép trả quá hạn, nhưng với các thẻ phi ngân hàng, anh hoàn toàn có thể. Toàn bộ chỉ có thẻ mà thôi. Về sau có những hợp đồng thanh toán theo đợt dành cho một sản phẩm nào đó, thì anh thậm chí không cần phải dùng thẻ. Vì thế chúng ta mới có loại thẻ trả theo kỳ và thẻ trả không theo kỳ, với mỗi loại này, còn có thể tiếp tục phân chia thành ‘thẻ thanh toán trực tiếp’ và ‘thẻ điện tử dùng thanh toán online’.”
Mizoguchi cựa quậy trên ghế rồi ngả người tới trước như để nhấn mạnh, rồi kiểm tra lại một bảng câu hỏi mà ông lấy ra từ cuốn sổ của mình. “Theo dữ liệu tôi có được về năm 1990, nếu chúng ta xem xét loại thẻ mua bán tín dụng, trước hết là loại trả theo kỳ, tổng số tín dụng mở rộng lên đến 11,5 nghìn tỷ yên. Với loại trả không theo kỳ, con số là gần 12 nghìn tỷ. Đối với danh mục còn lại, các khoản vay tiêu dùng, số liệu trong cùng năm gấp ba lần chừng đó, tức là gần 34 nghìn tỷ yên. Nếu cộng cả hai danh mục vào với nhau thì tổng sẽ là...” Rõ ràng ông đã chuẩn bị trước và không cần nhẩm tính gì cả, nhưng ông vẫn ngừng lại để gây ấn tượng. “Ừm, trên 57 nghìn tỷ yên cho vay tiêu dùng vào năm 1990. Một ngành kinh doanh dựa trên quy mô của ngân sách nhà nước, đấy chính là bản chất của nó.”
“Một khoản tiền khổng lồ,” Honma nói.
“Cụ thể là 57 nghìn tỷ yên. Tương đương mười bốn phần trăm tổng sản phẩm quốc nội của nước Nhật cùng năm. Hoặc hai mươi phần trăm thu nhập khả dụng tính theo đầu người. Ở Mỹ các con số cũng ngang ngửa như vậy. Không còn nghi ngờ gì nữa, ngành tài chính tiêu dùng đã trở thành một trụ cột của nền kinh tế nước ta.”
Quan trọng hơn, ngành này chẳng bộc lộ dấu hiệu suy giảm nào cả. Nói đến đây Mizoguchi lại lật cuốn sổ của ông thêm lần nữa. “Sự tăng trưởng của tổng nguồn cho vay tiêu dùng không ngừng tạo ra bất ngờ. Năm 1980, tổng lượng tiền đạt gần 21,5 nghìn tỷ. Hãy coi chỉ số này tương đương một trăm. Chỉ năm năm sau, vào năm 1985, chỉ số này đã lên đến 165, với tổng số tiền là 34,75 nghìn tỷ. Năm 1990, chỉ số leo thang lên 272. Chỉ trong vòng mười năm, nó đã tăng gần gấp ba lần.” Ông dùng ngón tay vạch một đường lên mặt bàn. “Giả sử chúng ta vẽ một biểu đồ biểu thị mối quan hệ giữa khoản cho vay tiêu dùng với sự tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội. Thế thì, đường tổng sản phẩm quốc nội sẽ như thế này...” Một đường thẳng tạo góc ba mươi độ. “Còn đây là đường cho vay tiêu dùng...” Ông vẽ một đường tạo góc bốn mươi độ. “Trông giống như dốc trượt tuyết phải không? Độ dốc thậm chí có thể gấp ba lần thế này. Còn ngành nào khác có nhịp độ tăng trưởng tương đương không?”
“Có vẻ nó là một chiếc bong bóng khổng lồ.”
Mizoguchi suy nghĩ một hồi rồi chầm chậm lắc đầu. “Những gì mà người ta gọi là ‘bong bóng’, ví như bong bóng của nền kinh tế mới nổ bùng năm ngoái, là thứ hoàn toàn khác. Thị trường tiền tệ cho vay giờ đã xuất hiện một bóng ma không biết từng hiện hữu hay chưa. Không gì giúp xác thực được. Tuyệt đối không, kể từ khi con người bắt đầu dùng tiền. Rất ít giấy tờ hay đĩa nhớ ghi lại, tất cả chỉ ngần ấy. Tôi nói có sai không? Nhưng trên thực tế...” vị luật sư dường như chỉ vừa khởi động, “một hóa đơn mười nghìn yên đã mang chừng đó giá trị. Không giống như mấy đồng xèng sẽ lập tức vô dụng ngay khi chúng ta bước chân ra khỏi các khu vui chơi, tất cả các máy bán hàng tự động đều nhận đồng bạc một trăm yên. Lý do là bởi tất cả chúng ta đều chấp nhận như thế. Đến những đứa bé đang trong độ tuổi đến trường cũng biết được hệ thống tiền tệ là gì, vì sao nó chỉ là một bóng ma, về ‘giá trị ảo nhưng có thực’ của đồng tiền khi được coi là một hợp đồng xã hội. Nhờ có nó, chúng ta không phải kéo lê xác một con lợn qua hết mấy con đồi để đổi lấy áo quần, rau củ và gạo cho cả gia đình. Chúng ta hoàn toàn được giải thoát khỏi hoạt động này. Bởi vì xã hội của chúng ta được hình thành dựa trên thị trường tiền tệ, tôi có thể vừa kiếm sống vừa giúp đỡ mọi người xử lý những phiền toái của họ. Không hẳn là một giao dịch tồi, phải không nào?”
Honma gật đầu.
“Đúng. Vậy theo định nghĩa, thị trường tiền tệ là một cái bóng,” ông nhắc lại. “Nhưng đó là một cái bóng có tỷ lệ thiếu cân xứng so với hiện thực xã hội chúng ta. Tất nhiên, hiện thực xã hội luôn có những giới hạn, chỉ những gì mà xã hội chấp nhận. Mặt khác, nền tài chính tiêu dùng đã phun ra đến mất cân đối. Về bản chất nó không bao giờ phát triển đến mức đó, nhưng người ta đã ra sức thổi phồng lên. Cũng tương tự như vậy: Anh Honma, trông anh khá cao ráo, nhưng có lẽ không quá một mét tám, đúng không? Giả dụ cái bóng của anh dài đến mười tám mét, điều này quá là phi lý, phải không nào?” Câu này rành rành là câu hỏi tu từ, cách nói lão luyện của một luật sư đang tranh biện.
“Tôi chỉ nói vui vậy thôi, giờ hãy nhìn vào số thẻ được phát hành. Theo dữ liệu của năm tài chính kết thúc vào tháng Ba năm 1983, đã có 57,5 triệu thẻ. Đến năm 1985, gần 87 triệu thẻ. Năm 1990, con số đã vượt quá 166 triệu thẻ. Tỷ lệ tăng trưởng đạt 16,5%. Năm nào cũng thế, con số thẻ được phát hành đồng nghĩa với việc nó chui vào ví của chừng đó người.”
Liệu Chizuko có từng sổ hữu một chiếc thẻ ghi nợ không nhỉ, Honma thầm tự hỏi. Ít nhất là không phải chính tên cô ấy.
“Tôi tình cờ nói về thẻ tín dụng như thể tất cả chúng đều giống nhau, kỳ thực có thể chia chúng thành nhiều nhóm. Có ba loại chính. Thứ nhất là loại thẻ do ngân hàng phát hành: thẻ của UC Group, DC Group, JCB Group, VISA Nhật Bản... mười loại cả thảy nếu kể hết. Những ngân hàng này chia nhau thị phần lớn nhất và có lượng thẻ cũng như tần suất sử dụng thẻ cao nhất.” Mizoguchi xem lại sổ ghi chép. “Ở đây chúng ta thấy được từ năm 1983 đến năm 1990, tốc độ tăng trưởng đã tăng lên 20,2%. Tiếp đến là loại thẻ không phải do ngân hàng phát hành, chẳng hạn như thẻ của Nihon Shimpan, Oriental Finance, Greater Mercantile... khoảng tám công ty, tất nhiên chỉ tính những công ty lớn. Tốc độ tăng trưởng của chúng là 16,1%, cũng là một con số khổng lồ. Loại tiếp theo vẫn thường được gọi là thẻ liên kết bán lẻ. Tất nhiên thẻ của Marui được liệt vào loại này, nhưng ngày nay tất cả các thương xá, thậm chí các siêu thị lớn đều phát hành thẻ của họ, phải không nào? Mỗi tấm thẻ chỉ được chấp nhận ở một hay một số chuỗi cửa hàng nhất định, điều này khá bất tiện, nhưng bù lại có các đợt giảm giá đặc biệt dành cho hóa đơn mua hàng hay miễn phí phát hành thẻ. Thêm nữa, các cửa hàng thường không quá nghiêm ngặt về hình thức thẻ, thậm chí họ có thể phát hành thẻ ngay tại quầy thu ngân, như vậy cả hai bên đều được hưởng lợi. Đó cũng là lý do khiến ngày nay, ngay cả những cửa hàng nhỏ ở nhà ga cũng phát hành thẻ của riêng họ. Tốc độ tăng trưởng của các thẻ nhóm này gần đây đạt 19,2%. Thực sự cao ngất ngưởng. Hình thức này phát triển đến độ ta không thể bước trên phố mà không chạm mặt vài ba chiến dịch phát hành thẻ hay những chương trình tương tự. Nói cho tôi hay, anh có xài loại thẻ tín dụng nào không?”
“Tôi, ừm...” Câu hỏi xuất hiện đột ngột khiến Honma ấp úng tìm câu trả lời. “Có một chiếc. Thẻ của Union Credit, tôi nghĩ thế.”
“Dùng nó rất tiện lợi, anh thấy đúng không? Nhất là những người như anh, có thể bị triệu tập bất cứ lúc nào, chẳng biết được bao giờ mình sẽ phải lên đường, kể cả giữa đêm khuya. Riêng phần tôi, tôi có hai đứa con gái. Đứa út có lần bị giật ví. Cảnh sát không tóm được tay cướp giật. Kể từ đó, nó rất sợ mang tiền bên mình và gần như chỉ dùng thẻ tín dụng. Khi dùng thẻ, rủi mà có bị trộm, ít nhất ta cũng hạn chế được phần mất mát ở mức tối tiểu.”
“Ví như khi đi du lịch.”
“Đúng vậy! Quan trọng hơn, nó đóng vai trò như một dạng giấy tờ tùy thân. Đây thực sự là một điểm mạnh. Do tôi chuyên tư vấn các vụ phá sản và luôn giúp đỡ các nạn nhân, có thể anh sẽ nghĩ tôi coi thẻ tín dụng là gốc rễ của tội ác và muốn cho chúng biến mất. Tuy nhiên điều này không đúng hoàn toàn.”
“Không, tôi không nghĩ thế.”
Mizoguchi tiếp tục. “Vậy đấy. Nói về nền tài chính tiêu dùng, một cái bóng dài mười tám mét của một chủ thể chỉ cao chừng một mét tám. Lý do chính của tình trạng này là do sẽ bành trướng vô tổ chức của thẻ tín dụng, với lãi suất cắt cổ cùng các khoản phí môi giới. Giờ ta sẽ bàn đến phần trọng tâm của vấn đề.” Ngừng một lúc để lựa chọn dẫn chứng, ông nói tiếp, “Khoảng một năm trước, tôi nhận một vụ tuyên bố cá nhân phá sản. Một nhân viên văn phòng, hai mươi tám tuổi. Cậu ta sở hữu ba mươi ba chiếc thẻ tín dụng cả thảy. Tổng số tiền nợ lên đến hơn ba mươi triệu yên, cậu ta lại chẳng có tài sản gì để thế chấp. Anh có thể nói gì về trường hợp này?”
Ba mươi triệu yên! Con số mà một nhân viên công vụ quèn như anh chẳng bao giờ dám mơ tới, kể cả khoản trợ cấp thôi việc.
“Đấy, anh nghĩ làm sao một người mỗi tháng chỉ kiếm được chừng hai trăm nghìn lại tìm được cách vay tận ba mươi triệu yên? Ai dám cho cậu ta mượn ngần ấy tiền? Vì sao họ lại làm như vậy? Đây chính là cái mà tôi gọi là tín dụng bành trướng quá mức.”
Ông đưa tay cầm cốc nước lọc nhưng thấy cốc rỗng nên lại đặt xuống.
“Những trường hợp lún sâu vào nợ nần điển hình đều như thế cả. Đầu tiên cậu ta đăng ký một chiếc thẻ tín dụng. Cảm thấy nó rất tiện lợi khi đi mua sắm hay du lịch. Chiếc thẻ ấy gọn gàng, đơn giản mà lại được việc. Thế rồi chẳng bao lâu sau, không nghĩ ngợi gì nhiều, cậu ta đăng ký làm thêm vài chiếc thẻ nữa. Nếu là một nhân viên tàng tàng ở một công ty, cậu ta sẽ chẳng gặp phiền toái gì trong quá trình phát hành thẻ. Các thương xá, các ngân hàng và siêu thị đều khuyến khích cậu ta mở thẻ: ‘Sở hữu một chiếc thẻ, anh sẽ được tham gia nhiều chương trình giảm giá và ưu đãi dành cho thành viên,’ bọn họ nói thế. ‘Những đơn hàng đặc biệt.’ Vậy là cậu ta lại nhận thêm một vài chiếc thẻ khác.
Chẳng mấy chốc, cậu ta dùng thẻ, không chỉ để mua sắm mà còn để rút tiền, tất nhiên là lại vì chúng quá tiện lợi. Lúc này cậu ta không nhận thức được mình đã chuyển từ việc dùng thẻ tín dụng sang vay tiền từ chiếc thẻ đó. Điều này diễn ra trước khi cậu ta kịp nhận thức. Với thẻ do ngân hàng phát hành, các máy rút tiền tự động sẽ khấu trừ trực tiếp vào tài khoản ký thác của chủ thẻ. Nhưng với các loại thẻ không do ngân hàng phát hành, hoặc các thẻ liên kết bán lẻ, cậu ta sẽ tìm thấy trong hoặc quanh cửa hàng một chiếc máy hình thức gần giống bốt ATM được trang trí bắt mắt. Cậu ta chỉ cần đút thẻ vào, nhập mã PIN, và dễ dàng rút tiền ra khỏi tài khoản của cậu ta ở ngân hàng. Một cách vô cùng đơn giản để gia tăng các khoản nợ.”
Cô gái phục vụ đến dọn đĩa, rót thêm nước cho họ. Mizoguchi cảm ơn cô ta bằng cách vẫy tay ra hiệu.
“Đấy là trường hợp mà anh có thể gọi là một hình mẫu điển hình. Anh sẽ không tin được có bao nhiêu khách hàng bảo với tôi rằng họ bắt đầu vay nợ do nhầm lẫn.”
“Nhầm lẫn ạ?”
“Đúng vậy. Khách hàng của tôi chỉ muốn rút tiền khỏi tài khoản ngân hàng, nhưng không hiểu sao lại đút thẻ tín dụng của mình vào máy thay vì dùng thẻ thông thường. Bởi vì cậu ta chọn chung mã PIN cho tất cả các loại thẻ, tiền cứ thế tuôn ra. Cậu ta có thể cảm thấy hơi bất thường khi giao dịch xong mà máy không thông báo số dư, chỉ báo tổng số tiền rút, hoặc đơn giản cậu ta không để ý. Thường thì mãi đến cuối tháng, khi hóa đơn tín dụng được gửi đến, cậu ta mới nhận ra sai lầm của mình.”
“Chắc hẳn là đáng giật mình. Nhất là khi phải gánh thêm khoản tiền lãi trên số tiền đã rút.”
“Cũng có thể. Nhưng nó cũng làm cậu ta nảy sinh suy nghĩ, ‘Ô kìa, vay tiền đơn giản thật đấy!’. Lúc này, cậu ta không cho rằng lãi suất đặc biệt cao, chỉ khoảng ba nghìn yên cho mỗi một trăm nghìn tiền vay. Vậy là thỉnh thoảng cậu ta lại rút một ít.” Mizoguchi uống một mạch hết nửa cốc nước rồi tiếp tục. “Rồi cậu ta dùng thẻ một cách thường xuyên hơn, để mua sắm, để rút tiền hay chỉ vì tiện lợi. Cậu ta không rút liền một khoản tiền to, chỉ dần dà từng ít một, vì vậy cậu ta không cảm thấy nguy cơ của việc đang làm. Dẫu vậy, tiền vay vẫn là tiền vay. Khi đến hạn, cậu ta vẫn phải trả. Hãy tưởng tượng một doanh nhân trẻ mới khởi nghiệp. Giả sử khoản tiền lương còn lại của cậu ta sau khi khấu trừ các khoản là một trăm năm mươi nghìn yên. Mỗi tháng cậu ta có thể xoay xở trả được khoảng hai mươi đến ba mươi nghìn yên cho các khoản mua sắm bằng thẻ. Mức bốn mươi hay năm mươi nghìn yên là quá chật vật. Dù vậy, nếu không cẩn thận, chẳng mấy chốc cậu ta sẽ rơi vào ngưỡng ấy. Đấy là thời điểm cậu ta bắt đầu vay tiền bằng thẻ. Để trả các khoản nợ cho đơn vị A, cậu ta rút tiền từ thẻ B. Khi đã khởi động, quả bóng tuyết bất đầu lăn, đến một thời điểm cậu ta không thể vay được tiền bằng thẻ. Lúc đó anh nghĩ cậu ta sẽ làm gì?”
“Đi vay nóng?”
“Chính xác,” vị luật sư gật đầu. “Và với khoản vay nóng, cậu ta vẫn lặp lại chu trình trên. Trước đó khá lâu, cậu ta đã vay đơn vị B để thanh toán tiền cho đơn vị A. Tiếp tục như thế với các đơn vị C, D, E... Có những công ty tài chính tiêu dùng còn vô đạo đức đến độ giới thiệu cho cậu ta những chỗ cho vay khác, tất nhiên đó chỉ là những công ty kém uy tín, với nguồn vốn ít hơn, đặc biệt quy trình phát hành thẻ vô cùng đơn giản. Họ cần bất cứ loại giao dịch nào, bởi vậy họ không đặt mức vay trần. Chính điều này khiến cho lãi suất cao ngất ngưỡng. Đấy cũng là cách thức hoạt động của toàn bộ hệ thống. Đối với khách hàng, ý nghĩ choán hết tâm trí họ là khi nào đến hạn trả tiền. Nếu còn khoản nào phải trả, họ sẽ giật gấu vá vai, cứ như thế họ càng lúc càng sa vào vòng tròn tội lỗi.”
“Ý bác là bọn họ đều là những người lương thiện, chăm chỉ làm việc?”
Mizoguchi gật đầu quả quyết. “Đúng, chính xác hoàn toàn. Toàn những người e dè, không bao giờ nghĩ đến việc ra khỏi nhà vào lúc đêm khuya. Bằng cách này hoặc cách khác, họ lại vướng vào nợ nần. Đấy là điều duy nhất họ nhận ra. Chính vì thế họ càng lúc càng lún sâu. Họ lao vào guồng làm việc như lao dịch và khiến mình kiệt sức. Hoặc tệ hơn.”
“Và Shoko Sekine?”
“... chính là một ca điển hình.”
Ông giải thích thêm, lúc đầu, ngoài công việc chính ban ngày, cô ta nhận thêm việc làm bán thời gian vào buổi tối, nhưng diễn tiến chỉ có từ tệ đến tệ hơn, cuối cùng cô ta không còn nơi nào khác để đến ngoài một chỗ tồi tệ nhất những công ty mua lại từng phần. “Honma này, tôi dám chắc trong ngành của anh, anh đã từng nghe kể về những trường hợp đặc biệt này rồi. Anh có một thẻ ghi nợ, và anh mua mọi món hàng mà một bên thứ ba yêu cầu. Đổi lại, họ sẽ trả ngay cho anh một món tiền, thường không vượt quá bảy mươi phần trăm giá trị món hàng. Nhưng anh phải nhận hóa đơn toàn giá trị món hàng đó. Đó là một quá trình đổi chác mà anh phải chịu thua thiệt. Thường thấy nhất là vé đi tàu cao tốc. Bọn họ mua được nhờ các ‘chân rết’ tín dụng và bán lại với giá khuyến mãi cực rẻ. Bản thân tôi cũng đã có lần mua loại vé đó để đi công tác. Vé hoàn toàn hợp lệ. Và rẻ đến giật mình.” Đôi môi vị luật sư cong lên nụ cười châm biếm. “Trò chơi được thiết kế theo dạng một khi anh đã tham gia thì khó lòng dứt ra được. Càng thực thà, càng nghiêm túc thì anh càng bị lún sâu. Anh cố giãy hết sức nhưng rốt cuộc chẳng nhúc nhích được phân nào. Cuối cùng, anh tìm mỗi cách có thể để đào thoát - thường là việc gì đó trái pháp luật. Theo lối suy nghĩ thông thường, việc một công ty đem mười hay hai mươi triệu yên cho một người mới bước qua tuổi vị thành niên vay là quá sức điên rồ. Nhưng chuyện đó đã xảy ra. Những công ty kiểu này vung tiền cho vay khắp nơi, miễn sao bọn họ không phải là người cuối cùng nắm giữ món cho vay, trong khi thu hết toàn bộ số lãi. Dù sao thì người đi vay, chứ không phải ngân hàng hay các chủ nợ, là người thua cuộc. Giống như một hình kim tự tháp lộn ngược, kẻ vay nợ ở chóp đáy, gánh trên vai tất cả các chủ nợ. Chỉ cần trượt chân, anh sẽ sa lầy. Những món nợ nặng gánh cứ chất chồng lên anh, cho đến khi anh bị đè bẹp dí. Ngày trước mọi việc khác hẳn, lựa chọn duy nhất của anh là đến một tiệm cầm đồ nào trông tử tế một chút, hơn nữa, anh không phải muốn vay bao nhiêu thì vay. Không ai muốn cho vay mà không có thể chấp, nhất là với những người bình dân. Tuy nhiên, tôi không thể nói là tôi thích điều này. Với điều kiện như ngày nay, chúng ta có cuộc sống tốt hơn.”
Tiệm mỳ bắt đầu vãn dần. Thêm một làn khói trắng mờ tỏa ra từ khu bếp.
“Dầu gì thì chúng ta làm sao có thể trở lại thời kỳ trước cho vay tiêu dùng được nữa? Ý tôi là chúng ta đang nói về khoản tiền 57 nghìn tỷ mỗi năm. Anh làm sao kéo ngược sự việc được? Đấy là chuyện bất khả. Tất cả những gì tôi muốn nói là không cần thiết phải đây vài chục trong số hàng ngàn người vào đường cùng mỗi năm. Khiến cho họ phải tự sát hoặc rơi vào những thảm kịch tương tự, hoặc buộc họ phải bỏ nhà ra đi, hoặc phạm phải tội ác.”
“Tức là chúng ta nên thay đổi cấu trúc của hệ thống này?”
“Đúng vậy. Và kiểm soát ngặt nghèo mức lãi suất cắt cổ. Bọn cho vay nặng lãi có máu mặt thường đưa ra mức dao động từ hai mươi lăm đến ba mươi lăm phần trăm. Bọn họ tìm cách lách giữa Đạo luật Kiểm soát Lãi suất và Quy chế tài chính sửa đổi. Đó là vùng điểm mù mà những người có chức trách thường tặc lưỡi cho rằng, ‘Ừm, đúng là có những việc không ổn, nhưng cần gì phải vội vàng bới lông tìm vết.’ Trong khi đó, đối với các cá nhân vay nợ đây thực sự là một thảm họa kinh hoàng. Hãy nhìn theo sơ đồ này...”
Mizoguchi vạch một đường nữa trên bàn: Bắt đầu với đường tạo góc hai mươi độ, nó mở rộng dần thành đường bốn mươi lăm độ. “Rút tiền mặt từ thẻ tín dụng, chật vật xoay xở các khoản thanh toán, đến gõ cửa những kẻ cho vay nặng lãi. Theo con đường này, hai triệu yên tiền vay với mức lãi suất ba mươi phần trăm một năm tăm lên thành mười sáu triệu yên trong vòng hơn bảy năm. Chính là đường cong này,” ông vừa nói vừa rê ngón tay theo đường cong. “Tôi có một thân chủ, ở vào quãng ngoài ba mươi, mang món nợ mười hai triệu yên, trong đó hết chín triệu là tiền lãi. Món nợ càng lúc càng phình ra, ngoài tầm kiểm soát. Lần đầu tiên vay tiền bằng thẻ, cậu ta không mảy may nhận thức toàn bộ quá trình này đáng sợ như thế nào. Một chiếc máy rút tiền tự động không có phận sự giải thích về cách tính lãi.” Miệng ông mím lại thành một nụ cười. “Đúng như vậy đấy, điều này liên quan đến vấn đề thứ ba mà tôi nghĩ chúng ta hết sức cần - sự giáo dục kỹ lưỡng. Sự phổ biến thông tin ngày càng rộng rãi. Anh còn nhớ lúc tôi đề cập chuyện mọi người bắt đầu vay tiền bằng thẻ, thường thì họ cảm thấy mức lãi suất không quá cao?”
“Vâng, tôi nhớ.”
“Đúng vậy. Ban đầu cậu ta hầu như chẳng hề để tâm. Nhưng tôi nói cho anh hay, lãi suất cũng giống như lớp phấn trang điểm phụ nữ. Càng ngày càng dày lên. Riêng cụm từ ‘cho vay tiêu dùng’ nghe rất êm tai. Đi vay nặng lãi, ai cũng biết việc này không hay ho gì, nhất là những người trẻ tuổi. Việc vay mượn tiền nhờ thẻ tín dụng bản thân nó không hề sai. Chỉ có điều mức lãi suất vay dao động từ hai mươi lăm tới ba mươi lăm phần trăm giá gốc hàng năm là gần bằng mức lãi của những kẻ cho vay nặng lãi sừng sỏ. Có lẽ bởi cách nhận tiền quá đơn giản nên dễ tạo ấn tượng rằng vay tiền bằng thẻ tín dụng là việc làm an toàn. Đây là điểm sai lầm đầu tiên.”
Cốc của Mizoguchi lại hết sạch nước.
“Các thanh niên vốn rất dễ bị tổn thương. Ấy vậy mà các công ty tài chính tiêu dùng ngày nay đặc biệt thúc đẩy công cuộc mở rộng thị trường nhầm vào người trẻ tuổi. Họ mồm năm miệng mười để lôi kéo khách hàng mới. Vì vậy chúng ta cần phải tỉnh táo, bởi lúc nào cũng có sẵn một chiếc hố chờ ta sụp xuống. Năm nay chính xác là năm thứ hai mươi kể từ khi các ngân hàng lớn lần đầu phát hành thẻ tín dụng cho giới học sinh sinh viên. Nhưng trong suốt những năm qua, đã có trường phổ thông hay trường đại học nào dạy bọn trẻ cách dùng thẻ sao cho phù hợp chưa? Chúng ta có thể ngay lập tức bắt tay vào làm việc này. Ở các trường cấp ba công lập thuộc Tokyo, tôi được biết trước khi tốt nghiệp các nữ sinh được học cách sử dụng mỹ phẩm. Vậy đấy, nếu họ có thời gian và công sức cho việc này, thiết nghĩ họ thừa sức dạy học trò những kỹ năng cơ bản để xoay xở khi gặp vấn đề với tiền bạc chứ!” Ông đấm nhẹ trên mặt bàn. “Tôi không phải người hay chỉ trích, nhưng việc này thực sự khiến tôi tức điên lên. Toàn bộ vấn đề nằm ổ những kẽ hờ của bộ máy quan liêu. Đáng lẽ phải có một cơ quan chuyên trách theo dõi toàn bộ ngành kinh doanh tín dụng tiêu dùng.”
“Trước nay không có ạ?”
“Các khoản mua bán tín dụng thuộc quyền quản lý của Bộ Thương mại và Công nghiệp. Các khoản vay tiêu dùng lại do Bộ Tài chính quản lý. Các cơ quan chức năng điều khiển ngành kinh doanh này bị phân chia manh mún, nhất là họ không có sự liên kết với nhau. Trong khi đó có những ngân hàng cùng lúc kinh doanh tín dụng lẫn cho vay tiền mặt. Thậm chí có lúc họ dùng chung một thẻ.” Mizoguchi hơi gập người trên ghế Honma nhận thấy chủ tiệm liếc về phía họ, khẽ cười. Có lẽ trước đây ông ta đã từng nhìn thấy cảnh tượng này không dưới một lần.
“Anh nói anh muốn biết Shoko Sekine thuộc tuýp người nào. Vậy thì hãy cân nhắc những lời tôi vừa nói, coi như một nguồn tham khảo.”
“Về việc ngành kinh doanh tạo cơ hội cho cô ta làm hết thảy mọi thứ?”
“Đúng thế. Chắc chắn anh sẽ phải nghĩ thêm. Tôi hiểu trong thế giới tín dụng tiêu dùng, có đủ thể loại phiền toái: những vấn đề về hệ thống, vấn đề lãi suất, thiếu năng lực quản lý, thiếu hiểu biết... Tất cả đều đúng, nhưng khi nói đến việc vay mượn ngoài khả năng chi trả, đó là vấn đề của một cá nhân. Có thể nhân cách họ không đúng đắn, hoặc đơn giản họ bị nhầm lẫn về cách vận hành của mọi thứ liên quan đến thẻ tín dụng. Cũng cần nói rõ: Không phải mọi người trên đất Nhật đều gặp nợ nần chồng chất. Những người hiểu khá rõ về tín dụng đều biết cách tiêu dùng an toàn. Điều cốt yếu là các khoản nợ chồng chất phản ánh sự thất bại hoặc thiếu sót của cá nhân. Tôi nói có sai chỗ nào không?”
Quá hay! Honma liếc nhìn chàng trai ở quầy thu tiền, lúc này đang toét cười và nhìn họ một cách công khai.
“Tôi nói trúng vấn đề chưa?”
“Hoàn toàn trúng trọng tâm.”
Mizoguchi ho khẽ rồi ngừng lại một chút trước khi hỏi tiếp, “Anh có lái xe không, Honma?”
“Dạ?”
“Xe hơi. Anh có bằng lái xe không?”
“Có bác ạ. Chỉ hiềm tôi không lái xe.”
“Có phải vì công việc của anh quá bận rộn? Không có thời gian dành cho xe?”
“Dạ không, là vì...” Anh phải giải thích đôi lời. “Thực ra, ba năm trước, vợ tôi bị tai nạn. Hôm đó trời mưa, một chiếc xe tải từ làn đường đối diện đâm vào cô ấy.”
Đôi mắt Mizoguchi trợn tròn trong giây lát. “Và cô ấy...”
“Gần như chết ngay tức khắc. Kể từ đó tôi không lái xe nữa. Thậm chí còn không giữ xe, nó gợi lại cho tôi những ký ức tồi tệ. Mặc dù vậy tôi vẫn giữ bằng lái.”
Yên lặng một hồi, vị luật sư ngồi thẳng dậy rồi cúi đầu, nhanh và khẽ khàng như một con rối. “Tôi rất tiếc... Tôi không biết.”
“Vâng, không sao đâu. Bác đừng lo.” Một người rất biết cách ứng xử, Honma nghĩ. “Dù sao đi nữa thì việc lái xe có liên quan gì ạ?”
“Câu hỏi của tôi thật vô ý quá.” Vị luật sư vươn thẳng người, nghĩ ngợi, rồi tiếp tục chủ đề cũ. “Tuy nhiên từ những lời anh kể với tôi, tôi chắc anh sẽ hiểu.”
“Bác nói cụ thể hơn đi ạ!”
“Vợ anh lái xe rất cẩn thận, phải không?”
“Vâng, cô ấy thường chở con trai chúng cháu. Nếu có điều gì phải phàn nàn thì đấy là cô ấy quá cẩn thận.”
“Còn người lái xe tải thì sao?”
“Hắn ngủ gục trên tay lái. Theo lời hắn thì do làm việc quá sức. Công ty thiếu người, hắn không chợp mắt được chút nào trong suốt hai ngày liền. Hắn đã lái liên tục trên một hành trình rất dài, xuyên suốt Nhật Bản. Từ Nam ra Bắc, rồi lái ngược trở vào Nam. Nghe thế, tôi chẳng còn tâm trạng nào mà đòi bắt hắn gánh trách nhiệm nữa.”
Vị luật sư gật đầu thấu hiểu. “Giữa hai làn đường có gờ phân chia không? Con đường đó rộng không? Khi chiếc xe tải lao vào xe vợ anh, có chỗ cho cô ấy đánh tay lái sang chỗ khác không?”
Trả lời tất cả những câu hỏi của vị luật sư, Honma chỉ lắc đầu.
“Vậy ai mới là người có lỗi?” Mizoguchi hỏi. “Cứ coi như lỗi thuộc về tay tài xế xe tải dám ngủ gục trong lúc điều khiển xe. Nhưng chắc chắn một phần lỗi thuộc về chủ công ty đã bắt hắn ta làm việc trong điều kiện như vậy. Và cả cơ quan chức năng bởi họ chẳng buồn làm gờ an toàn trên các con đường quốc lộ vốn dành cho cả xe con lẫn xe tải. Cộng thêm lý do các con đường nhỏ hẹp, điều này đồng nghĩa với những người quy hoạch đường sá cũng gánh một phần trách nhiệm. Chừng đó là chưa đủ, bởi giá đất bị đẩy lên cao ngất ngưỡng.” Ông ngước nhìn lên. “Còn có hàng loạt các nhân tố tương tự gây nên vụ tai nạn. Có nhiều thứ có thể tránh để phòng ngừa nó. Thế nhưng tôi đoán chúng đều bị gạt sang một bên để đi đến kết luận, ‘Rốt cuộc lỗi thuộc về hai người lái xe. Đây là lỗi của cá nhân.’ Như vậy có công bằng không?”
Honma không muốn trả lời, anh cũng biết mình chẳng cần phải trả lời.
Mizoguchi gật đầu rồi nói tiếp. “Chúng ta dễ dàng gom những người gánh nợ chồng chất lại rồi kết luận họ đã phạm lỗi. Nhưng như thế chẳng khác gì cho rằng tất cả những người lái xe bị vướng vào tai nạn xe cộ đều là những tài xế tồi. Đó là lý do khiến họ phá hỏng xe. Đáng lẽ không nên cấp bằng lái cho họ. Thậm chí chẳng buồn xem xét hoàn cảnh trước và sau vụ tai nạn. Và bằng chứng được đưa ra là: có những người không bao giờ gặp tai nạn xe cộ.”
Honma nhớ lại tay tài xế xe tải, nhớ lại quãng thời gian hắn đến nhà anh, cùng với một cảnh sát bên Cục Giao thông. Anh chỉ nhớ mang máng ngoại hình, nhưng chẳng thể nào hình dung lại được gương mặt hắn. Gã tài xế cũng không dám nhìn trực diện Honma. Đôi tay hắn run rẩy khi thắp hương trước di ảnh của Chizuko, khiến muội tro vương ra một ít. Sau đó, khi lau dọn chỗ tro, Honma có cảm giác vị trí gã tài xế vừa quỳ nóng ấm khác thường. Anh bắt đầu bừng bừng lửa giận. Biết được lỗi không phải chỉ do gã ta gây nên cũng chẳng ích gì, mà chỉ càng khiến cơn giận thêm phần tệ hại.
Honma mất vài giây ngây người nhìn vị luật sư già, trước khi giọng nói của chính anh đưa anh trở lại thực tại. “Tôi biết bác ám chỉ điều gì, bác Mizoguchi.”
Mizoguchi tiếp tục nói, ban đầu chỉ chậm rãi, “Với các tai nạn giao thông, anh có thể dễ dàng quy kết trách nhiệm của người tài xế. Nhưng với những thứ vốn được mệnh danh là tiêu chuẩn an toàn của xe ô tô thì sao? Hoặc các hãng chế tạo xe, vốn ưu tiên đặc điểm tiết kiệm nhiên liệu hơn yếu tố an toàn? Đúng thế, một phần lỗi tất nhiên do người lái, nhưng nếu chỉ đơn giản nói rằng những ai từng đâm xe đều là tài xế tệ hại thì quá sức buồn cười. Cũng tương tự như vậy với việc vay mượn và các khoản nợ cộng dồn.”
Rồi giọng ông dồn dập hơn. “Các điều luật hiện hành về vấn đề phá sản cần được sửa đổi ở nhiều điểm, như nhiều bài báo dùng phép ngoa dụ để cảnh báo chúng ta: ‘Giết người thông qua tuyên bố cá nhân phá sản.’ Anh có biết các thủ tục tuyên bố phá sản không?”
“Tôi chỉ biết đại khái thôi.”
“Thực ra các bước tiến hành khá đơn giản,” vị luật sư giải thích. “Trước tiên anh sẽ tuyên bố phá sản với bất cứ tòa án địa phương nào có thẩm quyền. Anh điền vào một mẫu đơn có sẵn, kèm theo bản sao sổ hộ khẩu và giấy tạm trú, bản ghi chép tài sản, danh sách các chủ nợ cùng bản viết tay mô tả chi tiết hoàn cảnh khiến anh lâm vào nợ nần. Sau đó, anh sẽ nhận được một giấy triệu tập và trình diện trước tòa, thẩm phán sẽ kiểm tra đối chiếu trực diện. Bước này được gọi là ‘đối chất xác tín’. Cuộc điều tra của tòa cùng việc đối chất không mất nhiều thời gian. Đối với các cá nhân, quy trình tuyên bố phá sản hoàn tất chỉ một hoặc hai tháng sau khi đệ đơn. Trong trường hợp người đó có nhà hoặc các tài sản hữu hình, người thừa hành do tòa chỉ định sẽ thẩm tra các chủ nợ, thanh lý tài sản và phân chia một cách công bằng. Suốt thời gian này, người tuyên bố phá sản không được chuyển nơi ở hoặc đi du lịch mà không được tòa án cho phép.
Trong nhiều trường hợp, các loại thư từ được chuyến tiếp thẳng đến người thừa hành. Tuy nhiên, nếu người tuyên bố phá sản chưa tới hai mươi tuổi, quy trình này hoàn toàn khác. Xét cho cùng, một người trẻ tuổi như vậy thì sở hữu được món gì quý giá đáng để thanh lý cơ chứ? Quần áo, vài món đồ nội thất, thiết bị âm thanh... Các món đồ nhỏ lẻ thường được giữ lại. Đương nhiên, nếu số tài sản không đáng là bao thì chẳng có lý do gì để kéo dài thủ tục tuyên bố phá sản cả. Vậy là một ‘lệnh hủy’ được thông qua, theo đó tình trạng phá sản tạm ngưng khi lệnh được ký. Hoạt động này chấm dứt tình trạng phá sản nên lệnh hạn chế đương sự di chuyển tự do được dỡ bỏ. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn chưa đạt đến điểm cuối của các món nợ. Trong vòng một tháng sau khi lệnh hủy được ban ra, anh phải nộp đơn xin ‘miễn nợ’. Chỉ sau khi đơn này được thông qua, anh mới thoát khỏi trách nhiệm chi trả. Quá trình này có thể mất đến sáu hoặc bảy tháng. Nhìn chung, các vụ phá sản của cá nhân đều được miễn nợ cả. Tuy nhiên phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Trước tiên, người tuyên bố phá sản không có tiền sử phá sản hay miễn nợ trong vòng mười năm. Nói cách khác, luật đã quyết định thời gian tối đa của một vụ phá sản của một người là một thập kỷ. Tuy vậy nếu phát hiện có hành vi lừa dối, lệnh miễn trừ sẽ bị hủy bỏ. Không được giấu giếm bất kỳ tài sản nào, hoặc nói dối các chủ nợ để được vay càng nhiều càng tốt trong khi nộp đơn lên tòa. Mặt khác, không quan trọng anh tiêu tiền như thế nào, hoặc trong thời gian bao lâu - ngoại trừ các vụ vay nóng đột ngột bị phát hiện là có mục đích tuyên bố phá sản. Người bị phá sản chẳng qua chỉ muốn ‘bước sang một trang mới của cuộc đời’. Mục tiêu hướng đến là để cứu giúp những người mang nợ, mặc dù quá trình này gần đây bị chỉ trích là một biện pháp quá tiện lợi để rũ sạch mọi trách nhiệm.” Mizoguchi thở dài, bất chợt trông già nua hơn. “Thực sự nó đã đặt ra những câu hỏi về đạo đức. Mặc dù tôi vẫn thường nghĩ rằng chúng ta tốt hơn nên loại bỏ hẳn hệ thống buộc con người ta lao động cật lực để trả nợ. Có lẽ không phải mức lãi suất vô nhân đạo mà chỉ là phần vốn. Dần dần họ chỉ trả được từng phần.”
Rồi ông bật cười. “Nhưng anh biết không, đa phần mọi người không tìm kiếm sự giúp đỡ cho đến khi buộc phải đối mặt với tình thế khốn cùng. Chính vì thế mà tôi chẳng có nhiều thời gian để tư vấn cho họ về biện pháp phòng ngừa hay cách giải quyết. Thứ đầu tiên cần phải cứu giữ chính là mạng sống của chính họ.”
Honma gật đầu. “Tôi hiểu.”
“Các món nợ thường đẩy người ta vào bước đường tự sát. Chúng phá tan các gia đình, buộc người mang nợ phải bỏ nhà ra đi... Nghe giống như chuyện khó tin giữa thời đại ngày nay, nhưng những tấn thảm kịch này thời nào cũng có, xuất phát từ việc thiếu nhận thức về quy trình tuyên bố cá nhân phá sản.”
“Đã bao giờ vấn đề này được quan tâm đúng mức chưa ạ?”
“Gần đây thôi, tôi vẫn thích nghĩ rằng đó là nhờ những nỗ lực của chúng tôi, chúng tôi nhận thấy ngày càng nhiều khách hàng đến xin tư vấn trước khi mọi việc vượt quá tầm kiểm soát. Số lượng người đệ đơn tuyên bố phá sản cũng tăng lên. Các tòa thụ lý phá sản đều quá tải.” Mizoguchi lật sơ cuốn sổ của ông. “Chỉ riêng năm 1984, trên cả nước có hơn 20.000 vụ. Đó là năm được mệnh danh ‘khủng hoảng tài chính tiêu dùng’. Sau năm đó thì con số lên xuống thất thường, nhưng mấy năm trở lại đây, xu hướng có vẻ theo chiều gia tăng. Năm 1990, có 12.000 vụ, nhưng năm ngoái đã tăng vọt lên 23.000 vụ. Năm nay chắc chắn số lượng sẽ còn cao hơn thế. Bởi vì mới tuần trước thôi, sáu đường dây nóng tư vấn về tín dụng của văn phòng chúng tôi không ngừng réo chuông. Đa phần các cuộc gọi đều từ những người trẻ tuổi. Thậm chí chúng tôi còn nhận được điện thoại của một cặp vợ chồng có một đứa con bỏ nhà ra đi để trốn nợ.”
Lúc này hai người là những thực khách duy nhất còn lại trong quán. Mizoguchi lẩm bẩm rồi đứng lên.
“Hẹn gặp ông ngày mai nhé!” Ông nói với về phía chủ tiệm trong khi tiến ra cửa cùng Honma. Họ bước trên những con phố ngái ngủ của khu Ginza lạ lẫm vào quãng đó của ngày: xe đạp dựng lộn xộn trước các cửa hàng, túi rác nằm vương vãi đây đó. Không chút hào nhoáng, không chút đèn đóm. Những quán bar thường lấp lánh về đêm, và tiền bạc thì ngủ yên trong ngân hàng suốt ngày. Ginza đang thư giãn sau một ngày có lẽ là tất bật.
Trong khi cả hai cùng sóng bước, Mizoguchi luồn sâu hai tay vào túi áo khoác và kể, “Năm năm trước, khi bắt đầu làm thủ tục tuyên bố phá sản cho Shoko Sekine, tôi đã liệt kê danh sách các khoản nợ chính của cô ta. Cô ta bảo với tôi, ‘Cháu không biết vì sao mình lại lún sâu đến vậy. Cháu chỉ muốn sống hạnh phúc mà thôi’.”
“Hạnh phúc.” Honma nhắc lại.
“Không giống như một lời mở lòng. Tôi nghĩ thế.” Ông bước thêm vài bước rồi nói tiếp. “Nếu anh cần địa chỉ nơi làm việc của cô ta cùng các thông tin tương tự, tôi sẽ đưa hết những gì tôi có. Tôi sẽ bảo Sawagi gửi hồ sơ cho anh.”
“Cảm ơn bác. Chúng sẽ giúp tôi nhiều lắm đây.”
“Đổi lại, anh sẽ báo cho tôi hay khi vụ việc có tiến triển, được không?”
“Dạ, chắc chắn rồi.”
“Thêm nữa, anh nghĩ cô Sekine vẫn ổn chứ?” Ông bất thần hỏi.
Honma không đáp, vị luật sư cũng không muốn truy thêm.
Ở đường giao chính của khu Ginza, hai người chuẩn bị rẽ về hai ngả. Trước khi nói lời tạm biệt, Mizoguchi bổ sung một ý cuối cùng, “Đừng quên những gì tôi vừa kể cho anh. Bản thân Sekine không hề xấu. Cô ta đã phải chật vật lắm để tự duy trì cuộc sống. Chỉ có điều trời không chiều lòng người... Hãy nhớ kỹ ý này. Nếu không anh sẽ không thể nhận ra cô ta, hoặc cô gái đã giả dạng cô ta.”
“Được ạ. Cảm ơn bác rất nhiều vì đã dành thời gian cho tôi.”
Vừa vẫy tay, vị luật sư vừa xoay người bước đi. Phố đã lên đèn, ông cũng mất dạng giữa biển người.
Dòng đời cứ mải miết như thế, cuốn theo những đợt thủy triều, có bao nhiêu người khác nữa từng chết đuối?