Khi Honma gọi điện để kiểm tra địa chỉ ở Lahaina, một phụ nữ đã chỉ đường cho anh, bắt đầu từ vị trí chiếc đầu máy xe lửa cũ ở trước ga Shimbashi, một trong những điểm hẹn gặp được nhiều người biết đến ở khu vực trung tâm Tokyo. Quán bar đó hiện vẫn đang hoạt động, người phụ nữ hào hứng nói. Vẫn người chủ cũ, vẫn là Mama-san kể từ ngày mở cửa cách đây mười năm.
May quá, Honma thầm nghĩ. Với một ngành kinh doanh nhanh chóng biến đổi như “thế giới bóng đêm”, thường thì người quản lý và tên quán sẽ thay đổi chỉ trong vòng hai năm.
Mizoguchi đã nhắc cô trợ lý trước khi Honma gọi tới, cô gái đã tìm sẵn thông tin anh cần. Honma nhanh chóng thảo ra một bản biên niên những “năm còn để trống” của Shoko Sekine.
3.1983 Đến Tokyo. Được Công ty Thương mại Kasai nhận vào làm.
Mùa hè 1984 Bắt đầu dính đến các khoản nợ. Chuyển từ khu nhà tập thể của công ty đến một căn hộ thuộc tòa nhà cổ Kinshicho.
4.1985 Bắt đầu làm việc bán thời gian tại bar Gold (Shinjuku).
Mùa xuân 1986 Nằm viện 10 ngày do làm việc quá sức. Nợ nần chồng chất.
1.1987 Nhân viên thu nợ gây áp lực. Bỏ việc ở Công ty Thương mại Kasai.
5.1987 Đệ đơn xin tuyên bố phá sản. Rời khỏi căn hộ ở tòa nhà Kinshicho, chuyển đến sống cùng Tomie Miyagi - bạn cùng làm tại bar Gold.
2.1988 Hoàn tất quá trình tuyên bố phá sản. Nghỉ việc tại Gold, đến làm tại bar Lahaina (Shimbashi). Chuyển từ căn hộ của Miyagi đến tòa nhà Kawaguchi Co-op.
25.11.1989 Mẹ mất do tai nạn tại Utsunomiya.
25.1.1990 Đến gặp luật sư Mizoguchi để hỏi về khoản tiền bảo hiểm.
Thế rồi vào ngày 17 tháng Ba năm 1990, cô ta biến mất.
Honma dự định sẽ lần ngược các địa điểm ứng với các mốc thời gian này. Anh đã đến văn phòng của Mizoguchi, vậy nên điểm đến tiếp theo sẽ là Lahaina. Sau đó anh sẽ tìm về Utsunomiya. Hoặc bar Gold. Hoặc cố tìm gặp người cô từng ở chung, Tomie Miyagi. Tùy thuộc những gì anh tìm được ở Lahaina.
Makoto hầu như chẳng hề động đến bữa tối. Chiến dịch tìm con Đầu Đất thất bại khiến thằng bé chán nản. Trước khi rời nhà, Honma ghé qua phòng thằng bé, thấy nó đang mải buôn chuyện qua điện thoại. Honma chẳng phàn nàn gì, bởi anh lại chuẩn bị bỏ nó ở nhà một mình.
Một cuốc xe taxi đến ga để đợi tàu. Anh quyết định không mang theo chiếc dù nữa, giờ anh phải bắt đầu tự đi mà không cần dụng cụ hỗ trợ. Chẳng qua là để thử thách ý chí của chính anh, bởi bên đầu gối bị thương chẳng tỏ dấu hiệu phục hồi nào cả. Trên thực tế, mới chỉ có bốn ngày trôi qua kể từ khi Jun tới gặp anh vào thứ Hai vừa rồi.
Quá trình trị liệu của anh gồm hai lần tập mỗi tuần. Thông thường anh đi vào thứ Hai và thứ Sáu, nhưng hôm nay bỏ tập cũng không nên coi là tội lỗi gì to tát quá. Nhất là khi anh vừa xuống xe và định tự đi trên chính đôi chân của mình. Dùng cách này có khi sẽ bình phục nhanh hơn, anh tự biện hộ với chính mình như thế.
Đây cũng không hẳn là quá trình “phục hồi”, chỗ đó không phải là phòng khám ngoại trú. Sau khi bệnh viện công an cho xuất viện, Honma đã đến một câu lạc bộ thể thao theo lời khuyên của một người bạn. Ý tưởng luyện tập nghe có vẻ rất hứa hẹn. Nơi đó còn liên kết với vài bệnh viện tư, vậy nên anh có thể tham vấn bác sĩ để có một chế độ tập luyện đặc biệt.
Người trị liệu cho anh là một phụ nữ đến từ Osaka, quãng ba mươi tư, ba mươi lăm tuổi. Rất đáng yêu, anh nghĩ, nhưng cũng vô cùng thẳng tính. Anh vắt sức tập đến độ mồ hôi chảy ròng ròng, trong khi đó cô ta vẫn thúc giục tới tấp, bảo anh rằng Đàn ông Tokyo không có mỡ thừa!
Kể cả ở Tokyo, nơi trung hòa mọi thứ, dân Osaka vẫn biết cách giữ bản sắc của mình. Họ có thể điều chỉnh để nói giọng chuẩn theo sách mẫu tiếng Nhật, nhưng vẫn giữ âm sắc Osaka. Bản thân nó có sức lôi cuốn lạ kỳ, Honma phải thừa nhận thế. Anh không có “quê nhà” để thêm chút âm hưởng đặc biệt cho giọng nói của mình.
Bố anh quê ở Tohoru, mãi tít cực Bắc. Là con thứ ba trong một gia đình nông dân nghèo, ông đã tìm đường lên Tokyo ngay sau khi chiến tranh kết thúc để tìm việc làm. Cuối cùng ông trở thành cảnh sát chìm. Ông có những lý do riêng, nhưng “thực hiện công lý” không thuộc số đó. Thời ấy, người Nhật vứt bỏ danh dự sang một bên, bởi họ chẳng phải đấu tranh cho điều gì khác ngoài việc chén cơm đã rỗng không. Thêm nữa là số lượng người từ nông thôn chuyển đến Tokyo bị hạn chế. Tuy nhiên nếu tham gia lực lượng cảnh sát, người ta sẽ mặc nhiên có quyền được sống ở đó.
Trở thành một cảnh sát chính là phương thức cho ông sự sinh tồn. Vì thế mẹ Honma chẳng bao giờ có thể biết được lý do con trai bà muốn theo bước chân cha mình. Đừng bảo mẹ đấy là do gien di truyền mà có, mẹ anh ca thán. Bố anh cũng thông cảm cho con dâu mình ngay từ đầu. Nếu có lúc nào con muốn bỏ nó, ông đã nói với vợ anh, chỉ cần nói ra là được. Bố sẽ buộc nó chi tiền nuôi nấng Makoto. Ông đã nói được là làm được. Thường thường, Chizuko chỉ mỉm cười.
Cả ba người bọn họ - bố mẹ anh và vợ anh - đều có quê ở miền Bắc. Giờ cả ba cũng đã qua đời. Bố mẹ anh là đồng hương, Chizuko quê ở Nigata, nơi nổi tiếng với những trận tuyết lớn. Mỗi lần cùng Chizuko đi thăm nhà nội, Honma luôn là người bị cho ra rìa, như thể anh không có nguồn cội, không nơi nào anh có thể gọi là “nhà”.
Nhưng anh là người Tokyo mà, vợ anh thường trêu. Tuy nhiên Honma chưa từng coi mình là dân Tokyo chính hiệu. Có một khoảng cách lớn giữa một người sinh ra ở Tokyo và một người gốc Tokyo. Người ta thường bảo sống ba đời ở Tokyo là thành dân gốc, nhưng liệu có ai cảm nhận được mối quan hệ huyết thống với nơi họ sống? Đấy mới là vấn đề đáng quan tâm. Làm sao anh có thể phân biệt một người có quê gốc Tokyo với một người sinh ra và lớn lên ở đấy? Thành phố này ngày nay không có chỗ để nói về gốc rễ nữa. Nó chỉ còn là một mảnh đất trơ trụi, một mảnh đất không mùi, không được cày xới, tưới tắm. Chẳng có gì sinh sôi nảy nở được ở thành phố lớn rộng này. Những người ở đây như đám cỏ lông chông, sống nhờ những ký ức về gốc gác, nguồn cội đâu đó của cha mẹ, tổ tiên họ. Những gốc rễ đó dần dần khô héo, mòn mỏi đi.
Chắc hẳn đấy là lý do, anh nghĩ. Lý do khiến anh man mác buồn mỗi khi làm nhiệm vụ, chạy loanh quanh thành phố lắng nghe câu chuyện của mọi người; bắt gặp những người có giọng nói lạ, và lập tức biết họ có một “quê hương”. Như một đứa trẻ đang chơi đùa giữa quãng hoàng hôn - một đứa bạn, lại một đứa nữa được gọi về nhà ăn tối, đến khi cuối cùng chỉ còn trơ trọi mình anh.
Tối hôm đó, lúc tám rưỡi, anh đẩy cánh cửa bước vào bar Lahaina. Một cô gái chắc chắn chưa tới hai mươi tuổi chào đón anh, lại một lần nữa anh nghe ra âm vực lạ, giọng miền Nam, người Hakata, chất giọng đặc trưng khó lòng nhầm lẫn được. Có thể Shoko Sekine cũng nói âm mũi của vùng Utsunomiya khi tới đây làm việc?
Sau vài phút, Honma được gặp Mama-san.
“Xin lỗi,” cô ta khẽ nói, “nhưng anh là cảnh sát, phải không?”
“Chuẩn rồi,” anh đáp. “Làm sao cô biết được?”
Người phụ nữ chỉ nhún một bên vai trần. Cô ta đang mặc loại váy lệch vai, để lộ một bên vai và xương quai xanh mảnh mai.
Tầng trệt chật hẹp kê hai chiếc ghế dài cùng chiếc bàn hình móng ngựa. Đồ trang trí rất hẻo, chỉ có tấm hình một cái cây khổng lồ treo trên tường. Số lượng người làm cũng ở mức tối thiểu, một người đàn ông giúp việc cùng hai nữ phục vụ. Có lẽ tất cả bọn họ đều làm bán thời gian. Cô gái nói giọng Hakata trẻ hơn cô còn lại một chút.
Honma ngồi tít cuối quầy thu ngân, cạnh đó là Mama-san và người pha chế rượu, câu chuyện đời của người này khiến Honma nhớ tới Isaka. Một bình hoa lớn chễm chệ đứng ở phía đầu quầy thu ngân, toàn hoa giả.
Những quán bar nhỏ như thế này thường khá lặng lẽ. Nơi đây không trang bị bộ dàn karaoke như ở quán Bacchus. Bọn họ không đầu tư nhiều tiền mua các loại đồ đạc như các quán lớn hơn. Có vẻ họ không muốn thu hút khách vãng lai mà chủ yếu là chốn nghỉ chân của các nhân viên văn phòng trung lưu, không hẳn là dạng chi quá sộp. Một nơi kín đáo để cất giữ những bí mật riêng tư. Kể cả lúc này, có bốn vị khách trong quán, nhưng cả bốn đều ngồi một mình. Không gian đủ thoải mái. Có lẽ đây là lý do giúp nó trụ lại được trong ngành suốt mười năm qua.
Khi Honma vừa thốt lên, “Tôi quen một người từng làm việc ở đây,” cô ta liền cắt ngang. “Anh đang đi điều tra à?”
“Trước tiên có lẽ cô nên cho tôi hay làm sao cô biết tôi là cảnh sát,” anh nhấn giọng. “Một gã trai không thể đến nơi bạn gái anh ta từng làm việc, để tưởng nhớ lại chuyện xưa sao?”
Câu hỏi của anh khiến cô ta bật cười. “Chỗ chúng tôi không có kiểu người nhạy cảm như thế đâu. Hơn nữa tôi thường để mắt đến bạn trai những người làm ở đây, thế nên những câu như thế chẳng lừa được tôi đâu.”
“Để mắt?” Anh gãi gãi trán. “Có lẽ theo dõi thì đúng hơn chứ nhỉ?”
“Thôi nào. Chỉ có cánh cảnh sát mới đùa lố như thế thôi.” Cô ta khoát tay trên mặt quầy. “Anh không định giơ thẻ ra đấy chứ?”
“Và làm kinh động các vị khách của cô?”
“Đúng vậy, có thể sẽ khiến mọi thứ đổ vỡ chút ít.” Cô cắn nhẹ làn môi bóng trong lúc thoáng đăm chiêu. “Anh thuộc đội Sakuradamon à? Hay gần đây hơn thì là đội Marunouchi?”
“Cái đám Marunouchi có tới tận đây uống vài ly không?”
“Bên ngoài khu vực của họ, có lẽ khi họ muốn xả hơi. Tất nhiên bọn họ không bao giờ nói mình là cảnh sát. Nhưng tôi vẫn nhận ra.”
“Sao bọn họ lại bị cô bắt thóp được?”
“Hai chữ cảnh sát như viết rành rành trên mặt họ. Mặt họ lúc nào cũng như diều hâu. Anh thì không giống lắm, nếu anh muốn biết.” Cô nói, hơi chồm về phía trước để nhìn rõ hơn.
“Cảm ơn cô!”
“Vậy anh thuộc đội Sakuradamon à?”
“Ừm...”
“Anh đang điều tra một vụ giết người? Điều bí ẩn lớn nhất là gì? Dù sao thì trông anh có vẻ thành thục hơn đám cảnh sát thuộc nhóm đó.”
“Đúng vậy, án giết người.” Sao lại không chứ? Anh lấy ra tấm danh thiếp không có chức vụ nghề nghiệp, đặt lên bàn.
Người phụ nữ đưa hai tay nhận lấy. “Anh Honma, phải không nhỉ? Được rồi, vậy anh đang theo vụ gì? Có gì liên quan đến các cô gái quán chúng tôi?”
Honma khẽ cựa người trên chiếc ghế đẩu cao. “Có thể cô còn nhớ một người tên là Shoko Sekine, làm việc ở đây đến khoảng tháng Ba hai năm về trước?”
Mama-san chớp mắt nhìn Honma rồi quay sang tay pha chế rượu. “Nghe không, Kikuchi? Là Shoko.”
Kikuchi đang lau khô mấy cái ly, khẽ gật đầu. “Có, tôi nghe thấy rồi.”
“Vậy là cậu nhớ người này?” Honma quay sang hỏi cậu ta.
“Cô ta đến đây rồi biến mất - phụp! - thậm chí chẳng bao giờ quay lại lấy nốt tiền lương.”
“Đúng như cậu ta nói.” Người phụ nữ cúi sát hơn, tựa mạnh vào quầy khiến dây áo hằn lên bờ vai trái. “Chưa bao giờ xảy ra chuyện như vậy, trước và sau cô ta. Tôi vẫn nghĩ mình vốn quan tâm để ý đến người làm.” Cô vỗ vỗ bàn tay phải lên phía ngực, như thể những ký ức vẫn chen chúc trong đó. Rồi cô ngước lên, đôi mắt linh hoạt hẳn. “Vậy ra anh đến tìm Shoko?”
“Chính là cô ta.”
“Cô ta có... Cô ta đã...”
“Không, không tệ đến mức ấy. Đó là lý do tôi không giơ thẻ cảnh sát ra.” Đã đến lúc kể lể câu chuyện buồn tủi cửa Jun rồi. “Cô ta đính hôn với cháu họ tôi. Nhưng rồi hoảng loạn chạy trốn. Vốn biết thằng cháu của tôi không ra gì, nên tôi cũng chẳng muốn trách cô ta, chẳng muốn gây áp lực làm gì. Nhưng điều làm tôi lo nghĩ hơn cả là thằng cháu tôi nhờ cô ta vay ít tiền. Tôi nghĩ nó phải trả lại cho cô ta. Thằng cháu tôi bảo đừng có mơ, nhưng chuyện này không thể cứ lần lữa được. Tôi không muốn đang lúc nửa đêm lại bị tóm cổ.”
Mama-san và người pha chế rượu đưa mắt nhìn nhau. Nhìn trực diện, vẻ mặt cậu ta ưa nhìn hơn Isaka.
“Shoko đã đính hôn?” Cô ta gần như líu lưỡi cả câu. “Cháu anh cũng là cảnh sát à?”
“Không, là nhân viên ngân hàng.”
“Shoko của chúng tôi sẽ trở thành vợ một người làm trong ngành ngân hàng?”
“Không lẽ cô ta không hợp?”
“Không, không hẳn. Nhưng... tôi biết diễn đạt ra sao nhỉ? Cô ta không thực sự là tuýp phụ nữ nội trợ.”
“Cô ta không phải người thích chăm lo cho gia đình?”
“Không hẳn thế,” cô vừa nói vừa nở một nụ cười. “Cô ta không thích công việc lau chùi, dọn dẹp.”
Thật khác xa cô gái “Shoko Sekine”ở căn hộ Honancho.
Mama-san có lẽ gần bốn mươi tuổi, Honma ước đoán. Hơi thừa cân một chút, với chiếc cằm đôi. Nhưng đôi mắt cô ta vẫn đầy thu hút. “Xin lỗi,” cô nói, “tôi thực sự không biết cô ta có thể đi những đâu. Kể từ khi cô ta đột ngột bỏ việc, hai năm nay chúng tôi chẳng nhận được tin tức gì nữa, kể cả một tấm thiếp mừng năm mới.” Lời cô mang ngầm ý: Tốt thôi, chúng tôi không nghi ngờ gì anh, nhưng chúng tôi chẳng muốn nghe câu chuyện này. Kể cả khi chúng tôi biết cô ta ở đâu, vì sao anh lại nghĩ chúng tôi sẽ tiết lộ chứ?
Honma mỉm cười. “Dĩ nhiên tôi tới không phải để nhờ các vị gợi ý tìm cô ta. Tôi chỉ hi vọng các vị sẽ cho tôi biết về con người cô ta thời còn làm ở đây, hoặc tên một vài người bạn của cô ta.” Trước khi Mama-san kịp lên tiếng, anh đã nói thêm, “Thằng cháu tôi biết cô ta làm việc ở quán bar. Hiện nay cũng nhiều nhân viên văn phòng làm thêm buổi tối mà, phải không? Nó cũng chẳng lấy làm phiền. Chuyện này không ảnh hưởng gì đến mối quan hệ giữa hai đứa cả. Nhưng thằng cháu tôi khá được cưng chiều, và nó có phần hơi lý tưởng hóa cô bạn gái.”
“Thanh niên thời nay toàn thế,” Mama-san thận trọng nói.
“Shoko không phải là người ăn xài hoang phí, phải không?” Anh hỏi kiểu bắt nọn. “Cô ta có vẻ chặt chẽ chuyện tiền bạc hơn thằng cháu tôi.” Sau khi tuyên bố phá sản, chắc chắn phải như vậy thôi. Cô ta phải dè sẻn với các khoản chi ít ỏi.
Mama-san đã mắc mưu anh. “Thậm chí có phần hơi ky bo nữa, cô ta chắt bóp từng tí một.”
“Có ai cùng đợt cô ta mà vẫn làm ở đây không?”
“Để tôi xem nào. Có cô Maki.” Mama-san nói sau khi lướt qua mấy nữ phục vụ. Theo hướng ánh mắt cô, Honma nhìn ngoái qua vai về phía cô tiếp viên lớn lúc ấy đang mỉm cười và thì thầm chuyện trò với một ông khách luống tuổi có vẻ điềm đạm.
“Cô Sekine có hòa đồng với những người ở đây không?”
Mama-san nhướng đôi mày cong vút. “Cô ta là một cô gái tốt.” Một câu trả lời lấp liếm. Cô với tay lấy một chiếc ly sạch, cho đá vào rồi nói, “Tôi mời, rót đầy ly Scotch nhé.”
“Vì cô nắm khá rõ cuộc sống riêng của các cô gái ở đây...” Honma lấy tấm ảnh chụp cận mặt Shoko giả ra cho Mama-san xem. “Cô gái này có phải là bạn cô ta không? Hình như hiện giờ Shoko đang sống ở chỗ cô ta.”
Người phụ nữ chăm chú nhìn bức ảnh. Khẽ lắc đầu, cô ra hiệu cho người pha chế rượu đến xem cùng. Đột nhiên, cô ta nhấc chiếc ly đựng đầy bánh quy xoắn phủ sô cô la rồi gọi với ra. “Này, Maki, con muốn bê món này ra không?” Đưa bánh cho cô gái, Mama-san hỏi khẽ, “Con còn nhớ Shoko Sekine không?”
Maki chớp đôi mi chuốt mascara dày, “Nhớ ai cơ ạ?”
“Con biết mà, cái con bé hay ủ rũ ấy.”
“A, có ạ, con nhớ.” Maki nói, hơi thở có vị cam thơm mát. Cô thoáng mỉm cười với Honma.
“Shoko có người bạn nào giống trong ảnh này không?”
“Cháu đã bao giờ gặp người này chưa?” Honma nói thêm. “Shoko có bao giờ kể về bạn bè cô ta không?”
Maki nhìn bức ảnh rồi nhún vai. “Cháu không nhớ. Dù sao cũng đã khá lâu rồi.”
“Cháu không nhớ ra cô bạn gái nào của cô ta à?”
Maki lắc đầu, mùi hương thoang thoảng tỏa ra từ mái tóc cô, “Cháu rất tiếc là không. Cô ấy hầu như chẳng kể chuyện gì mấy.”
“Cháu có nhớ trước đây cô ta sống ở một căn hộ ở Kawaguchi không?”
“Kawaguchi ạ? Cũng có thể lắm. Nói chung là ở đâu đó trong khu Saitama. Cô ấy lúc nào cũng vội vội vàng vàng cho kịp chuyến tàu, vì giá cước taxi đắt lắm. Má thấy đúng không má?”
Mama-san gật đầu đồng tình. Honma tiếp tục hỏi. “Shoko có bao giờ kể về nơi cô ta làm việc trước khi tới đây không?”
“Cô ấy nói đó là một công ty bình thường thôi.”
“Đúng vậy. Chỗ đó là Công ty Thương mại Kasai.”
“Ô vậy ạ? Cái tên này chẳng gợi nhắc cho cháu tí nào cả. Tất cả những gì cô ấy kể chỉ là công ty nằm ở Edogawa.”
Khá thú vị đây! Rõ ràng cô ta đã giấu giếm những năm làm nhân viên phục vụ ở bar Gold. Nơi đó chứa đựng nhiều ký ức xấu đối với cô ta, nơi cô ta làm việc trong giai đoạn khủng hoảng nhất. Như vậy là ngay cả Shoko thật cũng nói dối và bỏ qua những chi tiết quá khứ khi có công việc mới. Tất nhiên, cô ta cũng không hé răng với bất kỳ ai nơi đây về việc mình phá sản.
“Cô ta có người yêu không?”
Mama-san bật cười, nhưng câu trả lời của cô hết sức rõ ràng. “Theo tôi biết thì không, những chuyện như vậy tôi nắm rõ lắm.”
“Chị ấy có phần hơi kỳ lạ,” Maki chêm vào. “Như thể chị ấy sống trong thế giới của riêng mình. Nếu có ai mời chị ấy đi chơi, người ta phải nài nỉ dữ lắm. Kể cả đó là một vị khách đứng đắn, thề sống thề chết là chỉ muốn đưa một cô gái đi ăn cùng mà thôi.”
Bất thần người pha chế rượu cũng góp chuyện. “Này, theo tôi thấy, nhìn mắt cô ấy là biết cô ấy từng gặp rắc rối về chuyện tiền nong.”
Honma ngắm kỹ anh chàng trong khi anh ta chăm chú nhìn bức ảnh trên mặt quầy. “Sao cậu lại nói thế?” Anh hỏi.
Kikuchi quay sang phía anh. “Trực giác thôi ạ, cháu nghĩ thế.”
“Không có lý do gì đặc biệt à?”
“Không đâu.”
“Liệu có gã nào lừa lấy hết tiền tiết kiệm của cô ta không nhỉ?”
Câu hỏi khơi gợi hứng thú của Maki. “Không thể nào,” cô nói.
“Thật vậy sao?”
Maki lấy mấy chiếc bánh que phủ sô cô la rồi bước đi, mặt vờ tỏ ra chán chường. “Cháu nhận thấy cô Sekine không ưa giao du cho lắm.”
“Đúng thế. Cô ta không bao giờ tụ tập. Chúng tôi chưa có dịp nào đi chơi chung cả.”
Ngay trước khi Honma ra khỏi nhà, Funaki đã gọi đến báo rằng Shoko có bằng lái xe nhưng không có hộ chiếu. Honma nhận thấy nên đặt câu hỏi về chúng. “Cô ta đã bao giờ đi nước ngoài chưa?”
Mama-san đáp ngay lập tức. “Chưa. Không phải vì cô ta không đi được với ai. Chủ yếu là cô ta sợ đi máy bay. Cô ta chưa bao giờ bay trong nước nữa kia.”
“Chưa bao giờ?”
“Đúng thế. Chú thấy bức tranh cái cây đằng kia không? Chú biết nó là gì không?” Cô chỉ bức tranh được lồng khung treo trên tường. “Đó là cảnh Hawaii, ở thị trấn Lahaina thuộc đảo Maui. Cây cổ thụ đồ sộ đó được coi là biểu tượng của thị trấn. Chị gái cháu cưới một người Mỹ và định cư ở Maui. Cứ hàng năm chị cháu ghé lại chơi và rủ các cô gái ở đây đi cùng chị ấy... Nhưng Shoko không bao giờ đi. Một chuyến đi miễn phí, mà cô ta còn không dám nghĩ đến chuyện bước lên một chiếc máy bay.”
Hèn gì không làm hộ chiếu. Phải chăng cô nàng Shoko giả không biết điều này? Nếu Shoko thật không có hộ chiếu thì chẳng có gì ngăn cản cô gái giả danh đó đi nước ngoài cùng Jun cả. Điều này giúp anh suy luận được lắm thứ. Trước khi giả mạo người khác, chắc chắn cô ta đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng rồi.
Một người vốn tỉ mỉ, thận trọng như thế, có lẽ nào lại bỏ qua những thứ giấy tờ như bằng lái, hộ chiếu? Không thể nào, cô ta đã nắm chắc mọi thứ trong tầm tay rồi mới tiến hành. Chắc chắn cô ta phải gần gũi, thân thiết với Shoko Sekine lắm mới lấy được mọi thông tin cần thiết.
Như vậy có thể là một người cùng làm việc với Shoko ở bar Gold hoặc Công ty Thương mại Kasai? Cả hai đều có khả năng xảy ra. Vì sao ư? Bởi vì bất cứ ai ở một trong hai nơi này đều dễ dàng biết được Shoko có hộ chiếu hay bằng lái xe không, thậm chí cả địa chỉ thường trú của cô ta, có lẽ còn biết cả chuyện cô ta đã từng phá sản. Đúng hơn thì những người ở Công ty Thương mại Kasai không thể tường tận mọi chi tiết - không giống những cô gái Shoko gặp ở Gold - bởi vì cô ta nghỉ việc trước khi đệ đơn tuyên bố phá sản, nhưng chắc chắn họ được chứng kiến những ngày nhọc nhằn của cô ta, bất cứ ai đủ thông minh để lập ra một kế hoạch hoàn hảo đều có thể dễ dàng gợi chuyện cho cô ta kể về khoản nợ. Shoko sẽ phản ứng thế nào nhỉ? Có thể nói là cô ta mượn tiền của mẹ. Hoặc là tìm thấy một vị “mạnh thường quân” cứu cô ta khỏi túng quẫn. Kể cả như vậy, cô nàng Shoko giả danh chắc chắn sẽ tìm hiểu sự thật. Rất có thể chỉ cần cố gắng chút xíu, cô ta đã khám phá được vụ phá sản còn trong vòng bí mật đó. Hỏi vài câu đúng trọng tâm, tự Shoko sẽ thú nhận hết. Thế nên cô gái của Jun có lẽ không biết khi đồng ý làm thẻ tín dụng.
Vừa đủ thân thiết để moi thông tin cá nhân của Shoko, nhưng không biết cô ta đã bị phá sản vài năm trước. Dạng phụ nữ nào có thể phù hợp nhỉ?
Một lần nữa, Honma đưa tấm ảnh Shoko giả cho Mama-san. “Cô hoàn toàn không biết cô gái này ư? Có thể cô ta là khách ở đây?”
Mama-san lắc đầu không chút do dự. “Không, tôi chưa bao giờ quên khuôn mặt của bất kỳ ai từng gặp.”
Người pha chế rượu cũng có cùng câu trả lời.
“Tôi đoán chỗ của cô cũng không lưu ảnh cô Sekine phải không?”
Mama-san nhún vai. “Chúng tôi không có nhu cầu ảnh ọt gì cả.”
“Khi cô ta làm việc ở đây, hay tin bà mẹ qua đời, chắc hẳn cô ta sốc lắm?”
Lần này Mama-san đứng bật dậy. “Trời ạ, chuyện đó quá sức kinh hoàng. Bà ấy ngã khỏi cầu thang, lại say bí tỉ như thế nữa.”
“Cầu thang ở đâu? Tôi không biết được cụ thể.”
“Có thể ở điện thờ, cũng có thể trong công viên nhỉ?”
“Đừng hỏi con,” Maki nói, sau khi tiễn một vị khách ra cửa. Trong khi dọn dẹp đám ly trên bàn, cô bất chợt nói to: “Đợi đã!” Đôi mắt chuốt mascara dày của cô mở to. “Chị Shoko có nhắc đến một việc. Má có nhớ không má?” Không, Mama-san không nhớ. Người pha chế rượu cũng không.
“Việc gì vậy?” Honma hỏi.
Maki tiến lại tóm lấy cánh tay anh. Móng tay cô khá sắc. “Khi mẹ Shoko mất, người tìm thấy bà ấy và gọi xe cứu thương là một cô gái. Shoko kể với cháu chị ấy đã nói chuyện với cô gái đó. Để cảm ơn cô ta.”
“Shoko có nhắc tên cô gái đó không?”
Maki cúi đầu e lệ. “Chị ấy không nói. Cũng có thể chị ấy có nói, nhưng cháu không nhớ ra.”
Có lẽ đã đến lúc tìm về Utsunomiya rồi.