Khách Sạn Grand Babylon

Lượt đọc: 38 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
‘Mr Sampson Levi Wishes To See You, Sir.’

❊ ❊ ❊

“Ông Sampson Levi muốn gặp ngài, thưa ngài.”

Những lời ấy, do một người hầu nói với Theodore Racksole, đã kéo vị triệu phú ra khỏi một dòng suy tư vốn chẳng lấy gì làm dễ chịu. Sự thật là — và điều này cần phải được nhấn mạnh — ông Racksole, chủ nhân của khách sạn Grand Babylon, hoàn toàn không cảm thấy hài lòng về bản thân. Một sự bí ẩn đã bủa vây lấy khách sạn của ông, và với tất cả sự sắc sảo cùng hiểu biết rộng râm của mình, ông vẫn không tài nào giải mã nổi ẩn số đó. Ông từng cười trừ trước những nỗ lực vô ích của cảnh lực, nhưng ông cũng chẳng thể thành thật khẳng định rằng cố gắng của chính mình lại khá khẩm hơn. Công chúng bắt đầu bàn tán, bởi suy cho cùng, vụ mất tích của tội nghiệp Dimmock đã rò rỉ ra bên ngoài theo một cách gián tiếp nào đó, và Theodore Racksole chẳng đời nào thích việc khách sạn hoàn hảo của mình lại trở thành đề tài cho những lời đồn đoán đầy ám muội. Ông thầm băn khoăn với vẻ mặt nghiêm nghị rằng, liệu công chúng và các tờ báo Chủ nhật sẽ phản ứng thế nào nếu họ biết về tất cả những hiện tượng kỳ lạ khác chưa bị phơi bày: về sự biến mất của cô Spencer, những chuyến ghé thăm lạ lùng của Jules, và việc Hoàng tử Eugen xứ Posen mãi vẫn chưa tới nơi. Theodore Racksole đã vắt óc suy nghĩ mà chẳng thu lại kết quả gì. Ông đã tiến hành một cuộc điều tra riêng vô cùng tỉ mỉ nhưng cũng chẳng đi đến đâu, và ông đã đổ vào đó một khoản tiền kha khá mà hoàn toàn uổng phí. Cảnh sát tuyên bố rằng họ đã nắm được một manh mối; nhưng Racksole nhận xét rằng việc có manh mối vốn luôn là bổn phận của cảnh sát, rằng họ hiếm khi nào có nhiều hơn một manh mối, và rằng một manh mối chẳng đi đến đâu thì đúng là một trò hề ngớ ngẩn. Điều duy nhất chắc chắn trong toàn bộ câu chuyện này là một bóng đen đang bao trùm lấy khách sạn của ông, món đồ chơi mới tuyệt đẹp và cũng là nơi sang trọng bậc nhất thuộc loại này. Bóng đen ấy chẳng hề gây cản trở gì đến việc kinh doanh, dẫu vậy, nó vẫn là một vết gợn, và ông cảm thấy vô cùng bực bội trước sự hiện diện của nó; có lẽ nói chính xác hơn là ông căm ghét sự bất lực của chính mình trong việc xua tan nó.

“Ông Sampson Levi muốn gặp ngài, thưa ngài,” người hầu nhắc lại, khi chẳng nhận được bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy chủ nhân đã nghe thấy mình.

“Ta nghe thấy rồi,” Racksole nói. “Cậu ta muốn gặp ta có việc riêng à?”

“Cậu ta xin gặp ngài, thưa ngài.”

“Hay là hắn muốn gặp Rocco để bàn về thực đơn hay thứ gì đại loại thế?”

“Tôi sẽ đi hỏi lại, thưa ngài,” người hầu đáp rồitoan quay bước lui ra.

“Đứng lại,” Racksole cất giọng ra lệnh. “Mời ông Sampson Levi vào đây.”

Vị môi giới chứng khoán lớn của ‘Thị trường Kaffir’ bước vào với dáng vẻ giản dị và không hề ra điều bộ. Ông ta là một người hơi thấp, mặt đỏ hào húp, ăn mặc giống hệt một nhà tài chính gốc Do Thái điển hình, với chiếc dây đồng hồ thì quá khổ mà chiếc áo ghi-lê lại quá bé. Trong bàn tay mập mạp, ông cầm một cây gậy đầu bọc vàng và một chiếc mũ phớt lụa hoàn toàn mới tinh — bởi hôm nay là thứ Sáu, và cứ mỗi thứ Sáu trong đời là ông Levi lại mua một chiếc mũ mới, chỉ trừ những dịp đi nghỉ mát. Ông thở hồng hộc và khịt mũi liên hồi, trông cứ như vừa phải lao động nặng nhọc đến mức dời non lấp biển. Ông liếc nhìn vị triệu phú người Mỹ với một biểu cảm thoáng chút ngượng ngùng, nhưng đồng thời, khuôn mặt tròn trịa và đỏ lựng ấy cũng ánh lên một vẻ ngưỡng mộ chân thành cùng bản tính hòa nhã.

“Tôi xin tự giới thiệu, tôi là Racksole — Theodore Racksole. Rất hân hạnh được gặp ngài, thưa ngài.”

Đó là những lời đầu tiên của ông Sampson Levi. Về hình thức, chúng chẳng khác nào lời chào của một kẻ quét ống khói hạng bét, nhưng thật kỳ lạ làm sao, Theodore Racksole lại khá ưng cái giọng điệu ấy. Ông tự nhủ rằng ngay tại đây, ở một nơi mà chẳng ai ngờ tới lại có thể tìm thấy một con người chân thật.

“Xin chào,” Racksole đáp gọn lỏn. “Tôi lấy làm vinh hạnh được đón tiếp ngài vì —”

“Tôi đoán thời gian của ngài không có nhiều,” Sampson Levi ngắt lời. “Dù sao thì thời gian của tôi cũng eo hẹp, thế nên tôi sẽ đi thẳng vào vấn đề luôn nhé, ông Racksole. Tôi là một người bộc trực. Tôi không ra điều quý tộc hay bày vẽ mấy thứ vớ vẩn kiểu đó. Tôi là một tay môi giới chứng khoán, bản chất tôi là thế và tôi đế quan tâm ai nghĩ gì. Đêm nọ tôi có tổ chức một buổi vũ hội tại khách sạn này. Nó ngốn của tôi ngót nghét vài ngàn bảng, và nhân tiện đây, tôi đã ký séc thanh toán hóa đơn cho ngài sáng nay rồi đấy. Tôi không thích khiêu vũ, nhưng chúng có ích cho công việc của tôi, và cô vợ bé nhỏ của tôi lại thích, thế nên chúng tôi cứ tổ chức thôi. Giờ thì tôi không có điều gì phàn nàn về cách quản lý của khách sạn trong bữa tiệc đó cả: mọi thứ được chuẩn bị rất chu đáo, thực sự rất chu đáo, nhưng điều tôi muốn biết là — Tại sao ngài lại cài một tên thám tử tư vào giữa những vị khách của tôi?”

“Thám tử tư ư?” Racksole thốt lên, có phần ngạc nhiên trước lời buộc tội này.

“Đúng vậy,” ông Sampson Levi quả quyết, vừa quạt lấy quạt để khi đang ngồi trên ghế, vừa đăm đăm nhìn Theodore Racksole với ánh mắt nghiêm nghị và thẳng thắn của một kẻ đang mang nỗi ấm ức. “Đúng thế; một thám tử tư. Tôi thừa nhận đây là một chuyện nhỏ, và tôi dám cá là ngài nghĩ với tư cách là chủ nhân của chốn này, ngài có quyền làm bất cứ điều gì mình thích trong lĩnh vực đó; nhưng tôi ghé qua đây chỉ để nói cho ngài biết rằng tôi phản đối. Tôi đến đây vì vấn đề nguyên tắc. Tôi không hề nổi giận; đây là chuyện nguyên tắc.”

“Ông Levi thân mến,” Racksole nói, “tôi xin đảm bảo với ngài rằng, một khi đã cho thuê Căn phòng Vàng để một cá nhân tổ chức tiệc riêng tư, tôi không bao giờ thèm nghĩ đến chuyện làm cái điều mà ngài vừa ám chỉ đâu.”

“Thật chứ?” ông Sampson Levi hỏi, dùng ngay thứ ngôn ngữ đậm chất bình dân của mình.

“Thật,” Racksole mỉm cười đáp.

“Có một tay mặt mũi lạ hoắc đã xuất hiện trong buổi tiệc của tôi mà chẳng hề được mời mọc gì sất. Trí nhớ về khuôn mặt người khác của tôi siêu lắm, tôi thừa biết chứ. Vài người bạn đã hỏi tôi sau đó rằng gã đó làm gì ở đấy. Có kẻ bảo với tôi rằng hắn là bồi bàn của khách sạn này, nhưng tôi chẳng đời nào tin. Tôi chẳng rành gì về Grand Babylon cả; chốn phồn hoa này không phải gu của tôi, nhưng tôi nghĩ ngài chắc cũng chẳng đến nỗi sai bồi bàn của mình đi theo dõi khách khứa — trừ phi, tất nhiên là ngài sai hắn đóng giả bồi bàn; mà ngách này thì chẳng phục vụ ai cả, dù hắn nốc rượu thì chẳng thua kém ai.”

“Có lẽ tôi có thể làm sáng tỏ đôi chút về điều bí ẩn này,” Racksole nói. “Tôi xin nói cho ngài hay là tôi vốn đã biết gã đàn ông đó bén mảng tới buổi tiệc của ngài mà không có thiệp mời.”

“Làm sao mà ngài biết được cơ chứ?”

“Hoàn toàn do tình cờ thôi, ông Levi ạ, chứ chẳng phải do tôi đi điều tra. Hắn ta từng là bồi bàn tại khách sạn này — chính xác là bồi bàn trưởng — tên là Jules. Chắc hẳn ngài đã từng nghe danh hắn rồi chứ.”

“Còn lâu nhé,” ông Levi quả quyết phủ nhận.

“À!” Racksole lên tiếng, “Tôi cứ đinh ninh là ai cũng biết mặt Jules, hóa ra không phải vậy. Thôi thì, dù thế nào đi nữa, trước đêm diễn ra bữa tiệc của ngài, tôi đã sa thải Jules rồi. Tôi đã cấm tiệt hắn không được bước chân vào Babylon nữa.”

Nhưng vào chính buổi tối hôm đó, tôi lại chạm trán hắn ở đây — không phải trong Căn phòng Vàng, mà ngay tại khu vực khách sạn. Tôi gặng hỏi lý do vì sao hắn lại có mặt ở đây, và hắn tuyên bố mình là khách của ngài. Đó là tất cả những gì tôi biết về câu chuyện này, ông Levi ạ, và tôi vô cùng tiếc vì ngài lại nghĩ tôi là kẻ tiểu nhân đến mức đi cài một tên thám tử tư vào giữa những vị khách của ngài.”

“Thế này thì tôi hoàn toàn thỏa mãn rồi,” ông Sampson Levi nói sau một thoáng trầm ngâm.

“Tôi chỉ cần một lời giải thích, và tôi đã nhận được nó. Vài người bạn của tôi ở Phố Tài chính bảo rằng tôi có thể tin tưởng vào việc Theodore Racksole sẽ đi thẳng vào vấn đề, và tôi rất vui vì họ đã đoán đúng. Giờ thì quay lại chuyện gã Jules kia, tôi sẽ tự mình điều tra về hắn. Tôi có thể hỏi ngài lý do vì sao ngài lại sa thải hắn được chứ?”

“Tôi cũng chẳng rõ vì sao mình lại sa thải hắn nữa.”

“Ngài không biết ư? Ồ, thôi nào! Tôi chỉ hỏi vì nghĩ rằng ngài có thể hé lộ cho tôi dăm ba manh mối về việc tại sao hắn lại mặt dày xuất hiện không mời mà tới trong bữa tiệc của tôi. Xin lỗi nếu tôi hơi tò mò quá nhé.”

“Có gì đâu, ông Levi; nhưng thực tình là tôi không rõ. Tôi chỉ láng mòng cảm thấy hắn là một kẻ khả nghi. Tôi đuổi việc hắn theo trực giác, đại loại là thế. Hiểu ý tôi chứ?”

Không trả lời câu hỏi ấy, ông Levi lại ném ra một vấn đề khác. “Nếu cái tay Jules này nổi tiếng đến thế,” ông nói, “thì làm sao gã có thể hy vọng đột nhập vào bữa tiệc của tôi mà không bị nhận diện cơ chứ?”

“Chịu thua, tôi chẳng biết,” Racksole đáp gọn lỏn.

“Thôi, tôi phải đi đây,” câu nói tiếp theo của ông Sampson Levi vang lên. “Chào ngài, và cảm ơn nhé. Chắc ngài không tham gia thị trường Kaffir chứ?”

Mr Racksole mỉm cười lắc đầu.

“Tôi đoán thế mà,” Levi nói. “À mà bản thân tôi thì chẳng bao giờ dây dưa với đường sắt Mỹ cả, thế nên chắc chúng ta chẳng có dịp chạm mặt nhau đâu. Chào ngài nhé.”

“Chào ngài,” Racksole lịch sự đáp, bước theo ông Sampson Levi ra tận cửa.

Đang đặt tay lên nắm đấm cửa, ông Levi khựng lại, đoạn đăm đăm nhìn Theodore Racksole với một nụ cười ranh mãnh, đầy vẻ trêu chọc rồi cất lời:

“Dạo này ở đây xuất hiện khối chuyện lạ lùng nhỉ, phải không?”

Hai người đàn ông trân trân nhìn nhau đắm đuối trong suốt mấy giây liền.

“Đúng vậy,” Racksole thừa nhận. “Ngài biết điều gì à?”

“À — không, không hẳn,” ông Levi đáp. “Nhưng tôi có linh cảm rằng ngài và tôi có thể giúp ích cho nhau; tôi thoáng có cái cảm giác là lạ thế.”

“Quay lại đây ngồi xuống đi, ông Levi,” Racksole cất tiếng gọi, bị thu hút bởi sự bộc trực rõ mười mươi trong giọng điệu của gã đàn ông này. “Nào, chúng ta có thể giúp đỡ nhau ra sao đây? Tôi tự hào mình cũng là kẻ có mắt nhìn người, nhất là với những kẻ có máu mặt trong giới tài chính, và tôi nói thật với ngài — nếu ngài chịu lật ngửa bài ngửa ra, tôi cũng sẽ chơi đẹp với ngài y như thế.”

“Nhất trí,” ông Sampson Levi vang giọng. “Tôi sẽ bắt đầu bằng việc giải thích mối quan tâm của mình đối với khách sạn của ngài. Tôi vẫn đang ngóng chờ trát triệu tập từ một vị Hoàng tử Eugen xứ Posen nào đó để diện kiến ngài ấy ở đây, thế mà cái trát đó mãi vẫn chẳng thấy tăm hơi. Xem chừng như Hoàng tử Eugen chẳng hề đặt chân đến Luân Đôn tí nào. Trong khi đó, tôi dám đem mạng sống ra để thề rằng ngài ấy phải có mặt ở đây trễ nhất là vào ngày hôm qua.”

“Sao ngài lại quả quyết thế?”

“Có qua có lại mới toại lòng nhau,” Levi đáp. “Hãy dẹp mấy chuyện râu ria sang một bên trước đã, ông Racksole. Tại sao ngài lại mua lại cái khách sạn này thế? Đó là một câu đố hóc búa làm đau đầu khối kẻ bên Phố Tài chính suốt mấy ngày qua đấy. Tại sao ngài lại mua Grand Babylon? Và nước đi tiếp theo của ngài sẽ là gì?”

“Chẳng có nước đi nào tiếp theo cả,” Racksole thẳng thắn đáp, “và tôi sẽ kể cho ngài nghe lý do vì sao tôi mua khách sạn này; chẳng có gì phải giấu giếm cả. Tôi mua nó chỉ vì một cơn hứng chí ngẫu hứng.” Và rồi Theodore Racksole thuật lại tường tận cho gã người Do Thái nhỏ con mà ông bắt đầu nể trọng này nghe toàn bộ câu chuyện giao dịch với ông Felix Babylon. “Tôi đoán là,” ông nói thêm, “ngài thấy thật khó để thấu hiểu tâm trạng của tôi lúc thực hiện thương vụ đó.”

“Đâu có chí lý thế,” ông Levi nói. “Tôi đã từng mua một chiếc can-nô chạy điện trên sông Thames cũng với một tâm trạng tương tự như thế đấy, và hóa ra đó lại là một trong những món hời viên mãn nhất mà tôi từng tậu được. Vậy ra việc ngài làm chủ cái khách sạn này vào thời điểm hiện tại chỉ là một sự tình cờ thuần túy thôi sao?”

“Một sự tình cờ lãng xẹt — tất cả chỉ vì một miếng bò bít-tết và một chai bia Bass.”

“Hừm!” ông Sampson Levi lẩm bẩm, vừa đưa tay vuốt vuốt cái cằm ngấn mỡ của mình.

“Quay lại chuyện của Hoàng tử Eugen đi,” Racksole tiếp lời. “Tôi đã trông chờ Điện hạ hiển diện tại đây. Căn hộ Hoàng gia đã được chuẩn bị tươm tất sẵn sàng cho ngài ấy. Lẽ ra ngài ấy đã phải tới vào chính cái buổi chiều mà cậu thanh niên Dimmock qua đời. Nhưng ngài ấy chẳng hề xuất hiện, và tôi cũng chẳng hay biết lý do vì sao ngài ấy lỡ hẹn; tên tuổi của ngài ấy thậm chí còn chẳng thấy xuất hiện trên báo chí. Mục đích chuyến đi của ngài ấy đến Luân Đôn là gì, tôi hoàn toàn mù tịt.”

“Tôi sẽ tiết lộ cho ngài biết,” ông Sampson Levi nói, “ngài ấy đến đây để sắp xếp một khoản vay.”

“Một khoản vay quốc gia ư?”

“Không — một khoản vay cá nhân.”

“Từ ai?”

“Từ tôi, Sampson Levi. Ngài có vẻ ngạc nhiên nhỉ. Nếu ngài sống ở Luân Đôn lâu thêm chút nữa, ngài sẽ thừa biết rằng tôi chính là nhân vật mà vị Hoàng tử ấy thể nào cũng phải tìm đến. Có lẽ ngài không biết rằng ở mạn Throgmorton Street, người ta vẫn gọi tôi là ‘Tiệm cầm đồ của triều đình’, bởi tôi chuyên lo việc chạy chọt các khoản vay cho mấy vị tiểu vương tước hạng hai hạng ba ở Châu Âu. Tôi là một tay môi giới chứng khoán, nhưng công việc thực sự của tôi là bơm tiền cho một vài triều đình nhỏ bé ở Châu Âu đấy. Giờ thì tôi có thể bật mí cho ngài hay, vị Hoàng tử Thế tử xứ Posen đang khát tiền mặt — đúng một triệu bảng — và ngài ấy cần số tiền đó trước một thời hạn nhất định, đồng thời ngài ấy cũng thừa biết rằng nếu thương vụ không được chốt xong xuôi ở đây trước thời hạn đó thì ngài ấy sẽ chẳng tài nào xoay đâu ra tiền kịp nữa. Đó là lý do vì sao tôi lấy làm lạ khi ngài ấy vẫn chưa có mặt ở Luân Đôn.”

“Ngài ta cần một triệu để làm gì cơ chứ?”

“Trả nợ,” ông Sampson Levi đáp gọn lỏn.

“Nợ cá nhân của ngài ta á?”

“Dĩ nhiên rồi.”

“Nhưng ngài ta còn chưa đầy ba mươi tuổi cơ mà?”

“Thì sao chứ? Ngài ấy đâu phải là vị Hoàng tử Châu Âu duy nhất dám nợ ngầm tới cả triệu bạc chỉ trong chục năm trời đâu cơ chứ. Đối với một ông hoàng thì chuyện đó dễ như ăn bánh mì kẹp vậy.”

“Và tại sao ngài ta lại đột ngột quyết định thanh toán sạch sành sanh mấy khoản nợ đó thế?”

“Bởi vì Hoàng đế và phụ huynh của vị tiểu thư kia nhất quyết không cho phép ngài ấy cưới vợ cho đến khi trả hết nợ! Mà họ làm thế là quá chuẩn xác ấy chứ! Ngài ấy phải trưng ra một lý lịch sạch bóng, bằng không thì đừng hòng mơ đến chuyện Công chúa Anna xứ Eckstein-Schwartzburg được phong làm Vương phi xứ Posen. Cho đến tận lúc này, Hoàng đế vẫn chưa hề hay biết các khoản nợ của Hoàng tử Eugen chồng chất đến mức nào đâu. Nếu ngài ấy mà biết thì —!”

“Nhưng chẳng phải Hoàng đế sẽ nắm được thông tin về khoản vay dự kiến này hay sao?”

“Không nhất thiết phải biết ngay lập tức đâu. Vẫn có cách dàn xếp ổn thỏa mà. Hiểu ý tôi chứ?” Ông Sampson Levi cười phá lên. “Tôi đã từng dàn xếp trót lọt mấy vụ lắt nhắt kiểu này trước đây rồi. Sau khi kết hôn rồi thì có lỡ để lộ ra ngoài chút ít thì cũng chẳng sao. Hơn nữa, ngài thừa biết là gia tài của Công chúa Anna cũng thuộc hàng sụm sọp đấy chứ! Nào, ông Racksole,” ông nói thêm, đột ngột thay đổi giọng điệu, “ngài đoán xem Hoàng tử Eugen đã biến đi đằng nào rồi? Bởi vì nếu hôm nay ngài ấy không xuất hiện thì đừng mong húp được một triệu đó. Hôm nay là ngày cuối cùng rồi đấy. Ngày mai số tiền đó sẽ được điều chuyển đi nơi khác mất thôi. Dĩ nhiên là tôi không đơn độc tham gia vào thương vụ này, và những bằng hữu của tôi cũng có tiếng nói riêng của họ chứ bộ.”

“Ngài hỏi tôi xem tôi nghĩ Hoàng tử Eugen đã biến đi đâu á?”

“Chính xác.”

“Thế ra ngài cũng nghĩ ngài ấy bị mất tích thật à?”

Sampson Levi gật đầu. “Lắp ghép mọi manh mối lại với nhau,” ông nói, “thì tôi chắc chắn là thế. Vụ lùm xùm về cái thây ma của Dimmock quả là vô cùng kỳ quái — thực sự rất kỳ quái. Dimmock hóa ra lại là một người họ hàng đằng ngoại của dòng họ Posen đấy. Hiểu chứ? Hầu như chẳng ai biết chuyện đó đâu.”

Hắn từng được cất nhắc làm thư ký kiêm bạn đồng hành cho Hoàng tử Aribert, cốt chỉ để giữ hắn ở lại trong vòng tay gia đình hoàng tộc. Mẹ hắn là một phụ nữ người Ireland, mà điểm bất hạnh của bà là sở hữu một nhan sắc quá đỗi kiều diễm. Hiểu chứ?” (Ông Sampson Levi luôn miệng dùng cái từ kỳ quặc này mỗi khi đang ở cao hứng chuyện trò.) “Tôi tin chắc cái chết của Dimmock có dính líu ít nhiều đến sự biến mất của Hoàng tử Eugen.”

Điều duy nhất làm tôi nhức đầu không tài nào hiểu nổi chính là điểm này: Tại sao lại có kẻ muốn thủ tiêu Hoàng tử Eugen khỏi cõi đời này cơ chứ? Vị tiểu vương tội nghiệp ấy có kẻ thù nào trên đời này đâu cơ chứ. Nếu ngài ấy đã bị ‘tóm cổ’ như thiên hạ vẫn rỉ tai nhau, thì hà cớ gì mà ngài ấy lại bị ‘tóm’ chứ? Chẳng lẽ việc đó đem lại lợi lộc gì cho kẻ khác hay sao?”

“Thế không phải sao?” Racksole lặp lại, ánh mắt chợt lóe lên một tia sáng.

“Ý ngài là gì cơ chứ?” ông Levi hỏi dồn.

“Ý tôi là thế này: Giả sử có một vị hoàng tử nghèo kiết xác nào đó ở Châu Âu đang thèm thuồng được cưới Công chúa Anna cùng khối gia tài kếch xù của nàng ta, thì chẳng phải vị hoàng tử đó có động cơ to lớn trong việc ngáng đường khoản vay của ngài dành cho Hoàng tử Eugen đó sao? Chẳng phải hắn ta có lợi ích sát sườn trong việc khiến Hoàng tử Eugen bốc hơi — hay ít ra là biến mất trong một thời gian — đó sao?”

Sampson Levi trầm ngâm suy tính mất một lát.

“Ông Theodore Racksole,” cuối cùng ông ta cất lời, “tôi thực sự tin là ngài vừa điểm trúng huyệt rồi đấy.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Arnold Bennett

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.