Ý định tẩu thoát khỏi khách sạn bằng một chiếc xuồng hơi nước của ông Tom Jackson quả là xuất sắc về mặt lý thuyết, nhưng Theodore Racksole lại cho rằng chừng đó hãy còn chưa đủ.
Theodore Racksole đầy hứng khởi nhận định rằng giờ đây anh đã nắm được một manh mối rõ ràng và cụ thể để tóm gọn tay cựu bồi bàn của khách sạn Grand Babylon. Anh chẳng biết gì về Cảng London, nhưng bù lại, anh khá am hiểu về Cảng New York—một nơi tuy có quy mô hơi nhỏ hơn nhưng lại vô cùng phức tạp—và anh tin chắc rằng việc tóm lấy chiếc xuồng hơi nước của Jules không phải là nhiệm vụ quá khó khăn. Với những ai chưa thực sự quen thuộc, sông Thames cùng các bến cảng kéo dài từ Cầu London đến Gravesend trông giống như một vùng hoang mạc mênh mông và chưa có trên bản đồ, nơi mà người ta hoàn toàn có thể che giấu trót lọt ngay cả một con tàu ba cột buồm. Đối với những người ấy, ý định tìm kiếm một chiếc xuồng hơi nước trên sông chẳng khác nào mò kim đáy bể. Nhưng thực tế là có hàng trăm con người giữa Bến St Katherine và Blackwall hiểu rõ lòng sông Thames chẳng khác nào gia chủ thông thuộc khu vườn sau nhà họ; những kẻ có thể nhận diện hàng ngàn con tàu và gọi đúng tên chúng từ khoảng cách nửa dặm, nắm rõ từng chuyển động của tàu bè trên dòng sông lớn, biết tuốt mặt mũi các thuyền trưởng, kỹ sư, nhân viên sà lan, hoa tiêu, những người chèo thuyền có giấy phép lẫn đám vô lại không giấy phép từ Tháp London đến tận Gravesend và xa hơn thế nữa. Qua bàn tay của các chuyên gia sông Thames này, mọi sự kiện bất thường dù là nhỏ nhất trên mặt nước đều bị phát hiện và bàn tán; một chiếc thuyền nhỏ vừa đổi chủ là họ có thể đoán già đoán non về cái giá phải trả cũng như dự định của chủ mới đối với nó. Họ có thói quen ngắm sông chỉ vì sở thích, và họ bàn tán về mọi chuyện hệt như những bà nội trợ tụ tập quây quần trước hiên nhà vào buổi chiều tối. Nếu một phó thuyền trưởng của hãng Castle Liner bị sa thải, họ sẽ tường tận kể lại anh ta đã nói gì với thuyền trưởng, lão thuyền trưởng đáp lại ra sao, và cả hai đã khai báo thế nào trước Hội đồng; rồi sau khi kết thúc câu chuyện đó, họ sẽ vui vẻ chuyển sang bàn luận xem Bill Stevens đánh chìm chiếc sà lan ngoài vến West Indian Số 2 là do tai nạn hay cố ý.
Theodore Racksole không có cách nào xác thực chính xác chiếc xuồng hơi nước đã chở Tom Jackson trốn thoát. Trời đã đổ mây mù ngay sau nửa đêm kèm theo một làn sương mỏng, và anh chỉ kịp nhận ra đó là một chiếc ghe thấp, dài khoảng sáu mươi bộ, có lẽ được sơn màu đen. Bản thân anh đã tự mình canh chừng suốt đêm các con tàu ngược dòng, và đến sáng hôm sau, anh giao lại việc đó cho một người khác với dặn dò hãy báo ngay cho anh mỗi khi có chiếc xuồng hơi nước nào chạy hướng về phía Westminster. Vào buổi trưa, sau cuộc trò chuyện với Hoàng tử Aribert, anh thuê một chiếc thuyền chèo xuôi dòng nước đến tận Tòa Hải quan, lùng sục khắp mọi ngõ ngách để tìm kiếm bất kỳ con tàu nào có khả năng chính là chiếc xuồng mà anh đang truy lùng.
Nhưng anh chẳng tìm thấy gì. Do đó, anh đoán chắc rằng chiếc xuồng bí ẩn đang neo đậu ở đâu đó phía hạ lưu Tòa Hải quan. Tại bậc thềm Tòa Hải quan, anh lên bờ và hỏi tìm một vị quan chức cấp cao—một nhân vật chỉ đứng sau Ủy viên—người mà anh từng khoản đãi một lần ở New York và đã gặp lại ở London trong một công chuyện tại sở giao dịch Lloyd’s. Trong căn phòng làm việc rộng nhưng u ám của nhân vật lớn này, một cuộc trò chuyện dài đã diễn ra; ở đó, Racksole phải vận dụng kha khá khả năng thuyết phục của mình, và cuối cùng cuộc gặp khép lại bằng tiếng chuông bấm của vị quan chức.
“Hãy bảo ông Hazell ở phòng 332 đến gặp tôi,” vị quan chức nói với cậu nhân viên vừa bước vào theo tiếng chuông, rồi quay sang Racksole: “Thưa ngài Racksole thân mến, chắc tôi không cần phải nhắc lại rằng đây hoàn toàn là việc tư.”
“Tất nhiên rồi,” Racksole đáp.
Ông Hazell bước vào. Anh là một thanh niên chừng ba mươi tuổi, mặc bộ đồ bằng vải sẹ màu xanh, gương mặt nhợt nhạt nhưng sắc sảo, để ria mép nâu và một bộ râu nâu khá bảnh bao.
“Ông Hazell,” vị quan chức cấp cao nói, “tôi xin giới thiệu ngài Theodore Racksole—chắc hẳn anh không lạ gì tên tuổi của ngài ấy. Còn anh Hazell đây,” ông quay sang nói với Racksole, “là một nhân viên ngoại tuyến của chúng tôi—hay còn gọi là sĩ quan kiểm tra. Hiện tại anh ấy đang làm ca đêm. Anh ấy có một chiếc thuyền trên sông cùng hai người phụ tá, và có quyền chặn khám bất kỳ tàu thuyền nào. Những gì mà anh Hazell và cộng sự của cậu ta không biết về sông Thames từ đây cho tới Gravesend thì chắc chắn không còn gì là kiến thức nữa.”
“Rất vui được gặp anh,” Racksole nói một cách giản dị, và họ bắt tay nhau.
Racksole hài lòng nhận thấy ông Hazell tỏ ra hoàn toàn thoải mái.
“Này Hazell,” vị quan chức tiếp lời, “Ngài Racksole muốn anh giúp trong một chuyến đi riêng tư trên sông vào tối nay. Tôi sẽ cho anh nghỉ ca đêm. Tôi gọi anh đến một phần vì nghĩ rằng anh sẽ thích thú với vụ này, phần khác vì tôi tin tưởng anh sẽ coi đây hoàn toàn là việc riêng và giữ kín nó. Anh hiểu chứ? Tôi dám chắc anh sẽ không phải hối tiếc vì đã giúp đỡ ngài Racksole đâu.”
“Tôi nghĩ mình nắm bắt được tình hình,” Hazell nói với một nụ cười nhẹ.
“Và nhân tiện,” vị quan chức nói thêm, “dù đây là việc riêng, tốt hơn là anh vẫn nên mặc áo khoác công vụ. Hiểu ý tôi chứ?”
“Chắc chắn rồi,” Hazell đáp; “dù thế nào thì tôi cũng sẽ làm vậy.”
“Và bây giờ, ông Hazell,” Racksole nói, “anh có bằng lòng đi ăn trưa với tôi không? Nếu được, tôi muốn chúng ta ghé quán quen thuộc của anh.”
Thế là Theodore Racksole và George Hazell, nhân viên ngoại tuyến của Sở Hải quan, đã cùng nhau dùng bữa trưa gồm sườn cừu và cà phê tại quán ‘Thomas’s Chop-House’ nằm trong thành phố London. Vị triệu phú nhanh chóng nhận ra mình đang tiếp xúc với một con người nhạy bén và sâu sắc.
“Nói tôi nghe xem,” Hazell lên tiếng khi họ chuyển sang hút thuốc lá, “mấy tay nhà văn viết tạp chí có miêu tả đúng chút nào không?”
“Ý anh là sao?” Racksole ngạc nhiên hỏi.
“Thì đấy, anh là triệu phú—‘một trong những người giàu nhất’, tôi tin là vậy. Người ta hay đọc các bài báo và bài phỏng vấn các triệu phú, miêu tả toa tàu riêng của họ, du thuyền hơi nước trên sông Hudson, chuồng ngựa lát cẩm thạch, vân vân và vân vân. Anh có những thứ đó không?”
“Tôi có một toa tàu riêng trên tuyến New York Central, và một chiếc du thuyền buồm hai ngàn tấn—dù nó không nằm trên sông Hudson. Hiện tại nó đang ở sông East River. Và tôi phải thừa nhận rằng chuồng ngựa ở dinh thự ngoại ô của tôi thực sự được lát cẩm thạch.” Racksole bật cười.
“A!” Hazell thốt lên. “Bây giờ thì tôi có thể tin rằng mình đang ăn trưa cùng một vị triệu phú rồi.
Thật kỳ lạ làm sao khi những chi tiết như thế—tự thân chúng chẳng có gì quan trọng—lại kích thích trí tưởng tượng đến vậy. Giờ thì anh trông giống một triệu phú đích thực trong mắt tôi rồi đấy. Anh vừa chia sẻ cho tôi một vài thông tin cá nhân; tôi cũng sẽ kể lại cho anh nghe vài điều. Tôi kiếm được ba trăm bảng một năm, cộng thêm khoảng sáu mươi bảng tiền làm ngoài giờ. Tôi sống một mình trong hai căn phòng ở Muscovy Court. Tôi có đủ số tiền mình cần, và ngoài giờ làm việc, tôi luôn làm bất cứ điều gì mình thích. Còn ở cơ quan, theo nguyên tắc là tôi làm việc ít nhất có thể—đó là cuộc đấu trí giữa chúng tôi và các Ủy viên xem ai khôn ngoan hơn. Họ tìm cách áp đảo chúng tôi, và chúng tôi cũng tìm cách qua mặt họ—nhìn chung thì cũng xem như kẻ tám lạng người nửa cân. Trong chiến tranh thì mọi thủ đoạn đều công bằng, anh biết đấy, và chẳng có mười điều răn nào tồn tại trong một cơ quan chính phủ cả.”
Racksole cười vang. “Chiều nay anh có thể nghỉ làm chứ?” anh hỏi.
“Chắc chắn rồi,” Hazell đáp; “tôi sẽ nhờ một đồng nghiệp điểm danh thay, thế là tôi được tự do.”
“Tốt lắm,” Racksole nói, “tôi muốn anh đi cùng tôi xuống khách sạn Grand Babylon. Khi đó chúng ta có thể thảo luận kỹ càng về rắc rối của tôi. Và chúng ta có thể đi bằng thuyền của anh chứ? Tôi muốn gặp các thuyền viên của anh.”
“Chuyện đó không thành vấn đề,” Hazell nhận xét. “Hai gã nhân viên của tôi là những kẻ lười biếng và vô tâm nhất mà anh từng thấy. Chúng ăn rất khỏe và cực kỳ thích uống bia; nhưng bù lại, chúng rành đường sông, thông thạo công việc, và sẽ làm bất cứ điều gì trong phạm vi chấp nhận được nếu được trả công hậu hĩnh mà không bị giục giã.”
Đêm đó, khi trời vừa sập tối, Theodore Racksole cùng người bạn mới George Hazell xuống một chiếc thuyền nhỏ sơn đen của Hải quan, do hai tay chèo điều khiển—cả hai đều là những người tự do lâu năm trên sông, một chức danh mang lại cho họ vài đặc quyền mà những kẻ chỉ biết đi trên cạn không hề có. Đó là một buổi tối u ám và oi bức, không một vì sao ló dạng để soi rọi dòng thủy triều đang chầm chậm rút xuống sau đỉnh điểm. Hình thù khổng lồ của những chiếc tàu hơi nước neo đậu—chủ yếu là tàu của hãng General Steam Navigation và Aberdeen Line—nhô cao khỏi mặt nước, ì ạch kéo căng các phao neo. Hai bên bờ, những bức tường nhà kho trần trụi sừng sững như vách đá xám bên dòng sông, chìa ra những chiếc cần cẩu hơi nước kỳ dị. Về phía tây, Cầu Tháp bắc ngang dòng sông với vòm cầu uy nghi, và phía trên là lối đi bộ lơ lửng—cách mặt đất một trăm năm mươi bộ.
Hòa vào màn đêm hướng về phía đông và vũng tàu Pool of London, một rừng ống khói và cột buồm mờ ảo hiện lên dưới bầu trời đầy đe dọa. Những chiếc sà lan khổng lồ, mỗi chiếc được điều khiển bởi một người duy nhất đứng bám lấy cặp mái chèo khổng lồ, lặc lè trôi xuôi dòng theo mọi góc độ. Thỉnh thoảng, một chiếc tàu lai thình lịch phịch chạy ngang, nhấp nháy đèn tín hiệu đỏ xanh và kéo theo sau cái đuôi sà lan cồng kềnh. Kế đến, một chiếc tàu chở khách đi Margate với ánh đèn điện lấp lánh từ mọi khung cửa sổ mạn tàu, tròng trành quay đầu thả neo cùng hai ngàn hành khách tham quan mệt mỏi. Trùm lên vạn vật là một bầu không khí đượm vẻ kỳ bí—một tinh thần và cảm giác xa lạ, cách biệt và khó tả. Khi chiếc thuyền nhỏ bè bè trôi bập bềnh dưới bóng của những thân tàu khổng lồ, luồn qua những sợi cáp căng và lướt qua những chiếc phao phủ đầy rêu xanh, Racksole hầu như không thể tin rằng mình đang ở ngay giữa trái tim của London—thành phố trần tục nhất trên thế giới. Anh có một cảm giác kỳ lạ rằng bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra giữa vùng nước hoang vu tưởng chừng như vô tận này vào thời điểm mười giờ đêm kỳ quái ấy. Thật khó tin đối với anh khi chỉ cách đó một hoặc hai dặm, người ta đang ngồi trong các nhà hát để cười vang trước những vở kịch vui, và ngay tại Ga Cannon Street cách đó vài thước, những người khác vẫn đang điềm tĩnh lên tàu về các khu ngoại ô vô cùng đáng kính mà anh đang dần quen tên. Anh trải qua cảm giác hưng phấn như lạc vào một thế giới khác, thứ cảm giác đôi khi đến với chúng ta giữa những khung cảnh hoàn toàn khác biệt so với môi trường sống thường nhật. Những âm thanh bình thường nhất—tiếng gọi nhau của những người lao động, tiếng dây xích chạy qua khe rãnh, tiếng còi tàu từ xa vọng lại—biến đổi trong tai anh thành những âm thanh rợn ngợp và ám ảnh, tràn ngập ý nghĩa điềm gở. Anh cúi người nhìn qua mạn thuyền xuống dòng nước nâu đục và tự hỏi những bí mật khủng khiếp nào đang ẩn giấu trong đáy sâu kia. Rồi anh thưa tay đút vào túi quần, chạm vào báng khẩu súng lục Colt—chất kim loại quen thuộc ấy phần nào an ủi tâm trí anh.
Những người chèo thuyền nhận được chỉ thị trôi chậm xuống vùng Pool, theo cách gọi đoạn sông rộng phía dưới Tháp London. Hai người này trước đó chưa được thông báo cụ thể về mục đích của chuyến đi, nhưng giờ đây, khi đã an toàn trên mặt nước, Hazell thấy cần thiết phải cho họ đôi chút khái niệm về công việc sắp tới. “Chúng ta đang hy vọng sẽ bắt gặp một chiếc xuồng hơi nước khả nghi,” anh nói. “Người bạn đi cùng tôi đây rất muốn tận mắt nhìn thấy nó, và cho đến khi anh ấy tìm ra thì chúng ta chưa thể làm gì cụ thể được.”
“Đó là loại ghe thuyền thế nào vậy thưa ngài?” tay chèo chính cất tiếng hỏi, hắn là một kẻ mặt béo phệ, trông có vẻ hoàn toàn không chịu nổi bất kỳ gắng sức nặng nhọc nào.
“Tôi không rõ,” Racksole đáp; “nhưng theo ước lượng của tôi thì nó dài khoảng sáu mươi bộ và sơn màu đen. Tôi đoán mình sẽ nhận ra khi nhìn thấy nó.”
“Dữ liệu thế thì ít quá chẳng dựa vào đâu được,” gã còn lại cộc cằn thốt lên. Nhưng hắn không nói gì thêm nữa. Cả hắn lẫn người bạn chèo đều vừa nhận được từ Theodore Racksole một đồng tiền vàng Anh như một khoản tiền công ứng trước, và một đồng tiền vàng Anh có sức mạnh vô biên trong việc dập tắt bản tính hay mỉa mai cùng thói quen ba hoa của những người chèo thuyền trên sông Thames.
“Có một chi tiết tôi vừa nhớ ra,” Racksole đột ngột lên tiếng, “và tôi suýt quên không nói với anh, ông Hazell. Cánh chân vịt của chiếc xuồng hình như chuyển động với nhịp đập hơi bất thường, kiểu như bị què quặt vậy.”
Cả hai người chèo thuyền đều bật cười.
“Ồ,” gã tay chèo béo phệ nói, “tôi biết anh đang tìm cái gì rồi thưa ngài—đó là chiếc xuồng của Jack Everett, thường được gọi là con ‘Squirm’. Nó dùng chân vịt bốn cánh nhưng đã bị gãy cụt mất một cánh.”
“Đúng thế, chắc chắn là nó rồi,” gã ngồi mũi thuyền tán thành. “Và nếu anh muốn tìm chính là nó, thì sáng nay tôi còn thấy nó neo đậu sát bến Cherry Gardens Pier.”
“Bằng mọi giá, chúng ta hãy đến bến Cherry Gardens Pier ngay lập tức,”
Racksole ra lệnh, và chiếc thuyền liền quăng lái cắt ngang dòng nước rồi bắt đầu lướt sát bờ phải, dò dẫm tiến qua những bến cảng—nơi mà ngay cả vào giờ đó, người ta vẫn đang bận rộn vận hành những chiếc cần cẩu lao xuống khoang trống rỗng của tàu rồi ngoi lên đầy ắp. Trong lúc hai người thợ chèo thận trọng điều khiển con thuyền xuôi theo dòng nước rút, Hazell giải thích cho vị triệu phú nghe rằng con ‘Squirm’ là một trong những phương tiện khét tiếng nhất trên sông. Hễ ai có mưu đồ mờ ám hay đen tối cần đến sự trợ giúp của đường thủy thì chiếc xuồng của Everett luôn sẵn sàng phục vụ nếu được trả mức giá phù hợp. Con ‘Squirm’ đã vướng vào hàng ngàn rắc rối, và rồi cũng thoát ra được một cách an toàn, dù không hẳn là vẻ vang cho lắm. Cảnh sát đường thủy luôn canh chừng nó, và điều kỳ diệu nhất trong toàn bộ câu chuyện này là lão chủ tàu Everett cho đến nay vẫn chưa từng bị dây dưa thực sự vào bất kỳ vụ bê bối phi pháp nào. Chưa một lần nào cơ quan công quyền chứng minh được điều gì rõ ràng chống lại chủ nhân của con ‘Squirm’, mặc dù vài kẻ từng thuê nó hiện đang thụ án trong các nhà tù khắp đất nước dưới sự quản lý của Nữ hoàng. Tuy nhiên, thời gian gần đây, chiếc xuồng với chân vịt bị hỏng mà Everett kiên quyết không chịu sửa chữa đã mang tiếng xấu ngay cả trong giới tội phạm, và hội nhóm này dần dà đã bỏ rơi nó để chuyển sang những phương tiện khó nhận diện hơn.
“Bạn của anh, ông Tom Jackson,” Hazell nói với Racksole, “đã mắc sai lầm về sự thận trọng khi thuê con ‘Squirm’. Một kẻ từng trải và tầm cỡ như hắn chắc chắn phải thừa khôn ngoan để không làm thế. Giờ thì anh chắc chắn sẽ tóm được manh mối thôi.”
Đến lúc này, con thuyền đang tiến gần đến bến Cherry Gardens Pier, nhưng ngặt nỗi một lớp sương mù ban đêm mỏng manh đã bao trùm mặt nước khiến người ta không thể nhìn rõ các vật thể ở khoảng cách xa hơn ba mươi thước. Khi chiếc thuyền Hải quan lướt qua bến tàu, những người trên thuyền đều căng mắt tìm kiếm bóng dáng chiếc xuồng bí ẩn nhưng chẳng thấy tăm hơi đâu. Con thuyền tiếp tục thả trôi lững lờ theo dòng nước, trong khi những người chèo thuyền ngơi tay.
Rồi họ suýt va phải một chiếc tàu buôn lớn của Na Uy đang neo đậu với phần mũi chỉ thẳng xuống hạ lưu. Họ vượt qua con tàu này ở mạn trái. Ngay khi vừa thoát khỏi cái mũi nhọn của nó, gã béo phệ kích động hét lên: “Kìa, mũi thuyền của nó kìa!”, rồi hắn bẻ lái cho thuyền quay ngược lại để chèo chống dòng nước. Và quả nhiên, chiếc ‘Squirm’ đang mất tích ấy đang neo đậu vô cùng kín đáo ở góc mạn phải phía sau của con tàu Na Uy, ẩn mình gọn gàng giữa thân tàu và bờ sông. Cả nhóm lặng lẽ chèo áp sát vào mạn.