“Có một chuyện, thưa Hoàng tử, chúng ta phải giải quyết cho dứt điểm ngay lập tức,” Theodore Racksole lên tiếng.
Cả ba người—Racksole, cô con gái và Hoàng tử Aribert—đang ngồi quanh bàn ăn trong một căn phòng riêng tại khách sạn Wellington. Racksole đã đến nơi đúng hẹn trên chuyến tàu buổi chiều và được hai người kia đón ngay tại bến cảng. Họ dùng bữa tối sớm, và Racksole đã được nghe toàn bộ câu chuyện về những cuộc phiêu lưu trên biển lẫn trên cạn của Nella cùng Hoàng tử. Về phần rắc rối của chính ông vào đêm hôm trước, ông kể lại rất ít, chỉ giải thích một cách vắn tắt nhất có thể rằng thi thể của Dimmock đã xuất hiện.
“Ý ngài là sao?” Hoàng tử hỏi, đáp lại lời của Racksole.
“Chúng ta phải quyết định xem có nên báo ngay cho cảnh sát mọi chuyện đã xảy ra hay không, hay là sẽ tự mình tiến hành điều tra. Không thể nghi ngờ gì về con đường chúng ta nên chọn. Mọi cân nhắc về sự cẩn trọng đều hướng đến việc nên đặt niềm tin nơi cảnh sát và phó mặc toàn bộ vụ việc vào tay họ.
“Ồ, Cha!” Nella bỗng thốt lên bằng cái giọng bĩu môi đầy bốc đồng của mình. “Hẳn là cha không thể nghĩ đến chuyện đó rồi. Vui thú mới chỉ bắt đầu mà thôi.”
“Con gọi sự việc đêm qua là vui thú sao?” Racksole hỏi, nhìn con gái với vẻ mặt nghiêm nghị.
“Vâng, con có đấy,” cô đáp ngay lập tức. “Bây giờ thì có.”
“Chà, còn ta thì không,” vị triệu phú đáp lại cụt lủn; nhưng có lẽ ông đang nghĩ đến hoàn cảnh của chính mình trong chiếc thang máy.
“Ngài không nghĩ rằng chúng ta có thể điều tra thêm một chút nữa sao,” Hoàng tử điềm đạm nói trong lúc bóc một quả óc chó, “chỉ thêm một chút nữa thôi—và rồi, nếu chúng ta không đạt được kết quả gì, vẫn còn thừa thời gian để tham vấn cảnh sát chứ?”
“Ý ngài đề xuất chúng ta nên bắt đầu thế nào?” Racksole hỏi.
“À, có cái ngôi nhà mà cô Racksole đã dũng cảm bước vào tối qua”—ông dành cho cô một cái nhìn đầy ngưỡng mộ; “ngài và tôi, ngài Racksole, chúng ta có thể khám xét căn nhà đó một cách tỉ mỉ.”
“Đêm nay á?”
“Chắc chắn rồi. Chúng ta có thể làm được điều gì đó.”
“Chúng ta có thể làm quá nhiều là đằng khác.”
“Chẳng hạn như?”
“Chúng ta có thể bắn nhầm ai đó, hoặc bị hiểu lầm là kẻ trộm. Nếu chúng ta vượt Thomas khuôn khổ pháp luật, thì việc hành động vì một mục đích tốt đẹp cũng chẳng thể cứu ta khỏi tội lỗi.”
“Đúng vậy,” Hoàng tử nói. “Tuy nhiên—” Ông khựng lại.
“Tuy nhiên ngài lại không thích lôi cảnh sát vào vụ này.
Ngài muốn tự mình giành lấy cuộc săn lùng này. Ngài đang sục sôi ngọn lửa nhiệt huyết của kẻ đuổi bắt. Chẳng phải thế sao? Hãy nghe lời khuyên của một người lớn tuổi, thưa Hoàng tử, và hãy ngủ một giấc qua vụ này đi. Tôi chẳng mặn mà gì với những cuộc phiêu lưu ban đêm hai đêm liên tiếp đâu. Còn con nữa, Nella, lui về phòng đi ngủ đi. Hoàng tử và ta sẽ trò chuyện dăm ba câu bên mấy thứ đồ uống có thể kiếm được ở cái xó xỉnh này.”
“Cha,” cô nói, “đêm nay cha thật là khó ưa.”
“Có lẽ ta đúng là thế,” ông đáp. “Quả thực ta rất giận con vì đã tự ý sang đây một mình. Thật là ngốc nghếch. Giá như ta không phải là một người cha dại dột nhất—Thôi nào! Chúc con ngủ ngon. Đợi đã chín giờ rồi. Hoàng tử chắc chắn sẽ thông cảm cho con thôi.”
Nếu Nella không thực sự rất mệt mỏi, thì Hoàng tử Aribert đã có dịp chứng kiến một cuộc giằng co đầy thiện chí nhưng vô cùng bướng bỉnh giữa vị triệu phú và cô con gái cứng đầu của ông. Nhưng ngặt nỗi, Nella đã rút lui với sự ngoan ngoãn đến ngạc nhiên, và hai người đàn ông bị bỏ lại một mình.
“Bây giờ,” Racksole đột ngột đổi giọng, “tôi nghĩ là xét cho cùng tôi vẫn sẽ đồng hành cùng ngài trong một cuộc điều tra nghiệp dư vào đêm nay. Và nếu phải nói thật lòng, tôi nghĩ việc ngủ qua vụ này sẽ là điều tồi tệ nhất mà chúng ta có thể làm. Nhưng tôi vốn lo lắng muốn giữ Nella tránh xa hiểm họa, ít nhất là cho đến ngày mai. Con bé là một sinh vật rất khó bảo, thưa Hoàng tử, và tôi xin cảnh báo ngài,” ông cười khan một tiếng, “rằng nếu tối nay chúng ta thực sự làm được gì đó, thì sáng mai kiểu gì chúng ta cũng bị tiểu thư nhà tôi mắng cho tơi bời. Ngài đã sẵn sàng chịu rủi ro đó chưa?”
“Tôi sẵn sàng,” Hoàng tử mỉm cười. “Nhưng cô Racksole quả là một thiếu nữ có thần kinh thép.”
“Đúng vậy,” Racksole khô khan đáp. “Đôi khi tôi ước gì con bé bớt gan dạ đi một chút.”
“Tôi dành sự ngưỡng mộ cao nhất cho cô Racksole,” Hoàng tử nói, và ông nhìn thẳng vào mặt người cha của cô.
Racksole nhận xét: “Ngài quá khen, thưa Hoàng tử. Giờ chúng ta hãy quay lại công việc chính đi. Tôi có đoán đúng không khi cho rằng ngài có lý do để không muốn dính líu cảnh sát vào vụ này, nếu có thể tránh được?”
“Vâng,” Hoàng tử nói, trán mày tối sầm lại. “Tôi vô cùng lo sợ rằng đứa cháu bất hạnh của tôi đã vướng vào một thứ rắc rối nào đó mà nó không muốn bị phơi bày.”
“Vậy ngài không tin rằng nó là nạn nhân của một âm mưu đen tối sao?”
“Tôi không tin.”
“Và lý do là gì, nếu tôi có thể hỏi?”
“Ngài Racksole, chúng ta đang nói chuyện trong vòng bí mật—phải vậy không? Vài năm trước, đứa cháu ngốc nghếch của tôi từng có một mối tình—một mối tình với một ngôi sao nữ của sân khấu Berlin. Biết đâu được, người phụ nữ ấy có thể là hiện thân cho sự đoan trang của phái đẹp, nhưng một khi đã dính líu đến một vị Hoàng tử đương triều thì những chuyện tai tiếng kiểu này là không thể tránh khỏi. Tôi tưởng rằng mọi chuyện đã chấm dứt hoàn toàn, nhất là khi lễ đính hôn giữa cháu tôi với Công nương Anna xứ Eckstein-Schwartzburg sắp được công bố. Thế nhưng ngày hôm qua, tôi đã nhìn thấy người phụ nữ mà tôi vừa nhắc tới đang lái xe trên đại lộ Digue. Sự trùng hợp về sự hiện diện của cô ta ở đây cùng với sự mất tích của cháu tôi là quá bất thường để có thể bỏ qua.”
“Nhưng lý thuyết này ăn nhập thế nào với vụ sát hại Reginald Dimmock?”
“Nó chẳng ăn nhập gì cả. Ý kiến của tôi là vụ sát hại tội nghiệp Dimmock và sự việc cháu tôi biến mất hoàn toàn không có liên quan gì với nhau—trừ khi, quả thực nữ diễn viên người Berlin này đang nhúng tay giúp sức cho bọn sát thủ. Tôi đã không nghĩ đến điều đó.”
“Vậy ngài dự định làm gì vào đêm nay?”
“Tôi dự định sẽ bước vào ngôi nhà mà cô Racksole đã đột nhập tối qua để tìm ra một điều gì đó xác thực.”
“Tôi đồng ý,” Racksole nói. “Tôi sẽ rất hào hứng tham gia. Nhưng để tôi nói cho ngài biết, thưa Hoàng tử, xin lỗi vì tôi nói thẳng, phỏng đoán của ngài không chính xác đâu. Tôi dám cá một trăm ngàn đô-la rằng Hoàng tử Eugen đã bị bắt cóc.”
“Ngài có căn cứ gì mà chắc chắn đến vậy?”
“A!” Racksole thốt lên, “đó là cả một câu chuyện dài. Hãy để tôi bắt đầu bằng câu hỏi này.
Ngài có biết rằng đứa cháu trai của ngài, Hoàng tử Eugen, đang nợ một triệu đồng không?”
“Một triệu đồng cơ á!” Hoàng tử Aribert kinh ngạc kêu lên. “Không thể nào!”
“Thế mà lại có đấy,” Racksole điềm tĩnh nói. Sau đó, ông kể lại cho Hoàng tử toàn bộ những gì mình đã thu thập được từ ông Sampson Levi.
“Ngài nói sao về điều đó?” Racksole kết luận. Hoàng tử Aribert không đáp.
“Ngài nói sao về điều đó?” Racksole gặng hỏi.
“Chỉ là Eugen đã khánh kiệt rồi, ngay cả khi nó còn sống.”
“Không hẳn đâu,” Racksole vui vẻ đáp lại. “Không hẳn thế đâu. Chúng ta sẽ chờ xem. Điều duy nhất tôi muốn biết từ ngài lúc này là:
Đã từng có lời cầu hôn nào trước đó được gửi đến Công nương Anna chưa?”
“Rồi. Năm ngoái. Quốc vương Bosnia đã cầu hôn, nhưng đề nghị của ngài ấy đã bị từ chối.”
“Tại sao?”
“Bởi vì cháu tôi được cho là một tấm lương duyên phù hợp hơn với cô ấy.”
“Không phải vì nhân phẩm của bệ hạ xứ Bosnia chẳng lấy gì làm sáng sủa cho lắm sao?”
“Không. Thật không may là người ta thường không thể cân nhắc đến vấn đề nhân phẩm khi liên quan đến một cuộc hôn nhân hoàng gia.”
“Vậy thì, nếu vì lý do nào đó mà cuộc hôn nhân giữa Công nương Anna với cháu ngài bị phá hỏng, Quốc vương Bosnia sẽ có cơ hội lớn ở vạch đích đó chứ?”
“Đúng vậy. Khía cạnh chính trị của mọi chuyện sẽ hoàn toàn thỏa mãn.”
“Cảm ơn ngài!” Racksole nói. “Tôi dám cá thêm một trăm ngàn đô-la nữa rằng có kẻ nào đó ở Bosnia—tôi không buộc tội chính Quốc vương đâu—đang nhúng tay đứng sau vụ này. Các thủ đoạn của giới chính trị gia vùng Balkan vẫn luôn mang nửa phần màu sắc phương Đông. Chúng ta đi thôi.”
“Đi đâu?”
“Đến cái ngôi nhà quý giá trong cuộc phiêu lưu của Nella ấy.”
“Nhưng chẳng phải còn quá sớm sao?”
“Đúng thế,” Racksole nói, “và chúng ta cũng cần vài thứ nữa. Chẳng hạn như một chiếc đèn pin tối. Tôi nghĩ mình sẽ ra ngoài để kiếm một cái đèn.”
“Và một khẩu súng lục nữa chứ?” Hoàng tử Aribert gợi ý.
“Phải dùng đến súng lục cơ à?” Vị triệu phú bật cười. “Biết đâu lại cần đến.”
“Của ngài đây, anh bạn,” Racksole nói, và ông rút một khẩu súng từ túi áo khoác bên hông ra. “Còn của ngài thì sao?”
“Tôi ư,” Hoàng tử nói, “tôi đang cầm súng của con gái ngài đây.”
“Quỷ tha ma bắt, ngài cầm thật á!” Racksole lẩm bẩm trong miệng.
Lúc đó là chín giờ rưỡi. Họ quyết định rằng việc hành động trước nửa đêm là không khôn ngoan chút nào. Họ vẫn còn ba tiếng đồng hồ để thong thả.
“Chúng ta hãy đi xem đánh bạc đi,” Racksole đề xuất. “Biết đâu lại chạm trán mụ đàn bà người Berlin đó.”
Ban đầu, gợi ý này không được đưa ra một cách nghiêm túc, nhưng cả hai người đều thấy rằng họ có thể làm vài việc tiêu khiển tốt hơn là phí thời gian trong sảnh đường nguy nga của Kursaal—nơi mà vào mùa cao điểm, lượng tiền thắng thua nhiều không kém gì ở Monte Carlo. Đồng hồ vừa điểm mười giờ khi họ bước vào phòng. Có rất một lượng lớn khách khứa hiện diện—một đám đông bao gồm cả những nhân vật khét tiếng nhất châu Âu. Trong cái cộng đồng đa dạng ấy, tất cả đều bình đẳng. Ánh đèn điện rọi xuống một cách lạnh lùng và vô tư đối với cả kẻ thiện lẫn người ác, kẻ ngu ngốc lẫn tên bịp bóm, người châu Âu lẫn kẻ phương Đông. Như thường lệ, phụ nữ chiếm trọn những vị trí đẹp nhất quanh các bàn chơi.
Cảnh tượng này quá quen thuộc với Hoàng tử Aribert, kẻ từng chứng kiến nó vô số lần ở Monaco, nhưng Theodore Racksole thì chưa từng đặt chân đến bất kỳ súng bạc châu Âu nào; ông chỉ có một khái niệm mờ mịt nhất về luật chơi, và ông nhanh chóng bị thu hút. Một lúc lâu sau, họ đứng quan sát ván bài ở cái bàn nằm gần họ nhất. Racksole không hề mớm một lời.
Với đôi mắt dán chặt vào bàn chơi và đôi tai lắng nghe mọi lời bàn tán của người chơi cùng người xốc sắc (croupier), ông đã có bài học nhập môn đầu tiên về trò roulette. Ông thấy một thiếu niên tay trắng vớ được mười lăm nghìn quan, để rồi bị một ả đàn gái má phấn lòe loẹt lớn tuổi hơn cậu ta đôi chút nẫng tay trên một cách trơ trẽn; ông thấy hai tay cược già đặt tiền, thua sạch, rồi lủi thủi bước ra khỏi sảnh trong yên lặng; ông thấy nhà cái vơ gọn năm mươi nghìn quan chỉ sau một vòng quay.
“Trò này cũng khá vui đấy chứ,” cuối cùng ông lên tiếng, “nhưng mức cược nhỏ quá nên chẳng đủ thấy phấn khích thực sự. Tôi sẽ thử vận may xem sao, coi như lấy kinh nghiệm. Kiểu gì tôi cũng thắng cho mà xem.”
“Tại sao?” Hoàng tử hỏi.
“Bởi vì tôi luôn luôn thắng trong các trò chơi may rủi,” Racksole đáp với sự tự tin ngời ngời. “Đó là định mệnh của tôi. Hơn nữa tối nay, ngài phải nhớ rằng tôi là một kẻ nhập môn, và ngài biết vận may của chiếu mới rồi đấy.”
Chỉ trong vòng mười phút, người xốc sắc ở bàn đó buộc phải tạm ngừng cuộc chơi để chờ người ta mang thêm tiền mặt tới bổ sung.
“Tôi nói có sai đâu nào?” Racksole vừa nói vừa dẫn đường tiến về một chiếc bàn khác ở phía trên phòng. Hàng trăm ánh mắt tò mò dõi theo bước chân ông. Một bà già nọ, với bộ trang phục sặc sỡ làm lộ rõ sự cố chấp níu kéo tuổi xuân, bỗng cất lời bằng tiếng Pháp xin ông đặt cược hộ một đồng năm quan. Bà chìa đồng tiền ra. Ông nhận lấy và đổi lại cho bà một tờ ngân phiếu một trăm quan. Bà ta vồ lấy tờ giấy giòn tan sột soạt, rồi với vẻ vội vã cuống cuồng, lủi nhanh về bàn của mình.
Ở chiếc bàn thứ hai, không khí vô cùng náo nhiệt và kích thích. Đứng ở hàng đầu của những người chơi là một người phụ nữ mặc chiếc đầm dạ hội khoét sâu bằng lụa đen và đội chiếc mũ rộng vành màu đỏ sẫm. Tuổi đời của ả ta có lẽ khoảng hai mươi tám; đôi mắt thâm quầng, đôi môi dày, và một chiếc điều mũi mang đặc điểm rõ rệt của người Do Thái. Ả ta rất ưa nhìn, nhưng vẻ đẹp ấy lại mang sắc thái lạnh lùng, hiểm ác mà người ta thường gọi là vẻ đẹp kiểu Juno. Người phụ nữ này chính là tâm điểm của sự chú ý. Người ta thì thầm với nhau rằng ả đã thắng tới một trăm sáu mươi nghìn quan vào ngày hôm đó tại sòng.
“Ngài đã đoán đúng,” Hoàng tử Aribert thì thầm vào tai Theodore Racksole; “đó chính là mụ đàn bà người Berlin.”
“Quỷ tha ma bắt! Ả ta đã thấy ngài chưa? Liệu ả có nhận ra ngài không?”
“Chắc là ả sẽ nhận ra tôi, nhưng hiện tại ả vẫn chưa ngẩng đầu lên.”
“Vậy thì hãy đứng nấp sau lưng ả. Tôi định tìm cho ả chút việc để làm đây.” Bằng một chút ngoại giao được tính toán kỹ lưỡng, Racksole khéo léo chen chân vào một chiếc ghế đối diện với người phụ nữ đội mũ đỏ. Tiếng tăm về chiến tích thắng lớn ở chiếc bàn trước đã lan theo bước chân ông, khiến người ta nhìn ông như một tay chơi cừ khôi và đáng gờm. Ở ván đầu tiên, người phụ nữ đặt một nghìn quan vào ô số không kép; Racksole đặt một trăm quan vào số mười chín và một nghìn vào các ô số lẻ.
Số mười chín trúng. Racksole nhận được bốn nghìn bốn trăm quan. Chín lần liên tiếp, Racksole đặt cược vào số mười chín và các số lẻ; chín lần người phụ nữ đặt vào ô số không kép. Chín lần Racksole thắng còn ả ta thua sạch. Những người chơi khác nhận ra rằng cuộc đấu đã biến thành một trận chiến tay đôi, bèn lùi lại phía sau hầu hết để đứng quan sát hai người họ. Hoàng tử Aribert không hề dịch chuyển khỏi vị trí sau chiếc mũ đỏ lớn. Trò chơi tiếp tục diễn ra. Racksole đôi lúc có thua những khoảnn vặt vãnh, nhưng chín mươi chín phần trăm vận may đứng về phía ông. Đúng như một khán giả người Anh ở bàn chơi đã nhận xét, “ông ta làm gì cũng đúng.” Khi đồng hồ điểm nửa đêm, người phụ nữ đội mũ đỏ chỉ còn vỏn vẹn một nghìn quan trong tay. Sau đó, ả ta gặp chuỗi đỏ trong nửa tiếng, nhưng đến một giờ sáng thì tài nguyên đã cạn kiệt. Trong tổng số một trăm sáu mươi nghìn quan mà người ta đồn ả kiếm được vào đầu buổi tối, Racksole ôm trọn khoảng chín mươi nghìn, phần còn lại thuộc về sòng bạc.
Đó là một thảm họa đối với nàng Juno đội mũ đỏ. Ả ta vùng dậy, giậm chân thình thịch và hầm hầm bỏ đi khỏi phòng. Racksole và Hoàng tử giữ một khoảng cách kín đáo để bám theo sau.
“Có lẽ nên xác định xem ả định đi đâu,” Racksole nói.
Bên ngoài, dưới ánh chói lọi của những cột đèn hồ quang lớn và hòa lẫn trong tiếng sóng vỗ rì rào ngay sát chân tòa Kursaal, nàng Juno đội mũ đỏ gọi một chiếc xe ngựa và nhanh chóng phóng đi. Racksole cùng Hoàng tử thuê một cỗ xe mui trần rồi bắt đầu đuổi theo. Tuy nhiên, họ đi chưa được nửa dặm thì Hoàng tử Aribert bảo dừng xe, ra hiệu cho Racksole bước xuống, trả tiền công rồi cho người đánh xe quay về.
“Tôi chắc chắn biết ả đang đi đâu,” ông giải thích, “và chúng ta đi bộ theo sau sẽ tốt hơn.”
“Ý ngài là ả đang quay lại hiện trường vụ việc tối qua?” Racksole hỏi.
“Chính xác. Chúng ta sẽ—đúng như cách ngài hay nói, nhất cử lưỡng tiện.”
Phỏng đoán của Hoàng tử Aribert hoàn toàn chính xác. Chiếc xe của người phụ nữ dừng lại ngay trước ngôi nhà nơi Nella Racksole và cô Spencer từng có cuộc đối chất vào tối hôm trước, và ả ta biến mất vào bên trong tòa nhà đúng lúc hai kẻ theo dõi vừa xuất hiện ở đầu phố. Thay vì đi dọc theo con đường đó, Hoàng tử dẫn Racksole vào con hẻm thông ra phía sau những ngôi nhà, vừa đi họ vừa đếm số nhà dọc theo lối hẻm. Chỉ trong vài phút, họ đã trèo qua một bức tường một cách đầy lén lút, rồi cẩn trọng hết mức bò qua một mảnh đất dài và hẹp—nửa làm vườn, nửa lát đá—cho đến khi nép người ẩn nấp dưới một khung cửa sổ—cửa sổ được che rèm kín đáo nhưng vẫn để hở một khoảng nhỏ.
“Lắng nghe này,” Hoàng tử thì thầm rất khẽ, “họ đang nói chuyện kìa.”
“Ai thế?”
“Mụ người Berlin và cô Spencer. Tôi chắc chắn đó là giọng của cô Spencer.”
Racksole mạnh dạn đẩy cánh cửa sổ kiểu Pháp ra rộng thêm chút nữa và áp tai vào khe hở, nơi có một luồng sáng vàng rọi qua.
“Đổi chỗ cho tôi đi,” ông thì thầm với Hoàng tử, “họ đang nói tiếng Đức. Ngài sẽ hiểu rõ hơn đấy.”
Họ im lặng đổi chỗ cho nhau dưới khung cửa sổ, và Hoàng tử chăm chú lắng nghe.
“Thế ra cô từ chối à?” Vị khách của cô Spencer đang nói.
Không có tiếng trả lời từ cô Spencer.
“Ngay cả một nghìn quan cũng không ư? Tôi đã bảo là tôi mất toi cả hai mươi lăm nghìn rồi cơ mà.”
Lại vẫn sự im lặng.
“Vậy thì tôi sẽ kể hết mọi chuyện,” người phụ nữ tiếp tục, tuôn ra một tràng đầy giận dữ. “Tôi đã làm đúng những gì mình hứa. Tôi đã dụ hắn đến đây, và các người đã nhốt gọn hắn trong cái tầng hầm tồi tệ của các người rồi đấy, cái gã đàn ông tội nghiệp bé nhỏ ấy, thế mà các người lại tiếc với tôi một nghìn quan quèn sao.”
“Cô đã nhận đủ số tiền công của mình rồi.” Đó là giọng của cô Spencer. Những lời ấy rơi xuống bầu không khí ban đêm một cách lạnh lùng và điềm tĩnh.
“Tôi muốn thêm một nghìn nữa.”
“Tôi không có.”
“Thế thì chúng ta cứ chờ xem.”
Hoàng tử Aribert nghe thấy tiếng vải sột soạt của những tà váy đang vụt chạy; rồi một chuyển động khác—một cánh cửa đóng sầm lại, và chùm ánh sáng rọi qua khe cửa sổ bỗng nhiên biến mất. Ông đẩy tung cánh cửa sổ rộng ra. Căn phòng chìm trong bóng tối và có vẻ như chẳng có ai.
“Lôi cái đèn pin của ngài ra đây nào,” ông háo hức nói với Theodore Racksole, sau khi đã dịch lại cuộc trò chuyện của hai người phụ nữ cho ông nghe. Racksole lấy chiếc đèn pin tối từ trong chiếc túi rộng thùng thình của chiếc áo khoác bụi và bật sáng. Quầng sáng quét khắp mặt đất.
“Cái gì thế kia?” Hoàng tử Aribert kêu lên một tiếng bất ngờ, chỉ tay xuống nền nhà. Chiếc đèn pin chiếu thẳng vào một tấm lưới sắt đặt thẳng đứng ngay dưới chân họ, qua đó người ta có thể nhìn thấp thoáng một căn hầm. Cả hai cùng quỳ rạp xuống và dòm ngắm vào không gian tối tăm dưới lòng đất. Trên một chiếc ghế gãy, một thanh niên đang ngồi vật vờ với đôi mắt nhắm nghiền, đầu gục nặng trĩu về phía trước ngực.
Dưới ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn pin, anh ta mang một vẻ tái nhợt và kinh hoàng hệt như một cái xác chết.
“Đó là ai thế nhỉ?” Racksole thốt lên.
“Là Eugen,” Hoàng tử khẽ đáp.