Tôn Tử xưa nay vẫn thoải mái và phóng khoáng, nhàn tản tự do, đúng như người ta nói “áo ướt thì không vướng”. Trong đời ông có ba thứ đam mê, một là chơi cờ vây, hai là gảy đàn, ba là múa kiếm. Giữa ông với Hạp Lư, chẳng những phối hợp với nhau rất ăn ý, nhịp nhàng trên chính trị, mà còn là đôi bạn cờ chí thân. Hai người đấu cờ với nhau, thế nào Ngô vương cũng thua nhiều hơn, nhưng hễ có Tôn Tử ở bên cạnh, Hạp Lư đánh cờ lại thấy ngoài ông không ai hơn, bởi vì Tôn Tử đánh cờ, tức là bài bình bố trận, chính trong một khoảnh gang tấc ấy, đã chỉ huy thiên binh vạn mã, lần nào Hạp Lư cũng đều thấy có thu lượm được ít nhiều, ngày một ngày hai, về mặt thao luyện binh lính, tự thấy sáng sủa và được nâng cao lên rất nhiều. Nơi ở của Tôn Tử cũng luôn không bao giờ ngớt tiếng đàn, cho dù là quân đội hai bên đang kịch chiến, máu đẫm chiến trường, cũng vẫn có tiếng đàn từ trong trướng quân, từ trong phòng ngủ của ông vọng ra, tiếng đàn ấy lúc thì du dương, khi thì giục giã, lúc thì dịu dàng, khi thì dồn dập, tiếng đàn như gửi gắm sự lý giải và thái độ của ông với cuộc chiến tranh này, nếu lúc này có ai đó lén vào cửa phòng, thì sẽ thấy Tôn Tử ngồi sau giá đàn, mắt chăm chú nhìn, đầu lắc lư, miệng lẩm bẩm hát thầm. Còn như múa kiếm, là thói quen, là tài nghệ luyện tập hình thành từ ngày còn bé, dưới sự dạy dỗ rủ rê của ông nội và sự bắt buộc của cha mình, Tôn Tử chưa bao giờ để gián đoạn, ngày nay đã là một nguyên soái, nắm cả một ngành quân sự của đất nước, việc múa kiếm còn trở nên sự cần thiết của nghề nghiệp. Tuy nhiên, những ngày gần đây Tôn Tử lại tỏ ra có điều khác thường, ông bỗng nhiên trở nên tâm tư nặng nề, ánh mắt đờ đẫn, vẻ mặt u uất, bước chân thất thểu thường lang thang đi khắp hang cùng ngõ hẻm. Hạp Lư nhiều lần sai nội thị đến tận soái phủ mời ông vào cung đánh cờ, nhưng lần nào cũng bị ông khéo léo chối từ. Đàn của ông đã đứt giây, giọng hát của ông cũng khê đặc lại rồi, tiếng đàn mà mọi người vẫn nghe quen, đã lâu không bay ra khỏi bức tường cao của phủ nguyên soái, tựa hồ như cây đàn bảy dây cũng cần nằm một chỗ ngủ đông. Chỉ có múa kiếm là thỉnh thoảng thấy Tôn Vũ vẫn làm, nhưng không phải như trước đó vài ngày là nghe gà gáy mà dậy múa kiếm như trước. Bởi vì gần đây ông thường hay mất ngủ, đêm nào cũng trằn trọc, tới sáng không hề chợp mắt. Với Tôn Tử mà nói, mất ngủ là chuyện rất hiếm thấy, ngay cả lúc gia đình gặp chuyện chẳng lành, buộc phải lếch thếch trốn sang nước Ngô, thì ông vẫn cứ đặt mình là ngủ, dù ở trong rừng, trên cát đá… khoanh tay làm gối, nằm xuống là ngáy ran như sấm. Thế nhưng lúc này, đêm nào mi mắt cũng cứng đờ, tròng mắt thì cứ chong chong, nằm trên đệm bông mà cứ như nằm trên gai nhọn, thức như thế đến gần sáng, mới hơi thấy buồn ngủ, bởi thế việc múa kiếm buổi sáng cũng chỉ có thể buổi đực buổi cái. Linh hoạt của Tôn Tử mất điều hoà, trạng thái tinh thần cung thất thường như thế là nguyên do tại sao, Hạp Lư và quần thần, không ai là không rõ như ban ngày.
Sau cuộc hội họp ở Thiệu Lăng, liên quân mười tám nước để đánh Sở bị chết yểu, Thái hầu ôm hận mà về. Dọc đường về đã tiêu diệt nước Thẩm[1] là nước phụ thuộc của nước Sở không tham dự cuộc họp Thiệu Lăng, bắt sống Thẩm hầu Gia, sau khi về nước đã đem giết đi. Mùa thu năm ấy, lệnh doãn nước Sở là Nang Ngoã đem quân đi đánh nước Thái, Thái hầu sai sứ thần sang nước Ngô cáo cấp. Tôn Tử thấy điều kiện một cuộc tấn công nước Sở toàn diện đã chín muồi, đã bàn với Hạp Lư và Ngũ Tử Tư là sẽ lấy cớ giúp nước Thái, dấy đại quân đánh Sở hỏi tội, để thực hiện lý tưởng ôm ấp nhiều năm nay. Không lâu nữa, cuộc chiến đấu diệt nước Sở để vào Sính đô sẽ bắt đầu, trước cuộc chiến đấu, Tôn Tử cần phải, phác ra phương châm và chiến lược, cũng như phương án và biện pháp chiến đấu cụ thể, phải làm sao thật chu đáo và chặt chẽ và kín kẽ, đó là một việc lớn quan hệ đến sự mất còn của nước Ngô, nước Sở, đến hàng vận sinh mạng và vận mệnh, tiền đồ của thiên hạ, gánh nặng ngàn cân ấy đè lên vai Tôn Tử, ông làm gì mà chẳng thấy nặng tựa Thái Sơn.
Một đêm trời cuối thu, Tôn Tử nằm trên giường, trằn trọc trăn trở như mọi ngày, trong lòng ông cũng như trong trí óc ông, lúc thì kết lại thành một cục băng, lúc lại tan ra thành dòng thác cao muôn trượng, bỗng nhiên trước mắt ông bỗng mờ ảo hiện ra cảnh mùa xuân ngàn tía muôn hồng, rồi trong nháy mắt xuân qua thu lại, khắp núi khắp đồng, ngô lúa ngập bờ, hoa trái tốt tươi, quả chín trĩu trên cành nào đỏ, nào vàng, nào trong suốt, lấp láy… mới đầy đặn biết bao, mới chắc nịch biết bao. Không thể nằm thêm được nữa, Tôn Tử bật dậy như một con cá quẫy, ông nhổm bật ra khỏi giường, châm sáng ngọn nến còn một nửa ở đầu giường, vội vàng vơ lấy mảnh áo khoác lên trên mình, cầm cả chiếc cây nến đi vào thư phòng. Dưới ánh nến chập chờn, mọi thứ trong thư phòng xem ra có vẻ tươi sáng rực rỡ hơn, đỏ tươi hơn. Thư phòng của Tôn Tử thật đơn sơ trang nhã, ở đây chẳng lấy đâu ra những thứ đồ cổ đắt tiền, cũng chẳng có bàn ghế bằng gỗ lim gỗ gụ chạm trổ cầu kỳ, mà ở đây chỉ toàn là thẻ tre và thư tịch, ngoài ra là tứ bảo văn phòng, ghế ngồi và án thư đều rất thông thường, tuy xem ra rất lấy làm lạnh lẽo, ấy nhưng mà ở đây Tôn Tử đã từng trằn trọc bao đêm. Mười ba bài “binh pháp” đã ra đời ở đây, hoàn thành bản thảo cũng ở đây, từng phương chiến đấu để thắng địch cũng được phác ra ở đây, quốc sách trừng trị bọn hủ bại để nước mạnh quân khoẻ cũng được khởi thảo lên ở đây… Gian phòng nhỏ này, có thể coi như một nguồn sáng chiếu dọi toàn nước Ngô và là đất cội nguồn khiến nước Ngô từ yếu trở thành mạnh, và cũng là giọt nước trong con sông dài xán lạn của văn hoá Trung quốc. Tôn Tử cầm chiếc cây nến đi thẳng đến trước một tấm bản đồ vẽ trên một vuông lụa khổ lớn treo trên tường ở giữa thư phòng, chăm chú nhìn vào mỗi một dãy núi, mỗi một dòng sông, mỗi một cái hồ, đầm, mỗi một thành phố hay thị trấn lớn nhỏ vẽ trên đó, là kết tinh sự cần cù chịu khó của ông trong mấy tháng trời, là kết quả của những đêm thức trắng, là thu hoạch sau những giờ suy nghĩ nhức óc và những thoáng vui mừng, dưới ánh nến lung linh, tấm bản đồ rộng lớn như một ngọn lửa đang rực cháy, như ánh ban mai bừng lên, nó mới tươi đỏ làm sao, rực rỡ làm sao, huy hoàng xán lạn làm sao…
Tôn Tử giơ cao ngọn nến, dưới ánh sáng lung linh, những nét vẽ đơn điệu trên vuông lụa thô bỗng trở nên như hoa như gấm. Mắt ông tuy chăm chú nhìn vào từng chỗ trên bản đồ, nhưng đầu óc lại đang bồi hồi nghĩ đến những trận mưa gió phong ba trong mười ba năm trời nay kể từ sau ngày hai nước Ngô – Sở giao tranh ở Kê Phụ.
Những ý nghĩ hiện lên trước hết trong đầu Tôn Tử là tình thế của các nước vùng trung nguyên. Năm 519 trước công nguyên, tức là cùng một năm với cuộc chiến xảy ra ở Kê Phụ, hoàng tử Triều – em của Chu Kính vương tranh giành ngôi báu với anh mình, Kính vương ra Cảnh Tuyền[2] để lánh đi, như thế là hai vương đều tồn tại, kéo dài tới ba năm trời. Năm 516 trước công nguyên Lô Chiêu công bị Tam hoàn đuổi đi, sang ở nước Tề, học thiều nhạc và trả lời Tề Cảnh công những vấn đề về chính trị, nêu ra thuyết “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”. Mùa thu năm sau, Tề Cảnh công mưu nạp Lỗ hầu, họp các chư hầu ở Chuyên Lăng.[3] Nước Tấn lúc ấy do Sĩ Ưởng nắm chính quyền, cũng từng mấy lần hội họp chư hầu và các đại phu, bàn mưu kế ổn định nhà Chu và Nạp Lỗ hầu – Năm 517 trước công nguyên, Tấn Khoảnh công họp với đại phu các nước Lỗ, Tống, Vệ, Trịnh, Tào, Chu, Đằng, Tiết và Tiểu Chu ở Hoàng Phụ,[4] chuẩn bị năm sau thì đưa Kính vương về Vương thành, sai chư hầu chở lúa gạo đến cấp đỡ cho nước Chu, Tống đại phu Lạc Đại Tâm chống lệnh đó. Mùa thu năm 515 trước công nguyên, lại họp các chư hầu và đại phu ở đất Hộ, một là mưu tính nạp Lô hầu, nhưng do nhận đút lót của Quý Bình tử, mà Quý Bình tử lại nắm chính quyền ở Lỗ, rất thân với khanh tướng của nước Tấn, cho nên lại thôi; hai là định để Lỗ đánh Tề, nhưng nhận đút lót của Tề, nên cũng thôi. Hai nước Tấn, Sở lúc đó còn phải giữ cam kết Tống tây môn, nên hai bên không bên nào xâm phạm bên nào.
Tôn Tử giơ cao cây nến từ phía bắc hạ dần soi xuống phía nam, soi sáng vùng bản đồ của nước Sở. Luồng suy nghĩ của ông cũng từ các nước trung nguyên trở thành với tình thế lúc này của nước Sở.
Năm 529 trước công nguyên, Sở Bình vương đã ép chết Sở Linh vương rồi tự lên ngôi, sáu năm sau, lại lập con mình là Mê Kiến làm thái tử, Ngũ Xa – con của Ngũ Cử, là cha của Ngũ Viên sau này – làm thái phó. Nhưng thái tử Kiến không ưa Phí Vô Cực, thế nên Phí Vô Cực coi Thái tử Kiến như cái gai trong mắt, như cái giằm trong thịt, lúc nào cũng muốn đẩy vào chỗ chết. Lúc này, Sở Bình vương đã hỏi Doanh Thị là em gái Tần Viên công cho Thái tử Kiến làm vợ, lệnh cho Phí Vô Cực đi đón về. Thấy Doanh thị có chút nhan sắc dễ coi, Phí Vô Cực lại muốn lấy lòng Bình vương, đề nghị ông này nhận lấy làm vợ mình, Bình vương làm theo lời đề nghị đó. Phí Vô Cực đã khéo léo dùng mưu đổi áo, lấy trong đám con gái đi dẫn dâu ra một người để làm vợ thái tử. Muốn cho Bình vương xa lánh Thái tử, lại đề nghị cho xây một toà thành mới ở Thành Phụ ở biên cương xa xôi phía bắc nước Sở[5] để khống chế đường giao thông huyết mạch ở phía bắc, nhằm
tranh chư hầu với nước Tân, và từ đó mà tranh giành Lục[6] nắm quyền khống chế với nước Trịnh. Hai năm trước đó, Tuân Ngô của nước Tấn tiêu diệt người Nhung ở Lục Hỗn, Lục Hỗn tử chạy sang nước Sở, thế lực nước Tấn lúc này đã vươn ra tới khu vực Lục Hỗn, trực tiếp đe doạ an toàn biên cương phía bắc của nước Sở. Phí Vô Cực đã lấy lý do đó, đề nghị lệnh cho Thái tử Kiến ra đóng ở Thành Phụ để trấn giữ biên cương phía bắc. Sở Bình vương nghe theo. Kế ly gián Sở Bình vương với Thái tử Kiến do Phí Vô Cực bầy ra lần nào cũng trót lọt, Thái tử Kiến thì ở bên ngoài xa cách kinh đô, thế là mùa xuân năm sau, hắn lại sàm tấu lên Sở Bình vương:
– Thái tử Kiến với Ngũ Xa định ở ngoài Phương Thành mưu phản, xây dựng đất nước riêng của mình, vào hùa với Tống, Trịnh; mà hai nước Tề, Tấn lại giúp nhau, muốn hại nước Sở. Việc này sắp dồn dập đến nơi bây giờ.
Giữa Sở Bình vương với Thái tử đã sẵn có mối hiềm khích, Thái tử đẩy lên tới mức phản loạn, điều đó hoàn toàn có thể xảy ra, nên nghe nói thế Sở Bình Vương liền tin là thực, cho vời Ngũ Xa về Sính đô để trách hỏi việc này. Những lời khuyên bảo thẳng thắn của Ngũ Xa đã làm cho Sở vương nổi giận, lệnh cho tư mã Thành Phụ là Phấn Dương giết Thái tử Kiến. Thái tử Kiến chạy sang nước Tống, đi nước Tấn, rồi lại từ nước Tấn đi trước Triệu, rồi bị người nước Trịnh giết. Sở Bình vương cho vời hai con của Ngũ Xa là Ngũ Thượng, Ngũ Viên về Sính đô định giết cả hai người. Ngũ Thượng về kinh đô, còn Ngũ Viên thì mang con trai Thái tử Kiến là Thái tử Mê Thắng chạy sang nước Ngô. Bình vương đã giết cha và anh của Ngũ Viên cùng cả nhà hơn ba trăm người. Sau khi chạy sang nước Ngô, Ngũ Viên ngày đêm toan tính đánh nước Sở, bởi thế nên hai nước Ngô Sở càng thêm nhiều chuyện rắc rối. Tháng 9 năm 516 trước công nguyên, Sở Bình vương qua đời, con trai do Doanh Thị – người Sở Bình vương đã lấy làm vợ đẻ ra là Chẩn lên ngôi, tức là Sở Chiêu vương. Năm sau, giữa Phí Vô Cực với đại phu Bá Khước Uyển có hiềm khích, Bá Khước Uyển lại là con trai của Thái tể Bá Châu Lê. Phí Vô Cực liền sàm tấu lên lệnh doãn Nang Ngoã. Vốn là một kẻ tiểu nhân tham tàn ngu muội, Nang Ngoã liền nghe theo và giết cả nhà Bá Khước Uyển và tộc đảng. Con trai của tiền lệnh doãn Dương Cái là Dương Lệnh Chung và em là Hoàn và Đà, đại phu Tấn Trần và con em của ông ta đều bị giết hết. Con trai Bá Khước Uyển là Bá Bỉ trốn sang nước Ngô, cùng Ngũ Tử Tư mưu diệt Sở để đền nợ nước trả thù nhà.
Tôn Tử lại nâng cây nến bằng tay phải và dịch sang bên phải rồi soi xuống phía dưới, ánh lửa nến đã soi sáng cõi bờ nước Ngô và tình thế chính trị lúc này của nước Ngô chợt ào lên trong ý nghĩ của ông, đẩy xa mọi ý nghĩ khác.
Lúc đầu phu nhân của Ngô vương là Thọ Mộng sinh được bơn người con trai là Át, Đới Ngô, Câu Dư, Quý Trát. Kỳ Như phu nhân cũng sinh bốn con trai là Quyết Do, Châu Vu, Yểm Dư, Chúc Dung. Trong bốn người con trai do Thọ Mộng phu nhân sinh ra thì Quý Trát là người hiền lành nhất, Thọ Mộng muốn để người này nối ngôi vua, nhưng Quý Trát còn chưa được lập làm Thái tử, thì Thọ Mộng đã chết, Át theo ý cha, nhường ngôi cho Quý Trát, nhưng Quý Trát không nhận, lỉnh đi cày cấy ở Diên Lăng,[7] thế là Át lại phải lên ngôi, đó là Ngô vương Chư Phàn. Chư Phàn ở ngôi được mười ba năm, lúc lâm chung để di chúc lại dặn rằng ngôi vua thì anh chết em thay, nên trông đợi truyền ngôi cho Quý Trát, thế là Đới Ngô lên ngôi, đó là Ngô vương Dư Tế. Dư Tế ở ngôi được ba năm thì chết, em thứ ba là Câu Dư lên ngôi, đó là Ngô vương Dư Muội. Dư Muội ở ngôi được mười bảy năm thì chết, Quý Trát vẫn không muốn nối ngôi vua, người con trai của Dư Muội đang nắm giữ binh quyền bèn thế chân vào, đó là Ngô vương Liêu. Công tử Cơ Quang là con trai cả của Chư Phàn, cho rằng Quý Trát đã không chịu nhận ngôi vua, thì đúng ra là phải nhường cho hắn mới phải, cho nên đã dần dần nảy ra mưu mô thoán đoạt cướp ngôi. Mùa hè năm 515 trước công nguyên, công tử Quang nhân dịp Ngô vương Liêu sai con em thân tín của mình đi đánh nước Sở, đã lập mưu giết vương Liêu, rồi tự xưng làm vua, đó là Ngô vương Hạp Lư. Ngay trước khi chiếm ngôi vua, Hạp Lư cũng đã mấy lần đem quân đánh Sở, nhiều lần quẩn quanh với quân Sở ở vùng Giang Hoài. Những trận đánh ở Trường Ngạn và Kê Phụ, quân Ngô đã lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh… tất cả đều là mưu lược của Hạp Lư. Hạp Lư lại là con người sáng suốt anh dũng, luôn được mọi người tin cậy. Sau khi lên ngôi, lại càng nung nấu ý chí chiến thắng nước Sở, để giành quyền bá chủ vùng Giang Hoài. Ông khắc khổ phấn đấu vươn lên, rất chịu học hỏi, thành khẩn nghe lời khuyên bảo, dũng cảm sửa sai lầm; ông thương yêu nhân dân, ăn, uống đơn giản, chỗ ở cũng xềnh xoàng, nhà ở không tô vẽ, đồ dùng không chạm khắc cầu kỳ, cung thất không bao giờ thèm ngó tới, thuyền xe không vẽ vời, quần áo và đồ ăn thức dùng đều hết sức tiết kiệm. Vào đúng lúc này, Ngũ Tử Tư và Bá Bỉ, mang theo mối thù kẻ giết cha anh và dòng họ, nên đã lần lượt trốn sang nước Ngô cùng Hạp Lư tích cực mưu chiếm nước Sở, Ngũ Tử Tư còn phụng mệnh của Hạp Lư, khẩn khoản mời Tôn Vũ hạ sơn. Hạp Lư ban đầu xếp Ngũ Tử Tư làm hành nhân[8] Bá Bỉ là thái tể, Tôn Vũ làm khách khanh, tiếp đó lại phong Tôn Tử lên làm quốc chính. Từ đó quân thần trên dưới, hợp sức đồng lòng, trừng trị hủ bại, cải cách lại trị, tìm con đường làm cho nước giàu quân mạnh, khơi dậy nguồn lợi cá, muối, núi rừng, khích lệ nghề làm thợ, đi buôn, làm cho nước Ngô ngày càng giàu có. Ở nơi cách phía Tây thành Cô Tô bốn mươi dặm có dòng sông áp Thành, còn nơi cách huyện Vô Tích về phía đông hai mươi dặm là Áp Thành. Áp là vịt, bởi chính Hạp Lư đã khởi xướng, ra nghề nuôi vịt ở vùng này, để dẫn giắt trăm họ, cho nên dân cần cù thì của cải nhiều lên, sức nước càng thêm mạnh. Hạp Lư còn cho sửa đổi pháp chế, chọn dùng người hiền tài, luyện quân tập võ… Đồng thời căn cứ vào tình hình đất nước mình, kết hợp địa thế tác chiến ở vùng Giang – Hoài, ông đã lập ra ba quân. Mỗi quân cử một người làm tướng, một người làm phó tướng quân (tá) xe hai cỗ, trên cắm cờ mặt trăng mặt trời, lại cắt cử ra các chức việc như tấn cổ, hiệp kinh, bỉnh phù, toàn quân khoảng một vạn một ngàn hai trăm người. Một quân sẽ quản hạt mười tinh, mỗi tinh cử ra một người làm bế đại phu, nắm công việc dựng cờ quạt, thúc trống, cầm chịch… mỗi thứ một người, chủ yếu là để gõ tiếng, phát lệnh, hiệp kịch một người, chuyên lo việc văn thư mưu lược. Mỗi tinh có tất cả chừng một ngàn một trăm mười người. Mỗi tinh có mười hành, mỗi hành có quân số là một trăm người, hành quan có một người là thượng sĩ, hành soái ba người, chấp đạc một người, chủ yếu là giữ cái chuông báo hiệu và ra lệnh, chấp kê một người chuyên lo sổ sách cung cấp, kiến phan một người, chuyên lo việc cờ, tàn, phướn; chấp thuẫn một người chuyên giữ tấm lá chắn lấy làm tiêu chí để nhận ra đơn vị, quan quân mỗi một hành là một trăm mười người.
Quân thứ hai và quân thứ ba, biên chế cũng giống quân thứ nhất. Ba quân biên chế như trên tất cả chừng ba vạn ba ngàn sáu trăm người. Việc biên chế tổ chức ba quân của nước Ngô đã đâu vào đấy, Hạp Lư lệnh cho Tôn Tử tuyển luyện tướng sĩ, diễn tập chiến trận. Bản thân Hạp Lư cũng thường sống lẫn với lính tráng, đồng cam cộng khổ với họ, cùng ở, cùng ăn uống với họ, thế là quân tâm, sĩ khí đều phấn chân, ngay cả những lúc đứng trước thiên tai lớn hiếm thấy trong lịch sử, cũng không hề xao nhãng việc tập luyện quân sự và thực hiện chiến lược lâu dài làm tiêu hao nước Sở.
Cầm cây nến trên tay, lúc soi sang nước Sở, lúc lại soi sang nước Ngô Tôn Tử cứ soi đi soi lại, ngắm đi ngắm lại những miền sông núi nước non giàu có, núi liền, sông liền sông của hai giải đất Ngô – Sở, theo ánh sáng của ngọn nến và tầm nhìn đi nhìn lại, trong óc ông cùng quẩn quanh với những hình ảnh, những sự việc từng xảy ra sáu năm nay trong cuộc giao chiến giữa ngước Ngô và nước Sở. Trong cuộc chiến này, nước Sở đất đai rộng hàng ngàn dặm, quân lính đông với hàng ngàn cỗ chiến xa, lại có cả chục nước phụ thuộc ở quanh mình, nhân dân giàu có lực nước dồi dào, việc phòng bị chiến tranh rất đầy đủ. Trước đây các nước chư hầu trung nguyên nhiều phen đem quân đánh Sở, thì cũng chỉ đánh được quân đội của họ để ngăn chặn họ không mở rộng ra bên ngoài mà thôi, chứ chưa từng có ai đã dám nghĩ đến đánh vào tận kinh đô tiêu diệt cả một quốc gia, nếu so sánh với Sở, thì Ngô là nước nhỏ yếu, thế mà lại muốn chiếm kinh đô người ta, diệt đất nước người ta, chẳng hoá ra châu chấu định đá xe, kiến càng lay cổ thụ hay sao? Sự thực hoàn toàn ngược lại, hơn cùng với thời gian trôi đi và số lần giao chiều ngày một nhiều giữa hai nước, nước Sở lớn mạnh bỗng ngày càng suy yếu đi, nước Ngô nhỏ bé ngày thêm lớn mạnh và dần dần tiến đến mức đến mức độ hằng mong muốn và lý tưởng. Như thế thì rốt cuộc là tại cái gì? Cuộc chiến tranh lấy ít đánh nhiều, dùng yếu chống khoẻ, không thể giành thật bằng sức mà phải lấy khéo bằng mưu, không thể trông mong vào chuyện đánh một trận mà phá tan được sức chiến đấu của họ, mà cần thiết phải vận dụng mưu lược đánh lâu dài, ly gián đất nước họ, phân tán ý chí chiến đấu của họ, tiêu hao sức lực họ, sau đó mới thừa cơ đánh một trận để phá tan. Thời Ngô vương Liêu, Ngũ Viên mới sang nước Ngô, đã khuyên Ngô vương những lợi ích của việc đánh Sở, nhưng Công tử Quang đã ngăn lại, bởi thời cơ chưa được chín muồi. Đến năm 511 trước công nguyên, quân Ngô đánh Di, Lục, Tiềm của nước Sở, quân Sở đến cứu thì quân Ngô rút đi. Quân Ngô lại đánh Huyền, quân Sở đến cứu, quân Ngô lại rút. Sau cùng, khi quân Ngô đại phá quân Sở ở Dương Ấp, Hạp Lư đang muốn thừa thắng công phá nước Sở, thì Tôn Vũ lại ngăn lại, cho rằng thời cơ vẫn chưa chín muồi. Theo đặc điểm địch mạnh ta yếu, nước Ngô đã vạch ra một chiến lược lâu dài để tiêu hao và làm mòn mỏi địch, nói cụ thể là họ chia ba cánh quân để quấy rối, cánh quân này ra, bên kia tất phải ra hết; bên kia kéo quân ra, thì bên này quay về; khi nào họ quay về thì ta lại ra làm thế quân Sở sẽ mỏi mệt dọc đường. Quấy rối như thế nhiều lần để làm cho địch mệt mỏi và sẽ trễ nải nhiều mặt, đã mệt mỏi, sau đó lại dồn cả ba quân lại, nối tiếp nhau đánh sâu vào đất địch, nhất định là sẽ thắng lớn. Nước Ngô đánh nước Sở, chẳng những là một cuộc chiến tranh lấy ít đánh nhiều, mà là một cuộc chiến tranh viễn chinh bỏ trống nước mình, bởi vậy, cần phải tính trước đến khả năng các nước khác nhân chỗ sơ hở đánh úp. Trong những nước láng giềng của Ngô như Chung Ngô, nước Từ và nước Việt, hoặc là nước phụ thuộc hay đi theo nước Sở, hoặc là thân cận hữu hảo với nước Sở. Mà Chung Ngô với nước Từ đã lần lượt tiếp nhận hai người lưu vong của nước Ngô là công tử Yểm Dư và Chúc Dung; nước Việt thì thường giúp Sở đánh Ngô. Từ và Chung Ngô xuống phía nam, sẽ gây nên mối nguy là chặn mất đằng sau của quân Ngô; nước Việt lên phía bắc cũng là sự đe doạ sẽ tiến thẳng vào kinh đô nước Ngô, bởi vậy, trước hết phải đánh Chung Ngô, Từ và Việt, đánh tan quân của họ, là chặt vây cánh của Sở, rồi xây thành cao lên mà cố thủ, thì sẽ tránh được mối lo sau này. Sáu năm nay, vua tôi nước Ngô rất chú trọng dùng gián điệp, bỏ một số lớn tiền của ra mua chuộc Diên Hoài Viễn, rồi Phong Hồ nói về gươm báu ở triều đình nước Sở, làm tê liệt tinh thần của Sở Chiêu vương, khiến ông ta ngán chiến tranh mà chỉ muốn cầu an, một dạ chăm chú vào việc xa xỉ chơi bời hưởng thụ, dùng một người làm gián điệp, có thể thắng được hàng triệu hùng binh. Sáu năm nay, nước Ngô cũng hết sức chú trọng “đánh ngoại giao”, Đường, Thái vốn là các nước phụ thuộc nước Sở, vì nước Sở tham lam vơ vét nên làm cho hai nước này lìa bỏ, trong khi đó nước Ngô lại tỏ ra đồng tình và hào hiệp đón nhận. Cuộc hội họp ở Chiêu Lăng, nước Tấn hô hào chư hầu mười tám nước, ngay cả những nước xưa nay vẫn ngả theo nước Sở như các nước Trần, Hồ, Hứa, Đốn, cũng muốn thôn tính nước Sở mà đến dự, nước Sở đúng là lâm vào cảnh bị nhiều người phản lại mà người thân lại lánh xa. Sĩ Ưởng nước Tấn do dự quả đoán mà để mất dịp tốt này, vua tôi nước Ngô thì lại có thể quyết đoán nhanh chóng, nên đã lợi dụng được dịp này, cử sứ thần lần lượt đến hai nước, tặng ngựa dâng áo, bày tỏ lòng quyến luyến, kết thành tình anh em ruột thịt. Đánh nước Từ, Chung Ngô và các dân tộc Đông Di và đánh nước Việt, chỉ nghiêm chỉnh trừng trị bọn vua tôi ngoan cố bướng bỉnh, còn với đông đảo dân chúng của những nước này, quân Ngô lại luôn tỏ ra thân thiện, giúp đỡ, yêu mến… cho nên người trong trăm họ cũng những đất nước và dân tộc này luôn luôn coi quân Ngô như anh em, ngưỡng vọng Ngô vương như một vị cứu tinh ở đâu cũng tìm cách giúp quân Ngô là tiêu hao mòn mỏi quân Sở. Thời gian này nước Ngô còn có nhiều tính toán trên còn người Tử Tất tướng của nước Sở, chẳng hạn xem bói, chữa bệnh cho hắn, để cho đạo quân thua trận của hắn được trở về với tư thế nhưng người chiến thắng ca khúc khải hoàn vv…, mặc dù trước mắt còn chưa có hiệu quả gì rõ rệt, nhưng trong tương lai có thể phát huy được tác dụng độc đáo của nó.
Không biết đã như thế bao nhiêu lâu, ngọn nến sắp cháy hết, sợi bấc nến sôi lên xèo xèo, giọt nến nhỏ xuống rát cả tay Tôn Tử, ông mới từ cõi sâu xa của niềm suy nghĩ trở về với thực tại, bất giác bỗng thấy nực cười. Thật vậy, đây đâu có phải là xem bản đồ, mà là ôn lại lịch sử, là đúc rút kinh nghiệm. Tôn Tử lúc này, tựa hồ như một ông thợ may cao cấp, vải đã để trước mặt, đồ nghề cũng sẵn sàng rồi, trước khi hạ kéo, ông phải cân nhắc đo lường thật cẩn thận mọi kích thước của người sẽ mặc tấm áo này, làm đúng như người ta nói là “đo thân mà cắt áo”, mới có thể mặc vào vừa vặn thoải mái, ai nhìn cũng thấy đẹp thấy sang, nếu không, may cho thân chật, tay chẽn, vạt trái, Hồ, Man, Cảnh, Di, chẳng giống một ai, đương nhiên sẽ bị cười cho thối mũi, may lụng thụng quá, cũng khó mà đẹp đến mức “bước chân đi, vạt áo tựa cánh chim” được… ông cũng lại giống như một người thợ xây, muốn xây một toà lầu cao, qua sáu năm trời phấn đấu gian nan, đến nay đã xây xong móng, ông muốn thân chinh xem xét lại một phen, xem có hợp với yêu cầu và mức độ đã đề ra, để xây đá xây gạch lên nền móng đó và lợp ngói lên mái, liệu có sập đổ được không?
Nến đã cháy hết, cần phải thay thêm, không phải thay một cây, mà là phải thay vài cây, bởi vì trước khi trời sáng, ông phải hoàn thành công việc thẩm tra trên địa đồ, không được qua loa đại khái chút nào, cho dù chỉ là một sai sót nhỏ, cũng có thể khiến hàng ngàn hàng vạn người phải đổ máu hy sinh vô ích. Bởi vậy, khoảng thời gian về cuối, ông lại càng phải tỏ tự kiềm chế mình, không được suy nghĩ lung tung mà phải tập trung hết lực vào tâm bản đồ phải thêm vào một nét cân nhắc thận trọng, có quan hệ đến thắng bại. Và như thế nguồn sáng dần toả từ một cây nến là không đủ, hơn nữa không thể dùng tay đưa đi đưa lại mà soi mãi. Trong thư phòng của mình, cho dù có đen như đổ mực, cũng có thể làm được nhiều việc nhờ quen mọi chỗ và nhờ xúc giác nhạy bén… huống hồ là ngoài song cửa kia đang có ánh trăng thâu đêm chiếu vào trong phòng khiến sách ốc, đồ dùng vv… thấp thoáng chập chờn. Bởi ông không muốn đánh thức vợ mình và người hầu hạ nên đã tự mình đi tìm những chân nến đặt ngay trên mặt đất, rồi gắn nến đỏ lên trên các chân nến đó và lần lượt thắp sáng, ánh sáng trong phòng dần dần mạnh mẽ hơn rồi sáng rực lên như ban ngày. Lửa nến cháy quanh, ánh sáng ngời lên, lung linh xán lạn, căn phòng trở thành một khoảng trời nhuộm say bởi ánh hào quang, mỗi đường nét ở trên tấm bản đồ, đầu như đang hào hứng nhảy múa lên, như muốn reo cười muốn vỗ tay hò hát, mang hết sức ra phô bày sự tồn tại và vị trí quan trọng của mình. Bản đồ treo cao phía trước, hàng cây nến như dồn lại phía sau, Tôn Tử tay cầm bút son đứng ớ khoảng giữa, nhíu mày tập trung suy nghĩ, chăm chú nhìn vào mỗi một vị trí bé nhỏ trên bản đồ. Có thể do quá mệt mỏi, có thể do tinh thần quá ư căng thẳng, có thể tinh lực tập trung quá mức hay sao đó, chợt quay mình lại, Tôn Tử giật bắn mình và áy náy không yên bởi một gã vừa to vừa đen đứng sừng sững đối diện với tấm tấm bản đồ. Gã cao lớn ấy đầu như cái đấu, không nhìn rõ mặt mũi ra sao, đứng lù lù chiêm hết nửa gian phòng. Một đại gia về binh pháp, đương nhiên không tin ở chuyện quỉ chuyện ma, cho nên cũng có phần gan dạ hơn người khác. Ông hết sức trấn tĩnh lại mình, thậm chí nhắm mắt lại một thoáng cho tinh thần thư thái, chưa vội phán đoán và kết luận. Một hồi lâu sau, ông mới bàng hoàng vỡ lẽ ra rằng, cái gã đen to lù lù đứng đó, chính là cái bóng của mình. Sau một hồi lo sợ hão, ông bỗng thấy tức cười ngay cả với mình, đến nỗi còn ngộ nhận đó là thích khách của nước Sở sai tới nữa chứ. Ông nhìn lại lần nữa cái gã đen to ấy không biết cao lớn hơn mình đến mấy lần. Ông đứng lại càng gần hàng cây nến, hình tượng cái bóng đen ấy càng cao lớn, cũng may mà có mái nhà chặn lại, chứ nếu không còn vươn mãi lên cao, chưa biết đến đâu. ông bỗng thấy hay hay, bất giác nghĩ tới những lời đồn đại về mình trong vũ hội, nó đã đạt tới mức thần kỳ, và cũng chẳng sát với thực tế chút nào như cái bóng bây giờ, và không biết hàng trăm hàng ngàn năm sau, sẽ còn đồn thổi lên đến đâu, thật là một điều đáng ngại! Cái bóng là một thứ hư hảo, có được nhờ một nguồn sáng, khi nguồn sáng ấy mất đi, thì cái bóng cũng không còn tồn tại nữa, chỉ còn lại bản thân người với vật, đó mới hoàn toàn là thực tại. Ông mong sao cho Tôn Vũ được đồn đại trên đời, mãi mãi là thực thể khách quan, mà không là cái bóng hư ảo.
Một tiếng gà đâu đó gáy lên lần nữa kéo Tôn Tử từ những ý nghĩ xa xôi trở về với thực tại, lúc này, chỉ còn khoảng một canh giờ nữa là trời sáng hẳn, cần phải ráo riết thẩm tra lại bản đồ mới được. Cạnh án thư có một chiếc chậu thau, đã đựng đầy nước trong và ngâm sẵn ở đó một chiếc khăn mặt, đó là thứ người giúp việc đã để sẵn cho ông đêm đến rửa mặt cho tỉnh táo. Đêm khuya không ngủ, đó là thói quen của Tôn Tử đã hình thành từ nhiều năm nay, nhưng lúc ấy hoặc là ông đọc sách, hoặc làm thơ phú, hoặc viết văn, hoặc vạch kế hoạch tác chiến, phương án chiến đấu… lâu dần khó tránh được những cơn mệt mỏi từ đâu ập đến. Mỗi lúc như vậy, dùng tấm khăn đã được ngâm trong nước lạnh lau lên mặt, bỗng cảm thấy tinh thần phấn chấn, hăng hái như ban đầu. Người giúp việc phát hiện ra thói quen trong đời sống đó của ông, bèn im lặng mỗi hôm để sẵn cho ông một chậu nước như vậy. Ngay cả những ngày đông giá rét, cũng vẫn như vậy. Tôn Tử bước đến bên chậu nước lau mặt xong, trở lại trước tâm bản đồ, ông gác bỏ mọi ý nghĩ sang một bên, tập trung hết tinh thần vào từng đường nét, từng chấm đen trên bản đồ.
Dân tộc Kinh Sở, tuy là một nhánh của tập đoàn Lê Miêu, nhưng tộc người họ Hùng của Sở vương, bắt đầu lại cư trú ở vùng đầu nguồn của Trường Giang. Khởi tổ của nước Sở là Cúc Hùng thụ phong ở Đan Dương.[9] Sau này thị tộc của họ Hùng dần dà di chuyển sang phía đông, thôn tính các bộ lạc Lê Miêu ở Ngạc Tây, đến thời Sở vương Hùng Cừ, dần dần mở mang đến vùng đất phía đông tỉnh Hồ Bắc, phía bắc tỉnh Giang Tây ngày nay, Văn vương Hùng Tư liền dời đô đến Sính.[10] Ở phía đông Sính đô vẫn còn là vùng đất hoang vu, dã thú thường xuyên vào ra, đây cũng là vùng đất người Man Di ra vào. Lúc bấy giờ trung tâm văn hoá ở trung nguyên, dân tộc Kinh Sở ngay từ sớm đã tiếp xúc với tộc người Hạ ở trung nguyên, thời thượng cổ có thuyết nói rằng Chúc Dung là cháu nội của vua Chuyên Húc, từ đó có thể suy diễn ra rằng, văn hoá của dân tộc Kinh Sở, so với các man tộc cắt tóc xăm mình ở phía đông, có phần nào cao hơn một chút. Lại nhìn từ lịch sử của nước Sở, từ sau khi Hùng Cừ mở mang vùng trung du Trường Giang, phía đông ra đến Việt Chương[11] tức là phía bắc ra khỏi vùng núi Dự Chương và núi Đồng Bách, để tranh giành vùng tâm văn hoá trung nguyên. Ông ta dần dần thôn tính và tiêu diệt nhiều nước nhỏ họ Cơ ở phía đông Hán Thuỷ, như nước Đặng,[12] Thân,[13] Tức[14] vv… và vào đến vùng đất bên lề ở phía nam trung nguyên, cho nên thời kỳ đầu con đường thông từ nước Sở đến trung nguyên chủ yếu từ nước Thân đến biên giới các nước Hứa, Trịnh. Từ sau khi Sở Thành vương bị ép buộc bởi minh ước ở Chiêu Lăng với Tề Hoàn công và cuộc chiến ở Thành Bộc và Tấn Văn công, con đường tiến lên phía bắc của nước Sở bị chặn lại, nên mới quay ra phát triển sang phía đông. Năm 624 trước CN, Sở Mục Vương bắt đầu phát triển sang lưu vực sông Hoài, vùng đất này vốn là nơi những tộc người Di tản cư chiếm giữ, chủ yếu gồm các nước nhỏ như Giang (tây nam huyện Tức – Hà Nam bây giờ), Lục (thành phố Lục An, tỉnh An Huy bây giờ), Liêu (phía đông huyện Cố Thuỷ, Hà Nam bây giờ) và Quần Thư (vùng huyện Thư Thành, Đồng Thành tỉnh An Huy bây giờ). Năm 623 trước công nguyên, nước Sở diệt nước Giang, năm sau lại diệt nước Lục và nước Liêu. Từ sau khi diệt và chiếm hai nước Lục, Liêu, nước Sở liền biến hai nước này thành căn cứ địa để kinh doanh ở lưu vực sông Hoài, cho đóng quân đông đảo ở đấy có dịp là tiến về phía đông, bởi vậy, các dân tộc Đông di ở vùng quanh đó và các nước nhỏ Quần Thư, không nước nào là không khiếp sợ nước Sở. Đã phát triển sang phía đông, nước Sở lại mở ra con đường từ Sính Thành kinh đô nước Sở, vượt qua vùng núi Dự Chương mà sang đến vùng núi của hai nước Liêu, Lục. Vì thế lực của nước Sở tiến sang phía đông, tới khu vực Đông Di của lưu vực sông Hoài và như thế là sẽ có sự tiếp xúc với nước Ngô vốn ở vùng hạ lưu Trường Giang mà thế lực cũng đang phát triển sang lưu vực sông Hoài.
Ngô và Sở đều là những nước mới trỗi dậy, hai nước khoẻ gặp nhau, thế tất sẽ xảy ra tranh đấu. Còn như các bộ lạc Đông Di vốn ở dải trong lưu vực sông Hoài, đối với sự xâm phập của hai nước Ngô và Sở, họ đều coi là kẻ thù từ bên ngoài, không so bì dày mỏng thấp cao. Nhưng trên thực tế, dân tộc Đông Di cùng ở hạ lưu Trường Giang với nước Ngô đã lâu đời, giữa họ có mối quan hệ tình người và huyết thống qua lại với nhau rất là mật thiết. Hơn nữa, nước Ngô lại thành thạo với việc đi lại bằng thuyền bè sông nước, sự buôn bán và qua lại về kinh tế giữa vùng Giang – Hoài đã làm sâu sắc thêm khăng khít thêm mối quan hệ đó. Còn như nước Sở, lại từ vùng trung du Trường Giang tới, phạm vi mà họ thâm nhập vào vùng dân tộc Đông Di, chỉ là chuyện trong vòng mười năm từ thời Sở Mục vương trở đi, hơn nữa Sở Mục vương lại dùng vũ lực tiêu diệt các nước Giang, Lục, Liêu, chiếm đất, cướp bóc của cải của họ, giết hại đồng bào họ sau đó đóng giữ luôn ở đó vơ vét cướp bóc, đó hoàn toàn là những hành động xâm lược ác động như dã thú, đương nhiên những điều đó đã khơi dậy lòng căm ghét và sự phản kháng của các dân tộc Đông Di. Bởi vậy, nước Ngô ra quân ở lưu vực sông Hoài, để đánh nhau với nước Sở, là sự xuất hiện với người bảo vệ cho là dân tộc Đông Di, cho nên đi đến đây cũng được các dân tộc Đông Di đón đợi và giúp đỡ, hành quân hay chiến đấu, đều rất thuận lợi.
Cuộc tranh chấp giữa hai nước Ngô – Sở, là trên cả một vùng rộng lớn giữa hai lưu vực Giang – Hoài, ở đây tất nhiên là chiến trường chính của cuộc chiến, sau khi quân Ngô đánh bại quân Sở, sẽ xâm nhập vào biên giới nước Sở, cũng tất phải tiến dọc theo Trường Giang và Hoài Hà. Bởi vậy, trước khi xảy ra chiến tranh, Tôn Tử đã xem xét lại địa đồ và lấy vùng Giang – Hoài là trọng điểm.
Một là vùng núi Dự Chương. Dãy núi Dự Chương bắt đầu từ phía nam vùng nước Thân, Đặng thuộc nước Sở kéo dài sang đông tới phía tây nước Lục và Quần Thư, núi cao nhấp nhô, đường đi gập ghềnh vốn là phòng tuyến kiên cố bên trong nước Sở, thế nhưng nước Sở ở phía bắc thì lên trung nguyên, phía đông vượt sông Hoài, sông Tứ, thì núi Dự Chương hoá ra lại vật trở ngại cho giao thông của họ. Nước Sở lên trung nguyên ở mạn bắc vốn muốn lấy Thân Ấp làm căn cứ địa, nay phía đông đã ra đến sông Hoài sông Tứ, đương nhiên phải đi tìm một con đường khác từ Sính đô qua Bách Cử, vượt qua vùng núi Dự Chương, để đạt tới nước Lục, nước Liêu.
Hai là sông Hoài, Châu Lai và Chung Ly. Khu vực sông Hoài là vùng đồng bằng rộng lớn, lấy các lưu vực sông Hoài làm đặc điểm cho vùng đất này. Vùng thượng nguồn và trung du sông Hoài có rất nhiều nhánh sông, một số trong đó chảy vào Châu Lai (vùng huyện Phong đài, tỉnh An Huy bây giờ) rồi chảy mãi về phía đông, có những vực xoáy từ phía Tây tới, hợp nhau lại ở Chung Ly (Âm hoài quan phía đông huyện Phụng Dương tỉnh bây giờ). Bởi vậy hai nơi Châu Lai và Chung Ly, là cái nút giao thông thuỷ bộ vùng sông Hoài, trở thành vùng đất chiến lược quan trọng ở khu vực này.
Ba là Sào Hồ, Sào Ấp. Sào Hồ là cái bình phong chắn giữa hai nước Ngô, Sở, thế nên Sào Ấp (huyện Sào, tỉnh An Huy bây giờ) và Lý Ấp ở phía nam Sào Hồ (huyện Vô Vi, tỉnh An Huy bây giờ) cũng trở thành mảnh đất quan trọng mà Ngô Sở tất sẽ tranh chấp.
Bốn là Trường Giang, Hoành Sơn và Trường Ngạn. Hai bờ Trường Giang vẫn còn là mảnh đất hoang vu, và không có một con đường bộ nào tốt, khả dĩ có thể cho chiến xa đi lọt, thế nhưng trên dòng sông, chiến thuyền đi lại và vận chuyển lại rất thuận tiện, bởi vậy mà trên mặt sông này, thuỷ quân của hai nước Ngô, Sở thường đụng độ với nhau, mà không xảy ra đánh nhau ở trên cạn. Trên dòng sông này, nơi hiểm ác nhất là Cưu Tư, Hoành Sơn và Trường Ngạn, ở đây dòng sông hẹp, ở giữa sông lại có nhiều doi cát ngầm, trên bờ lại có Lương Sơn đông, Lương Sơn tây ở phía tây Đang Đồ, Tài Thạch Cơ ở phía bắc Đương Đồ, Mã An Sơn ở đông bắc Đương Đồ, núi Hoành Vọng ở trấn Đơn Dương và Mạt Lăng quan vv…
Từ đó có thể dễ dàng thấy rằng chướng ngại về địa lý lớn nhất ảnh hưởng đến hành động tác chiến của hai bên Ngô, Sở là núi Dự Chương, núi Đồng Bách và Trường Giang. Dự Chương và Đồng Bách là hai dãy núi nằm trong vùng rừng núi nguyên thuỷ chưa có dấu chân người, mỏm đá nhấp nhô, rừng sâu dày đặc, đi lại vô cùng khó khăn. Giữa hai dãy núi có ba lối nghẽn, lối thứ nhất gọi là Minh Ách còn gọi là Bình Tĩnh quan, lấy núi làm vật cản, không thua gì hào luỹ; lối thứ hai là Trực Viên còn gọi là Hoàng Hiện quan, Bách Nhạn quan, Cửu Lý quan nằm ở chỗ cách phía nam châu Tín Dương chín mươi dặm; lối thứ ba gọi là Đại Tuy, còn gọi là Vũ Dương quan, Lễ Sơn quan, năm ở nơi cách Tín Dương về phía đông nam một trăm năm mươi dặm, mặt tây nam đến huyện Ứng Sơn một trăm ba mươi dặm, tên đất là Đại Trại Lĩnh. Chỗ ấy gọi là ba cửa ải Nghĩa Dương, đất này núi cao vách thẳng, khe lạch dọc ngang, cỏ rậm rừng dày, không một bóng người, chẳng qua chỉ là những con đường mòn mà dân chúng của các nước nhỏ như Giang (tây nam huyện Tức, tỉnh Hà Nam bây giơ), Hoàng (huyện Hoàng xuyên, tỉnh Hà Nam bây giờ), Tuỳ (huyện Tuỳ, tỉnh Hồ Bắc bây giờ), Đường (thị trấn Đường Thành, huyện Tuỳ, tỉnh Hồ Bắc bây giờ) vv… đi lại, khó có thể để đại quân ra vào.
Đông nam núi Dự Chương cũng là những đỉnh núi nhấp nhô khấp khểnh như thế, là nơi rừng rậm gai góc không dấu chân người, hẻm núi nhiều vô kể, có những chỗ khiến người ta phải rùng mình rợn gáy như Nhạn Môn quan, Tùng Tử quan, Đồng la quan, Ải Môn quan vv… là những con đường mòn của các tộc người Quần Thư qua lại, cũng là nơi không dễ gì mà đại quân có thể qua lại được.
Còn như Trường Giang, lại hoá ra là thuận tiện nhất cho thuỷ quân qua lại, song xuôi dòng và ngược dòng, tốc độ thuyền bè chênh lệch nhau rất xa, ảnh hưởng nhiêu đến chiến đấu, nếu xuôi dòng mà tiến, ngược dòng mà thoái, thấy lợi mà tiến thì dễ, thấy bất lợi mà thoái thì khó; ngược lại cũng thế. Hơn nữa hai bờ sông lại hoang vu, không có một con đường nào có thể đi được, cho nên thuỷ quân cũng chỉ có thể chia ra những phân đội nhỏ đánh úp, không thể dùng chủ lực mà quyết chiến được.
Trên bản đồ có vẽ bốn nét khuất từ Cô Tô đến Sính đô.
Nét thứ nhất: Ngược sông lớn lên phía tây, tới Sính đô.
Nét thứ hai: Từ Vân Lâu (phía tây nam huyện Hoặc Khiu, tỉnh An Huy bây giờ), Kê Phụ (huyện Cố Thuỷ, tỉnh Hà Nam bây giờ) vượt qua Ải Môn quan (cửa ải nơi giao nhau giữa huyện Kim Trại tỉnh An Huy với huyện Ma Thành, tỉnh Hồ Bắc bây giờ) đến Bách Cử (huyện Ma Thành tỉnh Hồ Bắc bây giờ) sau đó đi qua Vân (huyện An Lục – có thuyết nói là huyện Vân, tỉnh Hồ Bắc bây giờ), vượt sông Hán Thuỷ, đến Sính đô.
Nét thứ ba: Ngược sông Hoài lên phía tây, qua Hoàng (huyện Hoàng Xuyên, tỉnh Hà Nam bây giờ), Huyền (huyện Quang Sơn, tỉnh Hà Nam bây giờ) xuyên qua ba cửa ải ở Nghĩa Dương là Đại Tuy, Trực Viên, Minh Ách, để đến Tuỳ (thành phố Tuỳ Châu, tỉnh Hồ Bắc bây giờ), vượt Hán Thuỷ để tới Sính đô.
Nét thứ tư: Từ bờ bắc sông Hoài, đi qua giữa hai nước Trần, Thái, đánh lấy Phương Thành (huyện Phương Thành – Hà Nam bây giờ) và Thân, Lã… của nước Sở, sau lại quay về Tương, vượt Hán Thuỷ đến Sính đô.
Bốn nét vẽ ấy chính là những con đường có thể lựa chọn để quân Ngô đánh nước Sở, cho nên đã được vẽ bằng nét khuất, là bởi vì còn chưa chọn hẳn một đường nào. Tôn Tử nhìn rất kỹ một lần nữa về địa lý binh lược để đánh Sở, chưa phát hiện ra một sai sót nào. Để cho thật cẩn thận, ông nhìn qua lại một lượt, trọng điểm nghiền ngẫm ba bốn chỗ, bước đi thong thả, suy nghĩ hồi lâu, sau cùng quả quyết bước lên phía trước, vùng cây bút son vẽ đậm nét khuất thứ hai và thứ ba bằng màu đỏ, đó chính là con đường quân Ngô đánh Sở vào Sính đô. Hai con đường này tuy đi qua những con đường nhỏ ở dãy núi Dự Chương, chỉ có thể để bộ binh đi lại, nhưng lại đi ở nơi chưa có chân người, tức là “Từ con đường không ai tính đến đánh vào chỗ chúng không đề phòng” như đã ghi trong “Tôn Tử binh pháp” hơn nữa đây lại là con đường ngắn nhất để Ngô đánh Sở. Còn như nét vẽ thứ nhất, lấy thuỷ quân tiến công bằng đường sông lại rất tiện và nhanh, nhưng Sở là nước có lục quân lớn mạnh, cho dù quân thuỷ có vào Sính đô, nếu không đánh tan lục quân của họ, cũng không có khả năng phá được nước Sở. Nét vẽ thứ tư là một con đường xa xôi, phạm vào điều cấm kỵ là quân đánh lẻ mà tiến sâu, hơn nữa thực lực lục quân nước Sở, phần lớn bố trí ở vùng Phương Thành, Thân, Lã, có cái thế lấy kẻ nghỉ ngơi đánh người mệt mỏi.
Hai nét vẽ đỏ ngời lên như lửa cháy, chiếu cho cả căn phòng rực lên như nhuộm đỏ, một tia sáng lọt qua rèm the chiếu vào thư phòng của Tôn Tử, ánh nến chan hoà vào ánh ban mai…
❀ ❀ ❀
[1] Ở phía Đông nam huyện Nhữ Nam, tỉnh Hà Nam ngày nay.
[2] Phía tây nam Lạc Ấp ngày nay.
[3] Đông nam huyện Đàm Thành tỉnh Sơn Đông ngày nay.
[4] Tây bắc Tâm Thuỷ tỉnh Sơn Đông ngày nay.
[5] Huyện Hiệp, tỉnh Hà Nam ngày nay.
[6] Vùng núi Hùng Nhĩ, tỉnh Hà Nam ngày nay.
[7] Thành phố Trấn Giang, tỉnh Giang Tô bây giờ.
[8] Hành nhân vốn là chức quan ở gần để nhà vua hỏi han. Chức hành nhân của Ngũ Tử Tư lại khác, thực tế là tham mưu, là quân sư của Hạp Lư.
[9] Phía đông huyện Tỉ Quy, Hồ Bắc bây giờ.
[10] Thành phố Giang Lăng, Hồ Bắc bây giờ.
[11] Phía bắc Giang Tây bây giờ.
[12] Huyện Đặng, tỉnh Hà Nam bây giờ.
[13] Thành phố Nam Dương, Hà Nam bây giờ.
[14] Huyện Tức, Hà Nam bây giờ.