Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
04

❊ ❊ ❊

Nhưng thành công đó lại khá ngắn ngủi.

Đại họa cuối cùng hủy diệt đảo Phục Sinh không phải do những yếu tố trên đảo gây ra, mà đến từ những con tàu châu Âu. Sự kiện bi thảm này bắt đầu vào ngày 7 tháng 4 năm 1722, khi Jacob Roggeveen và thủy thủ đoàn của ông chuẩn bị lên bờ. Một người đàn ông cởi trần chèo một chiếc thuyền đến. Ông ấy tầm ngoài 50, vóc người rắn rỏi, nước da đen, trên người toàn hình xăm cộng thêm một chòm râu dê.

Khi đã lên boong tàu, ông tạo ấn tượng sôi nổi và hoạt bát. Ông tỏ ra kinh ngạc trước “chiều cao vĩ đại của những cột buồm, độ dài của thừng chão, những lá buồm, súng thần công, ông ấy sờ vào những thứ đó và nhiều vật dụng trên tàu với vẻ rất thận trọng”.[1] Ông hoảng hốt khi nhìn thấy chính mình đang phản chiếu trong một tấm gương, sợ hãi khi chuông trên tàu vang lên và khi được mời một ly rượu brandy, ông lại đổ vào mắt mình.

Điều gây ấn tượng với Roggeveen nhất là tinh thần phấn chấn, vui vẻ của người dân trên đảo. Ông nhảy múa, ông ca hát, ông cười và lặp đi lặp lại những từ “O dorroga! O dorroga!”. Mãi cho đến sau này các học giả mới đoán được có lẽ những từ đó có nghĩa là “Hoan nghênh”.

Nhưng đó sẽ là một sự chào đón cay đắng. Roggeveen thả neo với 134 người trên ba chiếc tàu và hai thuyền nhỏ. Trong khi dân đảo Phục Sinh thể hiện lòng mến khách chào đón những người mới đến thì những người Hà Lan sắp thành hàng ngũ chiến đấu. Và sau đó, không hề cảnh báo, bốn hay năm tiếng súng vang lên. Chỉ huy ra lệnh: “Nào, nào, khai hỏa!” Thêm ba mươi tiếng súng nữa. Cư dân trên đảo bỏ chạy vào sâu trong đảo, để lại khoảng mười xác chết trên bãi biển. Trong số đó có người đàn ông thân thiện đã chào đón hạm đội với tiếng “O’dorrogal”. Roggeveen rất giận những kẻ đã ra lệnh nổ súng, họ đổ lỗi là do hiểu nhầm, nhưng nhật kí của ông không hề đề cập đến hình phạt. Khi đêm xuống, Roggeveen kiên quyết rời đi với hi vọng tiếp tục nhiệm vụ tìm thấy Vùng đất phương Nam.

Bốn mươi tám năm sau, một hạm đội khác đặt chân lên đảo Phục Sinh. Đoàn viễn chinh do thuyền trưởng Don Felipe Gonzalez dẫn đầu, họ dựng ba cây thập giá bằng gỗ, trương cờ Tây Ban Nha và tuyên bố đảo thuộc về Đức Mẹ Maria Đồng trinh. Nhưng cư dân đảo Phục Sinh dường như chẳng hề quan tâm đến điều đó.

Đây là bức tranh của họa sĩ Gaspard Duché de Vancy, người tới thăm đảo Phục Sinh ngày 9 tháng 4 năm 1786. Có lẽ, hình ảnh này nói về người Pháp và quan điểm thực dân của ông ấy nhiều hơn là về những cư dân đảo Phục Sinh. Việc nó vẫn còn tồn tại là một phép màu, vì de Vancy là thành viên một đoàn thám hiểm bất hạnh do nhà thám hiểm Jean-Francois de Galaup, Comte de La Pérouse dẫn đầu. Năm 1787 người Pháp đến bán đảo Kamchatka ở Đông Bắc Nga. Để an toàn, La Pérouse quyết định gửi về quê nhà một báo cáo trước về chuyến hải trình của mình (gồm cả hình minh họa này). Một năm sau, đoàn thám hiểm của ông bị đắm tàu. Chuyện gì đã xảy ra với La Pérouse, họa sĩ De Vancy của đoán, và những thành viên trong thủy thủ đoàn là một bí ẩn mà các học giá vẫn đang tìm cách làm sáng tỏ. Nguồn: Cục lưu trữ Hulton.

“Chẳng có dấu hiệu hận thù nào,” những kẻ đi chinh phạt ghi nhận.[2] Khi những người Tây Ban Nha tặng cư dân một cây cung và mũi tên mới, những cư dân yêu chuộng hòa bình bối rối không biết làm gì với món quà. Cuối cùng, họ chọn cách đeo nó như một chiếc vòng cổ.

Bốn năm sau, tức là năm 1774, một đoàn viễn chinh người Anh dưới sự chỉ huy của James Cook tìm đến. Chính Thuyền trưởng Cook, sau ba hải trình huyền thoại vượt Thái Bình Dương, cuối cùng cũng chứng minh rằng Vùng đất phương Nam là một câu chuyện hoang đường. Ông gia nhập vào hàng ngũ những nhà thám hiểm vĩ đại nhất trong lịch sử, còn tên tuổi Roggeveen thì bị lãng quên từ lâu.

Địa vị được trọng vọng của Cook có thể giải thích lý do các nhà tiên tri rất tin tưởng vào những quan sát của ông về đảo Phục Sinh. Cook là người đầu tiên báo cáo về những tượng moai bị kéo đổ và – có lẽ quan trọng hơn – mô tả những cư dân là “nhỏ bé, gầy gò, nhút nhát và khốn khổ”.

Nói một cách chính xác hơn đó là những gì người ta vẫn trích dẫn khi nói đến báo cáo của Cook. Thật kì lạ, khi một nhà nghiên cứu tại Đại học Toronto đọc lại nhật kí của Cook, ông đã không hề tìm thấy bất kì đoạn mô tả nào như vậy.[3] Thay vào đó, nhà nghiên cứu thấy Cook đã ghi lại rằng các cư dân “lanh lợi, hoạt bát, vẻ ngoài rất đẹp và không tỏ nét mặt khó chịu nào; với những người lạ, họ tỏ ra khá thân thiện và hiếu khách”.[4]

Vậy Cook đã đưa ra đánh giá gay gắt đó ở đâu? Chúng ta cần tìm ở nguồn tài liệu nào để thấy những trích dẫn của Cook khớp với câu chuyện về sự sụp đổ của đảo Phục Sinh, thậm chí những đánh giá gay gắt đó còn được đưa lên tạp chí khoa học Nature đầy uy tín?[5] Jared Diamond lựa chọn nguồn trích dẫn từ Paul Bahn và John Flenley (hai tác giả của cuốn sách Easter Island, Earth Island), nhưng hóa ra hai tác giả này lại chẳng trích dẫn từ ai cả. Tôi quyết định thử tự mình truy vết lại lời trích dẫn bí ẩn đó. Sau một ngày dài trong thư viện, tôi đã tìm thấy nó, trong một cuốn sách khô khan do một giáo sư lý thuyết suông viết vào năm 1961.[6]

Chủ đề của cuốn sách là gì ư? Cuộc thám hiểm của người Na Uy đến đảo Phục Sinh. Tác giả là ai? Thor Heyerdahl.

Đúng vậy: nguồn trích dẫn sai lệch của Cook không từ ai khác, mà chính là từ nhà thám hiểm Na Uy đồng thời là nhà quán quân của một số ý tưởng khá liều lĩnh. Đây cũng chính là người vừa xuất bản một cuốn sách khá thịnh hành trong đó ông ấy tưởng tượng rằng hòn đảo ban đầu có những người Inca tai dài sinh sống trước khi bị những người Polynesian tai ngắn ăn thịt đồng loại xâm lược. Cũng chính Thor Heyerdahl là người viết lại những nhận xét về cư dân đảo “vô hại và thân thiện” của Cook thành một cộng đồng dân cư “nguyên thủy chuyên ăn thịt đồng loại.”[7]

Những câu chuyện hoang đường ra đời như vậy.

Trong khi đó, vẫn còn một bí ẩn cần giải đáp: Tại sao cư dân đảo Phục Sinh lại tự mình phá hủy những bức tượng hoành tráng mà họ đã tạo ra?

Để có câu trả lời, chúng ta hãy trở lại cuốn nhật kí của Jacob Roggeveen. Trước khi ông ấy đến, suốt hàng trăm năm, cư dân của hòn đảo cho rằng họ hoàn toàn cô độc trên thế giới này. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà tất cả tượng moai ngoảnh vào phía trong, hướng về hòn đảo thay vì hướng ra ngoài về phía biển.

Thế rồi, sau chừng ấy thời gian, ba con tàu lừng lững xuất hiện ở đường chân trời. Cư dân đảo đã nghĩ gì về những người Hà Lan xa lạ, với những con tàu phi thường và hỏa lực đáng sợ của họ? Họ là những nhà tiên tri chăng? Hay các vị thần? Sự xuất hiện của họ và cuộc thảm sát trên bãi biển hẳn là một cú sốc nặng nề. “Thậm chí cháu chắt của họ cũng có lúc kể lại câu chuyện đầy bi thương đó,” một thủy thủ người Hà Lan đã nói.[8]

Những thủy thủ Tây Ban Nha là những người tiếp theo trống dong cờ mở đặt chân đến hòn đảo này. Họ trình diễn một đám rước nghi lễ có trống và phất cờ rồi kết thúc màn phô trương với ba loạt đại bác rền vang.

Liệu có phải là suy diễn khi cho rằng, những sự kiện này đã gây ra tác động rất lớn đến cư dân đảo và cách họ nhìn nhận thế giới? Trong khi Roggeveen miêu tả cảnh họ quỳ gối trước tượng moai, thì Cook nói các bức tượng “không còn được cư dân hiện tại xem như những tượng thần, bất kể chúng có ý nghĩa gì vào thời kì của những người Hà Lan đi nữa”. Hơn nữa, ông còn ghi thêm rằng cư dân đảo “chẳng buồn sửa sang phần chân của những bức tượng sắp hỏng”.[9]

Đến năm 1804, theo miêu tả của một thủy thủ người Nga, thì chỉ còn một ít tượng moai vẫn đang đứng thẳng, số còn lại có lẽ bị đổ, hoặc bị chủ ý quật ngã, hoặc có thể do cả hai.[10] Dù là gì đi chăng nữa thì những truyền thống xung quanh tượng moai cũng đã mai một và chúng ta sẽ không bao giờ biết chính xác tại sao lại như vậy. Hai giả thuyết được đưa ra, một trong hai hoặc cả hai đều có thể đúng. Giả thuyết thứ nhất là cư dân đảo tìm được trò tiêu khiển mới. Sau khi những cánh rừng mất đi, việc di chuyển những khối đá lớn gặp nhiều khó khăn cho nên người dân nghĩ ra những trò mới để sống cho qua ngày đoạn tháng.[11]

Một giả thuyết nữa được đưa ra liên quan đến những gì mà các học giả gọi là “sùng bái hàng hóa”, nghĩa là, một sự ám ảnh với người phương Tây và đồ vật của họ.[12] Vì một lí do nào đó, cư dân đảo Phục Sinh đã cảm thấy mê mẩn những chiếc mũ của người phương Tây. Một đoàn thám hiểm của Pháp đã mất toàn bộ mũ đội đầu chỉ trong vòng một ngày sau khi họ đến hòn đảo này, điều này khiến cư dân trên đảo cảm thấy rất vui.

Cũng khoảng thời gian này cư dân đảo đã dựng một ngôi nhà có hình dáng giống với chiếc tàu của người châu Âu, xây những gò đá giống các con thuyền và thực hiện những nghĩ thức bắt chước các thủy thủ châu Âu. Các học giả tin đó có thể là sự cố gắng nhằm lôi kéo những người nước ngoài quay trở lại hòn đảo cùng với những món quà lạ lẫm và thú vị của họ.

Và đúng là họ đã trở lại, nhưng lần này họ không mang theo hàng hóa để giao thương. Lần này, chính cư dân đảo sẽ trở thành món hàng.

❀ ❀ ❀

[1] Jacob Roggeveen, Dagverhaal der ontdekkings-reis van Mr. Jacob Roggeveen (Middelburg, 1838), tr. 104.

[2] Bolton Glanvlll Corney, The Voyage of Captain Don Felipe Gonzalez to Easter Island 1770-1 (Cambridge, 1908), tr. 93.

[3] Beverley Haun, Inventing Easter Island (Toronto, 2008), tr. 247.

[4] James Cook, A Voyage Towards the South Pole and Round the World, Phần 1 (1777).

[5] Henry Lee, “Treeless at Easter”, Nature (ngày 23 tháng 9 năm 2004).

[6] Cuốn sách nghi vấn là của Thor Heyerdahl chủ biên. Archaeology of Easter Island. Reports of the Norwegian Archaeological Expedition to Easter Island and the East Pacific (Phần 1,1961), tr. 51.

[7] Thor Heyerdahl, Aku-Aku: The Secret of Easter Island (1957).

[8] Nội dung của Carl Behren có trong phụ lục cuốn sách của Glanvill Corney, The voyage of Captain Don Felipe Gonzalez to Easter Island 1770-1, tr. 134.

[9] Cook, A Voyage Towards the South Pole and Round the World, Chương 8.

[10] Một số nhà khoa học tin rằng các bức tượng bị đổ trong một trận động đất. Số khác lại nghĩ một số moai được đặt lên các nấm mộ của những tù trưởng đã chết. Xem Edmundo Edwards chủ biên, “When the Earth Trembled, the Statues Fell”, tạp chí Rapa Nui (tháng 3 năm 1996).

[11] Điều này cũng làm xuất hiện trong tục “Thờ người chim”, một cuộc thi thường niên giữa các thanh niên đại diện cho các bộ lạc khác nhau nhằm giành được quả trứng nhạn biển (một loài hải điểu) đầu tiên trong mùa. Chính xác truyền thống này xuất hiện khi nào thì không rõ, nhưng có lẽ trước khi Roggeveen đến. Tục này cũng gắn với moai. Sau cuộc thi, thủ lĩnh mới được bầu đến sống trong một ngôi nhà bên ngoài mỏ đá nơi các bức tượng được đẽo gọt. Khi Roggeveen đến vào năm 1722, moai vẫn có chức năng nghi lễ, thậm chí nếu không còn khả năng vận chuyển chúng (sử dụng cây) và cho dù tục Thờ Người chim có lẽ đã tồn tại.

[12] Josh Pollard, Alistair Paterson và Kate Welham, “Te Miro o’one: the Archaeology of Contact on Rapa Nui (Easter Island)” World Archaeology (tháng 12 năm 2010).

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.