Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1129 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời Nguyền Của Nền Văn Minh - 01

❊ ❊ ❊

Vậy quan điểm Jean-Jacques Rousseau về bản chất con người có đúng không? Có phải bản chất con người là cao thượng và tất cả những điều chúng ta làm đều tốt đẹp, cho tới khi nền văn minh xuất hiện?

Tôi bắt đầu có ấn tượng với quan điểm này. Hãy xem phần miêu tả dưới đây, do một lữ khách đến bờ biển Bahamas ghi lại vào năm 1492. Khi đặt chân lên đảo, ông rất ngạc nhiên vì thấy cư dân nơi đây rất hiền lành. “Họ không mang vũ khí, và cũng không hề biết vũ khí là gì, vì khi tôi cho họ xem một thanh gươm… họ đã tự làm đứt tay mình do chẳng biết gì.” Việc này khiến cho ông nảy ra một ý: “Họ sẽ trở thành những nô lệ rất tốt… Chỉ với năm mươi người, chúng tôi có thể chinh phục và bắt tất cả những người trên đảo làm bất kì điều gì chúng tôi muốn.”[1]

Christopher Columbus – lữ khách được nhắc đến – không mất nhiều thời gian để hiện thực hóa kế hoạch của mình. Vào năm sau đó ông trở lại đảo với 17 con tàu cùng 1.500 người, và bắt đầu nghề buôn bán nô lệ xuyên đại dương. Nửa thế kỉ sau, chưa đầy 1% dân cư Carib bản địa còn sót lại; số còn lại không chịu nổi những điều đáng sợ của bệnh tật và chế độ nô dịch.

Đó quả là một cú sốc với những người được gọi là nguyên thủy khi gặp phải những kẻ thực dân tự cho mình là “văn minh”. Với một số người, quan niệm rằng một người có thể bắt cóc hay giết hại người khác thật lạ lẫm và vô lí. Nếu bạn thấy điều này thật khó tin thì hãy lưu ý rằng, ngày nay, vẫn có nhiều nơi coi việc giết người là chuyện không thể hiểu nổi.

Chẳng hạn, trên vùng biển rộng lớn của Thái Bình Dương, có một đảo san hô nhỏ xíu gọi là Ifalik. Sau Thế chiến thứ Hai, Hải quân Hoa Kỳ quay một vài bộ phim Hollywood trên hòn đảo để tăng cường thiện chí với người Ifalik. Nhưng hóa ra đó lại là thứ kinh hoàng nhất mà người dân đảo từng thấy. Những cảnh quay bạo lực đã gây sốc cho người dân bản địa, họ cảm thấy sợ hãi, thậm chí một số người sau khi xem những cảnh quay đó còn đổ bệnh vài ngày liền.

Mấy năm sau, một nhà nhân chủng học đến đảo Ifalik để thực hiện điền dã, người dân bản địa hỏi đi hỏi lại bà: Chuyện đó có thật không? Có thật sự là có những người ở Mỹ giết hại người khác không?[2]

Vậy là bí mật này nằm ngay trung tâm lịch sử loài người. Nếu trong bản năng chúng ta có một mối ác cảm sâu sắc với bạo lực, thì mọi việc xấu đi ở chỗ nào? Nếu chiến tranh có một sự khởi đầu thì nguyên nhân nào khiến nó bắt đầu?

Thứ nhất, có một ghi chép cảnh báo về cuộc sống thời tiền sử: chúng ta phải đề phòng việc vẽ một bức tranh quá lãng mạn về tổ tiên của mình. Con người chưa bao giờ là những thiên thần. Đố kị, giận dữ và thù hận là những cảm xúc vốn ảnh hưởng xấu đến chúng ta. Thời nguyên thủy, sự oán giận cũng sôi sục. Và nói một cách công bằng, giống loài Homo puppy sẽ không bao giờ chinh phục được thế giới nếu chúng ta không, hoặc họa hoằn, phạm tội.

Để hiểu được nội dung vừa đề cập bên trên, bạn cần có những hiểu biết nhất định về chính trị tiền sử. Về cơ bản, tổ tiên của chúng ta dị ứng với sự bất bình đẳng. Việc đưa ra quyết định là vấn đề của cả nhóm, đòi hỏi suy xét lâu dài và tất cả mọi người phải có tiếng nói. Một nhà nhân chủng học người Mỹ, dựa trên cơ sở 339 nghiên cứu điền dã, cho biết: “Hầu hết mọi cư dân du mục đều bận tâm – và gần như là ám ảnh – đến việc được tự do trước quyền lực của những người khác.”[3]

Trong trường hợp người du mục chấp nhận, họ phân biệt quyền lực giữa mọi người là tạm thời và phục vụ cho một mục đích. Các nhà lãnh đạo am hiểu, hoặc khéo léo, hoặc có sức lôi cuốn hơn. Tức là họ có khả năng thực hiện được một công việc nhất định. Các nhà khoa học nhắc đến điều này như là bất bình đẳng dựa trên thành tích.

Đồng thời, những xã hội này sử dụng một vũ khí đơn giản để bắt các thành viên tự nguyện tuân theo đó là: sự xấu hổ. Nhà nhân chủng người Canada, Richard Lee từng mô tả về cuộc sống của người !Kung ở sa mạc Kalahari, nhằm chứng minh rằng điều này có thể hiệu quả như thế nào đối với tổ tiên của chúng ta. Dưới đây là câu chuyện của một thành viên bộ lạc về việc một thợ săn thành công được kì vọng cư xử như thế nào:

“Ban đầu ông ấy ngồi im lặng cho tới khi có ai đó tới chỗ đống lửa của ông ấy và hỏi, “Hôm nay bác nhìn thấy gì?” ông khẽ trả lời, “À, tôi không giỏi săn bắt. Tôi chẳng thấy gì cả… Có lẽ chỉ một con vật nhỏ xíu.” Sau đó, tôi mỉm cười vì biết rằng ông ấy đã giết được con gì đó rất lớn.”[4]

Xin đừng hiểu sai ý tôi – niềm tự hào hay lòng tham đều tồn tại từ rất lâu. Và trong hàng nghìn năm, giống loài Homo puppy đã làm mọi điều có thể để gạt bỏ những khuynh hướng này. Như một thành viên của bộ lạc !Kung đã diễn tả: “Chúng tôi từ chối người khoác lác, vì một ngày nào đó niềm kiêu hãnh của anh ta sẽ khiến anh ta giết hại ai đó. Cho nên chúng tôi luôn nói thịt của anh ta không có giá trị. Bằng cách này, chúng tôi làm dịu con tim của anh ta và giúp anh trở nên hòa nhã hơn.”[5]

Điều kiêng kị của những cư dân săn bắt hái lượm là tích trữ và dành dụm. Trong phần lớn lịch sử của nhân loại, chúng ta không thu thập, tích trữ mọi thứ, trừ tình bạn. Điều này chưa bao giờ khiến các nhà thám hiểm châu Âu hết kinh ngạc, những người thể hiện thái độ hoài nghi trước sự hào phóng của những con người mà họ gặp. Columbus viết trong nhật kí của mình: “Khi quý vị hỏi xin gì đó mà họ có, họ không bao giờ từ chối. Ngược lại, họ còn đề nghị được chia sẻ chiến lợi phẩm cho bất kì ai.”[6]

Dĩ nhiên, luôn có những người từ chối tuân thủ việc chia sẻ của cải hoặc chiến lợi phẩm một cách công bằng. Những kẻ trở nên quá ngạo mạn hoặc tham lam có nguy cơ bị trục xuất. Ngoài ra nếu cách đó không hiệu quả, thì còn một biện pháp cuối cùng.

Hãy xem một sự việc đã diễn ra trong bộ lạc !Kung. Nhân vật chính là !Twi, một thành viên ngày càng không thể làm chủ được mình và đã sát hại hai người. Mọi thành viên trong bộ lạc đều thấy phát ngán: “Mọi người trong bộ lạc đều bắn gã bằng tên độc cho tới khi gã trông như một con nhím. Sau khi gã chết, tất cả phụ nữ cũng như đàn ông tiến lại xác gã và tiếp tục lấy giáo đâm vào người đó, điều này tượng trưng cho việc chia sẻ trách nhiệm về cái chết của gã.”[7]

Các nhà nhân chủng học cho rằng những can thiệp như thế này thỉnh thoảng vẫn diễn ra ở thời tiền sử, khi các bộ lạc giải quyết những thành viên bất tuân và hình thành phức cảm tự tôn. Đây là một trong những cách con người chúng ta thuần hóa chính mình: những cá nhân hung hăng ít có cơ hội để sinh con đẻ cái, trong khi những người hành xử hòa nhã hơn có nhiều hậu duệ hơn.[8]

Trong phần lớn lịch sử nhân loại, đàn ông và đàn bà ít nhiều bình đẳng. Trái ngược với khuôn mẫu người hang động mà chúng ta tưởng tượng giống như một con khỉ đột tự đấm ngực thình thịch, kéo lê theo cây chùy và dễ nổi giận, nam giới thời nguyên thủy có lẽ không phải những người gia trưởng. Họ giống những người ủng hộ nữ quyền nhiều hơn.

Các nhà khoa học cho rằng sự bình đẳng giữa hai giới ở giống loài Homo sapiens chính là lợi thế then chốt so với các giống người khác như người Neanderthal. Qua nhiều nghiên cứu thực địa, các nhà khoa học thấy rằng trong những xã hội phụ hệ, đàn ông chủ yếu giao du với các anh em ruột và họ hàng cũng là nam giới. Ngược lại, trong những xã hội nơi quyền lực được chia sẻ với phụ nữ, con người thường có mạng lưới xã hội đa dạng hơn.[9] Và, như chúng ta thấy trong Chương 3, nhiều bạn hơn sẽ giúp chúng ta trở nên khôn ngoan hơn.

Bình đẳng giới cũng dễ thấy trong việc làm cha mẹ. Đàn ông trong xã hội nguyên thủy dành nhiều thời gian với con cái của họ hơn là những ông bố hiện nay.[10] Chăm sóc con cái là trách nhiệm mà cả bộ lạc đều quan tâm và chia sẻ: trẻ sơ sinh do tất cả mọi người trông coi và thỉnh thoảng còn được những phụ nữ không phải mẹ cho bú. Một nhà nhân chủng học ghi lại: “Những trải nghiệm ban đầu như vậy, giúp chúng ta lý giải tại sao trẻ em trong những xã hội săn bắt hái lượm có xu hướng lĩnh hội các mô hình làm việc về thế giới của mình như là một ‘nơi cho đi’.”[11] Trong khi các bậc phụ huynh hiện đại cảnh báo con cái không được nói chuyện với người lạ thì ở thời tiền sử những đứa trẻ được nuôi nấng dựa trên sự tin tưởng những người lạ.

Ngoài ra, còn có những dấu hiệu mạnh mẽ cho thấy rằng cư dân săn bắt hái lượm khá thoải mái về đời sống tình cảm của họ. “Chế độ một vợ một chồng nối tiếp” là cách một số nhà sinh vật học mô tả chúng ta. Hãy xem bộ lạc Hadza ở Tanzania, nơi mà trung bình một người một đời thường có hai hoặc ba bạn tình, và phụ nữ được lựa chọn bạn đời.[12] Hoặc bộ lạc Aché cư trú ở vùng núi tại Paraguay, nơi trung bình một phụ nữ có tới 12 người chồng trong một đời người.[13] Việc có một số lượng lớn những người cha tiềm năng này có thể hữu ích vì tất cả họ đều tham gia vào việc nuôi dạy con cái của người phụ nữ đó.[14]

Khi một nhà truyền giáo thế kỉ 17 cảnh báo một thanh niên trong bộ lạc Innu (ở khu vực nay là Canada) về những hiểm họa của việc không chung thủy, thanh niên đó trả lời, “Vậy là cha không có tri giác. Người Pháp các vị chỉ yêu con cái của chính mình; nhưng chúng tôi yêu thương tất cả trẻ con trong bộ lạc chúng tôi.”[15]

❀ ❀ ❀

[1] Sarah Blaffer Hrdy, Mothers and Others. The Evolutionary Origins of Mutual Understanding (2009), tr. 27.

[2] Catherine A. Lutz, Unnatural Emotions: Everyday Sentiments on a Micronesian Atoll & Their Challenge to Western Theory (Chicago, 1988).

[3] Christopher Boehm, Hierarchy in the Forest. The Evolution of Egalitarian Behavior (Cambridge, 1999), tr. 68. Xem thêm Christopher Boehm, Moral Origins. The Evolution of Virtue, Altruism and Shame (New York, 2012), tr. 78-82.

[4] Robert Lee, The !Kung San: Men, Women, and Work in a Foraging Society (Cambridge, 1979), tr. 244.

[5] Như trên, tr. 246.

[6] Blaffer Hrdy, Mothers and Others, tr. 27.

[7] Lee, The !Kung San, tr. 394-5.

[8] Có lẽ không thể kiềm chế được các thủ lĩnh thừa tự tin nếu không có sự đổi mới đơn giản nhưng hiệu quả về vũ khí phóng xa, tức là nói rằng chúng ta học cách ném đá, phóng giáo và bắn tên. So sánh xương Homo khai quật được cho thấy rằng, theo thời gian, vai và cổ tay chúng ta tiến hóa, làm cho chúng ta thành những người ném giỏi hơn. Trong khi con người có mục đích rất rõ thì tinh tinh và đười ươi lại không (một con tinh tinh giận dữ thỉnh thoảng cũng ném gì đó, nhưng thường trượt). Các nhà khảo cổ nghĩ vũ khí phóng xa của chúng ta có lẽ tinh xảo hơn hẳn bất kì thứ gì người Neanderthal có. Theo nhà nhân chủng học tiến hóa Peter Turchin, điều này cần được xem là phát minh then chốt trong lịch sử nhân loại, thậm chí vượt hơn cả lửa, nông nghiệp và bánh xe. Không có vũ khí phóng xa, những thành viên hung hãn hơn của giống loài chúng ta đáng lẽ có nhiều hậu duệ hơn và giống loài Homo puppy có thế không bao giờ tự thuần hóa.

[9] Về mặt cá nhân, cư dân săn bắt hái lượm thích thành viên thân thích của họ. Nếu đàn ông có quyền lực độc tôn thì họ ưu ái gia đình của riêng họ. Nếu đàn ông và phụ nữ chia sẻ quyền lực, họ phải nhượng bộ. Họ sẽ muốn sống với cả hai bên của gia đình, dẫn đến một mạng lưới xã hội phức tạp hơn. Đây chính là những gì chúng ta thấy ở cư dân săn bắt hái lượm du mục. Xem M. Dyble chủ biên, “Sex Equality Can Explain the Unique Social Structure of Hunter-Gatherer Bands”, Science, tập 348, số 6236 (ngày 15 tháng 5 năm 2015). Xem thêm Hannah Devlin, “Early Men and Women Were Equal, Say Scientists”, Guardian (ngày 14 tháng 5 năm 2015).

[10] Blaffer Hrdy, Mothers and others, tr. 128.

[11] Như trên, tr. 134.

[12] Nicholas A. Christakis, Blueprint. The Evolutionary Origins of a Good Society (New York, 2019), tr. 141-3.

[13] Carel van Schaik và Kai Michel, The Good Book of Human Nature. An Evolutionary Reading of the Bible (New York, 2016), tr. 51.

[14] Đấy là chưa nói rằng dân chơi thập niên 60 của thế kỉ trước răt đúng với suy nghĩ con người sinh ra để tự do yêu đương. Hôn nhân khớp hoàn hảo với bản chất của chúng ta, giống loài Homo puppy là một trong vài động vật có vú tham gia “ràng buộc theo cặp” – tức là tình yêu lãng mạn. Giả dụ vậy, thì chúng ta không phải đều là những người hùng trong việc thủy chung tới khi cái chết chia lìa chúng ta, nhưng khoa học nói rằng mối quan hệ yêu đương là khát vọng phổ quát của con người. Xem Christakis, Blueprint, tr. 168.

[15] E. Leacock, Myths of Male Dominance. Collected Articles on Women Cross-Culturally (New York, 1981), tr. 50.

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.