Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1172 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
03

❊ ❊ ❊

Trong phiên bản đầu tiên của chương này, tôi đã bỏ ngỏ câu trả lời. Kết luận của tôi là, cũng như màn nhập vai tàn bạo của Philip Zimbardo, nghiên cứu của Milgram chẳng khác gì một trò hề.

Nhưng những tháng sau khi gặp Gina Perry, tôi bị một mối ngờ vực đeo bám dai dẳng. Lẽ nào tôi quá hăng hái trong việc loại bỏ cái máy sốc điện? Tôi nghĩ lại cuộc thăm dò của Milgram với gần 40 đồng nghiệp, hỏi họ xem có khoảng bao nhiêu đối tượng sẽ lựa chọn công tắc 450 volt. Tất cả đều đoán rằng chỉ những người thật sự điên hoặc bối rối mới nhấn cái công tắc cuối cùng đó.

Có một điều chắc chắn khác: các chuyên gia đều nhầm to. Ngay cả khi tính đến quan điểm định kiến của Milgram, anh chàng trợ lý hung hăng của ông ấy và sự hoài nghi trong số những tình nguyện viên, vẫn có quá nhiều người bị quyền lực làm cho mờ mắt. Quá nhiều người bình thường tin rằng những cú sốc điện là thật nhưng vẫn tiếp tục ấn cái công tắc cao nhất đó. Dù bạn nhìn nhận vấn đề như thế nào, kết quả của Milgram rất đáng lo ngại.

Và đó không chỉ là kết quả của Milgram. Các nhà tâm lý học khắp thế giới từng tái hiện lại thí nghiệm sốc điện của ông bằng nhiều hình thức khác nhau, với những cải biến nho nhỏ (như rút ngắn thời gian thí nghiệm) để thỏa mãn các hội đồng đạo đức của các trường đại học. Có rất nhiều chỉ trích đối với những nghiên cứu này, nhưng sự thật không lấy gì làm dễ chịu lặp đi lặp lại là kết quả vẫn như nhau.

Nghiên cứu của Milgram dường như không thể bác bỏ giống như tấm áo giáp chống đạn. Như một thứ xác sống không chịu chết, nó cứ quay trở lại. “Người ta đã cố gắng hạ bệ nó nhưng nó luôn đứng vững.”[1] Rõ ràng, người bình thường có khả năng thực hiện hành động độc ác với người khác.

Nhưng tại sao lại vậy? Tại sao giống loài Homo puppy lại bật công tác 450 volt nếu chúng ta vốn tử tế? Đó là câu hỏi tôi cần trả lời.

Điều đầu tiên tôi thắc mắc là liệu những thí nghiệm tuân lệnh của Milgram có thực sự dùng để kiểm chứng sự tuân phục. Dưới đây là phần ghi chép ông ấy viết cho Williams – người mặc áo choàng xám, đóng vai hướng dẫn đối tượng nghiên cứu bật công tắc – chỉ đạo người này thúc ép những đối tượng nghiên cứu ương ngạnh bằng bốn cách:

Thứ nhất là nói: “Xin hãy tiếp tục”.

Tiếp theo: “Thí nghiệm yêu cầu quý vị tiếp tục thực hiện”.

Sau đó: “Việc quý vị cần tiếp tục thực hiện nghiên cứu này là tuyệt đối cần thiết”.

Và cuối cùng: “Quý vị không có lựa chọn nào khác, quý vị phải tiếp tục”.

Các nhà tâm lý học ngày nay chỉ ra rằng chỉ có dòng cuối cùng mới là một mệnh lệnh. Khi nghe lại các cuộn băng, rõ ràng ngay khi Williams nói những lời này, tất cả mọi người đều dừng lại. Hiệu ứng ở đây là sự bất tuân tức thời. Điều này đã đúng vào năm 1961, và cũng đúng khi thí nghiệm của Milgram được tái hiện lại nhiều lần sau đó.[2]

Những phân tích chi li về hàng trăm lượt sốc điện của Milgram càng tiết lộ rằng các đối tượng càng thêm bất tuân khi người đàn ông mặc áo choàng xám càng thể hiện sự áp đặt nhiều hơn. Nói cách khác: Giống loài Homo puppy không tuân theo mệnh lệnh của quyền lực một cách ngu ngốc. Hóa ra chúng ta có một sự ác cảm rành rành đối với lối hành xử hống hách.

Vậy thì làm thế nào Milgram có thể thuyết phục các chủ thể của mình tiếp tục nhấn công tắc? Alex Haslam và Steve Reicher, những nhà tâm lý học đứng đằng sau Nghiên cứu Nhà tù BBC (xem Chương 7), đã đưa ra một giả thuyết hấp dẫn khác. Thay vì phục tùng người huống dẫn thí nghiệm, những người tham gia quyết định tiếp tục tiến hành thí nghiệm. Tại sao ư? Vì họ tin anh ta.

Haslam và Reicher nhận thấy rằng hầu hết những người tình nguyện tham gia nghiên cứu đều đến với cảm giác họ hữu dụng. Họ muốn giúp Williams hoàn thành tốt công việc. Điều này giải thích tại sao tỉ lệ thiện chí chung giảm xuống khi Milgram thực hiện thí nghiệm trong một văn phòng đơn giản đối lập với khung cảnh cao quý của Đại học Yale. Nó cũng có thể giải thích lý do cách “thúc bách” gắn với một mục tiêu khoa học (như “Thí nghiệm đòi hỏi quý vị tiếp tục”) lại hiệu quả,[3] và tại sao những người tham gia hành xử không như những người máy thiếu suy xét, mà đầy băn khoăn ngờ vực.

Một mặt, đối tượng thí nghiệm đồng cảm với người mặc áo choàng xám, người liên tục nhắc đi nhắc lại rằng toàn bộ những việc họ đang thực hiện là vì lợi ích khoa học. Mặt khác, họ không thể phớt lờ sự khổ sở của học viên ở phòng bên kia. Những người tham gia liên tục kêu lên: “Tôi không thể thực hiện việc này thêm nữa” và “tôi bỏ cuộc”, ngay cả khi họ vẫn tiếp tục tiến tới công tắc tiếp theo.

Sau đó, một người đàn ông kể rằng, ông ấy kiên định vì con gái mình, một em bé sáu tuổi bị bại não. Ông hi vọng, một ngày nào đó thế giới y học sẽ tìm ra phương thuốc để chữa trị căn bệnh đó: “Tôi muốn nói rằng, tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì để giúp cho nhân loại, hãy hiểu theo cách đó.”[4]

Khi Milgram nói với các đối tượng nghiên cứu của mình rằng đóng góp của họ sẽ mang lại lợi ích cho khoa học, nhiều người đã thở phào. Một câu trả lời được nhiều người nói nhất là: “Tôi rất mừng vì mình có thể cống hiến một chút gì đó, và hãy tiếp tục các thí nghiệm của ngài bằng mọi cách chừng nào chúng đem lại điều tốt đẹp. Trong thế giới hỗn loạn điên khùng này của chúng ta, một chút tử tế thôi cũng là là điều cần thiết.”[5]

Khi nhà tâm lý học Don Mixon lặp lại thí nghiệm của Milgram trong những năm 70, ông rút ra cùng một kết luận mà sau này ông ghi lại, “Thực tế, mọi người sẵn sàng chịu khốn cùng để có được kết quả là sự tử tế. Người ta mắc kẹt trong việc cố để tử tế…”[6]

Nói cách khác, nếu bạn ép buộc người khác đủ mạnh, nếu bạn thúc bách, dụ dỗ và khuyên nhủ họ, thực tế nhiều người trong chúng ta sẽ có khả năng làm điều ác. Con đường tới địa ngục lát bằng những ý định tử tế. Nhưng cái ác không ở ngay bề mặt; phải bỏ công sức để lôi nó ra. Và quan trọng nhất, cái ác lại ngụy trang dưới lớp vỏ bọc là những điều tốt.

Mỉa mai thay, những ý định tốt cũng đóng vai trò quyết định trong Thí nghiệm Nhà tù Stanford ở Chương 7. Cai ngục sinh viên Dave Eshelman, người băn khoăn không rõ mình có tiến hành được mọi việc, nếu không được hướng dẫn một cách rõ ràng hay không, cũng mô tả mình là một “nhà khoa học tận tụy”.[7] Sau đó, anh nói mình cảm thấy đã làm được điều gì đó có ích: “Vì bằng cách nào đó, tôi đã đóng góp vào việc hiểu được bản chất con người.”[8]

Điều này cũng đúng với trường hợp của David Jaffe, viên trợ lý của Zimbardo với ý tưởng nhà tù nguyên gốc. Jaffe khuyến khích các cai ngục có thiện chí thực thi đường lối cứng rắn hơn bằng cách chỉ ra những lý do cao cả của nghiên cứu này. Anh ta nói với người cai ngục đang dao động: “Điều chúng tôi muốn làm là có thể […] bước ra ngoài kia và nói về những điều chúng ta đã làm: ‘Hãy nhìn xem, đây là những gì sẽ xảy ra khi các người sở hữu những cai ngục hành xử theo cách này.’ Nhưng để nói được như vậy chúng ta phải có những cai ngục hành xử theo cách ấy.”[9]

Cuối cùng, David Jaffe và Philip Zimbardo muốn công trình nghiên cứu của họ có thể tạo ra một cuộc cách mạng cho toàn hệ thống nhà tù. Jaffe trấn an anh chàng cai ngục: “Rất hi vọng những gì xuất hiện trong nghiên cứu này là một đề xuất nghiêm túc cho việc cải cách. Đây là mục tiêu của chúng ta. Chúng ta sẽ không cố để làm việc này chỉ vì chúng là đều là, ừm, những kẻ tàn bạo”.[10]

❀ ❀ ❀

[1] Cari Romm, “Rethinking One of Psychology’s Most Infamous Experiments”, The Atlantic (ngày 28 tháng 1 năm 2015).

[2] Stephen Gibson, “Milgram’s Obedience Experiments: a Rhetorical Analysis”, British Journal of Social Psychology, tập 52, số 2 (2011).

[3] S. Alexander Haslam, Stephen D. Reicher và Megan E. Birney, “Nothing by Mere Authority: Evidence that in an Experimental Analogue of the Milgram Paradigm Participants are Motivated not by Orders but by Appeals to Science”, tạp chí Social Issues, tập 70, số 3 (2014).

[4] Perry, Behind the Shock Machine, tr. 176.

[5] S. Alexander Haslam và Stephen D. Reicher, “Contesting the “Nature” of Conformity: What Milgram and Zimbardo’s Studies Really Show”, PLoS Biology, tập 10, số 11 (2012).

[6] Perry, Behind the Shock Machine, tr. 70.

[7] Blum, “The Lifespan of a Lie”.

[8] Như trên

[9] “Tape E” (không có ngày), Stanford Prison Archives, so ST-bO2-f21, tr. 6.

[10] Như trên, tr. 2.

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.