Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1290 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
04

❊ ❊ ❊

Giờ chúng ta hãy quay trở lại với Adolf Eichmann. Ngày 11 tháng 4 năm 1961 là ngày bắt đầu phiên tòa xét xử viên sĩ quan quốc xã về các tội ác chiến tranh. Trong 14 tuần tiếp theo, hàng trăm nhân chứng đã xuất hiện. Trong 14 tuần tiến hành truy tố, thẩm phán đã làm hết sức để bóc trần những tội ác là những việc Eichmann đã làm.

Đây không chỉ là một phiên tòa đơn thuần, nó còn là một bài học lịch sử gây chấn động, một sự kiện truyền thông được hàng triệu người theo dõi. Trong số đó có cả Stanley Milgram, ông được vợ mô tả như là “một người nghiện tin tức”, theo dõi sát sao quá trình xét xử.[1]

Khi đó, Hannah Arendt cũng ngồi trong phòng xét xử, sau này bà kể lại rằng: “Rắc rối với Eichmann chính xác là có quá nhiều người như hắn, và những người đó lại chẳng hề biến thái hay tàn bạo, họ đã và vẫn bình thường đến đáng sợ.”[2] Trong những năm sau đó, Eichmann được coi là đại diện tiêu biểu của “kẻ sát nhân bàn giấy” vô lương tâm – vì sự tầm thường của cái ác trong mỗi chúng ta.

Cho tới mãi gần đây, các nhà sử học mới đưa ra một vài kết luận khác. Khi cơ quan tình báo Israel bắt được Eichmann vào năm 1960, hắn đang ẩn náu ở Argentina. Tại đó, hắn từng được cựu sĩ quan SS Hà Lan là Willem Sassen phỏng vấn trong nhiều tháng. Sassen ôm mộng khiến Eichmann thừa nhận rằng kế hoạch tàn sát người Do Thái chỉ là một sự dối trá được thêu dệt để làm mất thể diện chế độ quốc xã. Nhưng ông ta đã thất vọng.

“Tôi không hối hận!” Eichmann dứt khoát trả lời ông ta.[3] Hoặc như hắn từng tuyên bố năm vào 1945: “Tôi sẽ cười ha hả khi xuống mồ bởi vì đối với tôi cảm giác mắc tội với năm triệu người đúng là hết sức thỏa mãn”.[4]

Khi đọc 1.300 trang phỏng vấn, tôi thấy trong đó tràn ngập những ý tưởng méo mó và suy nghĩ kì quái, rõ ràng Eichmann không phải là một quan chức đần độn. Hắn là một kẻ cuồng tín. Hắn hành động không phải bằng sự lãnh đạm, mà do được tin tưởng. Cũng như các đối tượng nghiên cứu trong thí nghiệm của Milgram, Eichmann làm điều ác vì hắn ta tin mình đang làm điều tốt.

Mặc dù bản ghi các cuộc phỏng vấn của Sassen có sẵn vào thời điểm xét xử, nhưng Eichmann vẫn tìm cách gây nghi ngờ về tính xác thực của các cuộc phỏng vấn. Và vì thế, hắn khiến cả thế giới nhìn nhận sai lệch. Suốt thời gian ấy, các băng ghi âm phỏng vấn nằm rải rác trong cục lưu trữ Bundesarchiv ở Koblenz, nơi triết gia Bettina Stangneth tìm thấy chúng vào 50 năm sau. Những gì bà nghe thấy đã khẳng định rằng mọi thứ trong các bản ghi của Sassen là hoàn toàn chính xác.

Eichmann khai trong phiên tòa rằng: “Tôi chưa bao giờ làm bất cứ điều gì, dù to dù nhỏ, mà không nhận được những chỉ dẫn rõ ràng từ Adolf Hitler hay bất kì cấp trên nào.” Đây là một lời dối trá trơ tráo. Và lời nói dối của hắn được lặp lại như vẹt bởi vô số tên quốc xã phục vụ dưới chế độ phát xít, rằng “chỉ làm theo mệnh lệnh”.

Các sử gia nhận thấy, những mệnh lệnh do Đệ tam Đế chế đưa ra thường có xu hướng mơ hồ, không rõ ràng. Những mệnh lệnh chính thức hiếm khi được ban hành, cho nên những kẻ trung thành với Hitler phải dựa vào sự sáng tạo của bản thân. Thay vì chỉ đơn giản là vâng lời lãnh đạo, sử gia Ian Kershaw giải thích rằng bọn họ “làm việc hướng về Hitler”, cố gắng hành động theo tinh thần của Quốc trưởng.[5] Điều này truyền cảm hứng cho cả một nền văn hóa lãnh tụ duy nhất trong đó những tên quốc xã ngày càng cực đoan đã nghĩ ra những biện pháp ngày một khắc nghiệt để nhận được sự chiếu cố, công nhận của Hitler.

Nói cách khác, chiến dịch tàn sát người Do Thái không phải là tác phẩm của những con người đột nhiên biến thành người máy, cũng giống như những tình nguyện viên của Milgram đều dừng lại để suy nghĩ trước khi bấm công tắc. Những người thực hiện tin chắc rằng họ đang đứng về phía đúng đắn của lịch sử. Trại Auschwitz là trung tâm điểm của một giai đoạn lịch sử phức tạp, trong đó hình phạt dành cho những tù nhân được nâng lên từng bước và điều ác biến thành cái tốt một cách thuyết phục hơn. Bộ máy tuyên truyền Quốc xã – với những văn sĩ và nhà thơ, triết gia và nhà chính trị – đã có nhiều năm thực hiện công việc, làm ngu muội và đầu độc đầu óc của người Đức. Giống loài Homo puppy bị lừa dối và tuyên truyền, tẩy não và thao túng.

Chỉ khi đó thì những điều không thể tưởng tượng được mới xảy ra.

Phải chăng Hannah Arendt đã nhầm lẫn khi bà viết rằng: Eichmann không phải một con quái vật? Phải chăng bà bị lung lạc bởi hành động của hắn trước tòa?

Đó là quan điểm của nhiều sử gia, những người trích dẫn các sách của bà như một trường hợp “ý tưởng hay, ví dụ tồi”.[6] Nhưng một số triết gia không đồng ý với các sử gia, họ cho rằng các sử gia này đã không hiểu suy nghĩ của Arendt. Vì Arendt đã thực sự nghiên cứu những bài phỏng vấn của Sassen với Eichmann và bà không hề viết trong bất cứ tài liệu nào là Eichmann chỉ đơn thuần tuân theo mệnh lệnh.

Hơn nữa, Arendt là người công khai chỉ trích các thí nghiệm về sự tuân phục của Milgram. Mặc dù nhà tâm lý học trẻ tuổi rất ngưỡng mộ triết gia nhưng chiều ngược lại thì không. Arendt kết tội Milgram có “niềm tin ngây thơ rằng cám dỗ và ép buộc thật sự giống nhau”.[7] Và, khác với Milgram, bà không hề nghĩ rằng có một tên Quốc xã đang ẩn náu trong mỗi chúng ta.

Vậy tại sao cả Milgram và Arendt lại cùng đi vào lịch sử? Một số chuyên gia khi nghiên cứu về tài liệu của Arendt đã tin rằng những nhận định của bà đã bị diễn giải sai. Bà là một trong những triết gia nói bằng cách ngôn[8], sử dụng các cụm từ bí ẩn rất dễ gây ra hiểu nhầm. Hãy xem nhận định của bà rằng Eichmann “không suy nghĩ”. Bà không nói hắn là một kẻ sát nhân bàn giấy như người máy, mà đúng hơn, như chuyên gia nghiên cứu về Arendt là Roger Berkowitz chỉ ra, là Eichmann không thể suy nghĩ từ góc độ của người khác.[9]

Thực tế, Hannah Arendt là một trong những triết gia hiếm hoi tin rằng hầu hết mọi người, trong sâu thẳm đều tử tế.[10] Bà cho rằng thiên hướng của chúng ta đối với tình yêu và tình bạn mạnh hơn bất kì thiên hướng nào, cho dù đó là thù hận hay bạo lực. Và khi chúng ta lựa chọn đi theo cái ác, chúng ta cảm thấy buộc phải ẩn náu đằng sau những lời dối trá và sáo rỗng, cho chúng ta vẻ bề ngoài đức hạnh.

Eichmann là một ví dụ điển hình. Hắn thuyết phục chính mình rằng hắn đã làm những điều vĩ đại, mang tính lịch sử mà nhờ đó hắn được các thế hệ sau ngưỡng mộ. Điều đó không biến hắn thành một con quái vật hay cỗ máy giết người. Nó làm cho hắn thành một người chung tay góp sức. Nhiều năm sau, các nhà tâm lý học cũng đưa ra kết luận tương tự về nghiên cứu của Milgram: những người tham gia thí nghiệm sốc điện không phải vì sự tuân phục mà là vì sự phù hợp.

Thật kinh ngạc là Hannah Arendt đã có những suy nghĩ mang tính vượt thời đại, khi bà có quan sát y hệt như trên.

Đáng buồn là, những diễn giải đơn giản thái quá của Stanley Milgram (con người phục tùng cái ác không cần suy nghĩ) đã gây ra ấn tượng mạnh mẽ hơn tư tưởng triết lý phân lớp của Hannah Arendt (con người bị cái ác đội lốt điều tốt cám dỗ). Điều này nói lên tài năng đạo diễn của Milgram, con mắt diễn kịch và sự nhạy bén của ông ta về việc thu hút ánh nhìn của truyền thông.

Tuy nhiên tôi vẫn cho rằng điều khiến Milgram trở nên nổi tiếng là vì ông đã cung cấp bằng chứng để củng cố cho đức tin vốn cắm rễ sâu nơi con người. Như nhà tâm lý học Don Mixon từng nhận xét: “Các thí nghiệm của Milgram dường như được rất nhiều người ủng hộ, bởi nó củng cố cho lời tiên tri quan trọng nhất, lâu đời nhất – rằng chúng ta sinh ra đã là những kẻ có tội. Hầu hết chúng ta, ngay cả những người vô thần, đều tin rằng con người sẽ trở nên tốt hơn khi được nhắc nhở về bản chất tội lỗi của mình.”[11]

Điều gì thôi thúc chúng ta tin rằng con người ngày càng tha hóa? Tại sao lý thuyết vỏ ngoài lại liên tục quay trở lại trong những phép hoán vị? Tôi cho rằng nó liên quan rất nhiều đến sự tiện lợi. Thật kì lạ là, việc chúng ta tin vào bản chất tội lỗi của mình lại là một cách để an ủi hay một kiểu giải thoát. Vì nếu hầu hết chúng ta xấu xa, thì việc cam kết và phản kháng lại chẳng đáng để chúng ta phải cố gắng.

Niềm tin vào bản chất tội lỗi của nhân loại cũng là một lời giải thích cho sự tồn tại của cái ác. Khi đối mặt với thù hận và sự ích kỉ, bạn có thể tự nhủ: “Ô! Chậc, đó chính là bản chất con người mà.” Nhưng nếu bạn tin rằng con người vốn tính bản thiện, thì khi đó bạn sẽ đặt câu hỏi: Tại sao cái ác vẫn luôn tồn tại? Điều đó hàm ẩn rằng việc cam kết và nỗ lực chống lại cái ác sẽ rất có giá trị, nó buộc chúng ta có nghĩa vụ hành động chống lại cái ác.

Năm 2015, nhà tâm lý học Matthew Hollander đã nghiên cứu lại các bản ghi âm của 117 lượt tham gia tại máy sốc điện của Milgram.[12] Sau khi phân tích kĩ lưỡng, ông phát hiện một mẫu thức, đó là, những đối tượng nghiên cứu tìm cách dừng việc làm thí nghiệm sử dụng ba chiến thuật:

1) Nói chuyện với nạn nhân.

2) Nhắc cho người mặc áo choàng xám trong thí nghiệm về trách nhiệm của anh ta.

3) Liên tục từ chối tiếp tục hành động.

Giao tiếp và đối đầu, trắc ẩn và phản kháng. Hollander phát hiện rằng hầu như tất cả những người tham gia đều sử dụng các chiến thuật này – hầu như tất cả đều muốn dừng lại – những người thành công là những người sử dụng chúng nhiều hơn. Tin vui là: đây là những kĩ năng có thể rèn luyện. Kháng cự chỉ cần thực hành là được. Hollander nhận xét: “Điều phân biệt những người hùng của Milgram, chủ yếu là một loại năng lực khả giáo trong việc chống lại quyền lực đáng nghi vấn.”[13]

Nếu bạn nghĩ việc kháng cự sắp sửa tuyệt diệt thì tôi sẽ kể cho bạn nghe một câu chuyện diễn ra ở Đan Mạch trong Thế chiến thứ Hai. Đó là một câu chuyện về những người bình thường thể hiện sự can đảm phi thường. Đồng thời nó cũng cho thấy rằng sự kháng cự luôn đáng giá, thậm chí ngay cả khi phải đánh đổi tất cả.

❀ ❀ ❀

[1] Perry, Behind the Shock Machine, tr. 240.

[2] Arendt, Eichmann in Jerusalem, tr. 276.

[3] Bettina Stangneth, Eichmann Before Jerusalem: The Unexamined Life of a Mass Murderer (London, 2015).

[4] “The Adolph Eichmann Trial 1961”, trong Great World Trials (Detroit, 1997), tr. 332-7.

[5] Ian Kershaw, ‘“Working Towards the Fuhrer.’ Reflections on the Nature of the Hitler Dictatorship”, Contemporary European History, tập 2, số 2 (1993).

[6] Chẳng hạn xem Christopher R. Browning, “How Ordinaiy Germans Did It”, New York Review of Books (ngày 20 tháng 6 năm 2013).

[7] Roger Berkowitz, “Misreading ‘Eichmann in Jerusalem”, New York Times (ngày 7 tháng 7 năm 2013).

[8] Cách ngôn là loại câu nói ngắn gọn, súc tích, có ý nghĩa giáo dục đạo đức, tư tưởng, được nhiều người coi là chuẩn mực, khuôn thước để làm theo và vươn tới. Cách ngôn cũng có thể được rút ra trong kho tàng tục ngữ của từng vùng hoặc từ những trước tác, những lời nói của các lãnh tụ, các học giả, các nhà văn lớn.

[9] Như trên

[10] Ada Ushpiz, ‘The Grossly Misunderstood “Banality of Evil” Theory”, Haaretz (ngày 12 tháng 10 năm 2016).

[11] Perry. Behind the Shock Machine, tr. 72.

[12] Matthew M. Hollander, “The Repertoire of Resistance: NonCompliance With Directives in Milgram’s “Obedience” experiments”, British Journal of Social Psychology, tập 54, số 3 (2015).

[13] Matthew Hollander, “How to Be a Hero: Insight From the Milgram Experiment”, Huffington Post (ngày 27 tháng 2 năm 2015)?

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.