Liệu đó có phải là sự thật? Phải chăng chính chúng ta đã loại bỏ những người anh em họ hàng của chúng ta?
Mùa xuân năm 1958, Lyudmila Trut, một nữ sinh chuyên ngành sinh vật học tại Đại học Quốc gia Moscow đã đến gõ cửa văn phòng giáo sư Dmitri Belyaev, ông là một nhà động vật học và di truyền học đang tìm kiếm người thực hiện một chương trình nghiên cứu mới đầy tham vọng. Tuy Lyudmila vẫn còn là một sinh viên nhưng đã quyết tâm tham gia vào nhóm nghiên cứu của ông.[1]
Vị giáo sư rất tốt bụng và hào hiệp. Vào thời mà thiết chế khoa học Xô Viết có thái độ kẻ cả với phụ nữ thì Dmitri lại đối xử với Lyudmila như một cộng sự ngang hàng. Và ông quyết định để cô tham gia kế hoạch bí mật của mình. Kế hoạch này buộc cô phải tới Siberia, một khu vực xa xôi gần biên giới với Kazakhstan và Mông Cổ, nơi vị giáo sư đang tiến hành thí nghiệm.
Ông nhắc nhở Lyudmila suy nghĩ kĩ càng trước khi nhận lời, bởi vì dự án này rất nguy hiểm. Thời đó, nghiên cứu di truyền bị cấm tiến hành dưới mọi hình thức ở nước Nga. Nhóm sẽ trình bày thí nghiệm với thế giới bên ngoài như là một nghiên cứu về những tấm da cáo quý giá.
Thực tế, nghiên cứu này liên quan đến một việc hoàn toàn khác. Nhiều năm sau, Lyudmila kể lại: “Thầy bảo tôi rằng ông muốn tạo ra một con chó từ một con cáo.”[2]
Điều mà nhà khoa học trẻ này không hề nhận ra là cô vừa đồng ý tham gia một cuộc tìm kiếm mang đậm chất sử thi. Cùng với nhóm nghiên cứu của mình, Dmitri Belyaev và Lyudmila Trut sẽ làm sáng tỏ nguồn gốc của nhân loại.
Họ bắt đầu bằng một câu hỏi rất khác: Làm thế nào để bạn biến một con thú săn mồi hung dữ thành vật nuôi thân thiện? Một trăm năm trước, Charles Darwin đã nhận xét rằng các loài động vật đã được con người thuần dưỡng – lợn, thỏ, cừu – có nhiều điểm tương đồng với nhau. Những loài đã được con hgười thuần dưỡng, chúng có kích thước nhỏ hơn so với tổ tiên hoang dã của chúng. Chúng có não và răng nhỏ hơn, tai cụp, đuôi quăn hoặc có lông đốm trắng. Có lẽ, điều thú vị nhất là tất cả chúng vẫn giữ được một vài đặc điểm chưa trưởng thành đến trọn đời.
Đây là một ẩn số khiến Dmitri phải băn khoăn suốt nhiều năm. Tại sao những vật nuôi tại nhà lại có vẻ bề ngoài như vậy? Tại sao rất nhiều nông dân, từ hàng trăm nghìn năm trước lại thích những con chó và lợn với cái đuôi xoăn tít, tai cụp, gương mặt non nớt và quyết định nuôi chúng vì những đặc điểm riêng này?
Một nhà di truyền học người Nga đã đưa ra một giả thuyết được cho là thuyết phục hơn. Ông nghi ngờ những đặc điểm dễ thương này đơn thuần là sản phẩm phụ của một điều gì đó khác, một sự tiến hóa xảy ra về mặt sinh học nếu sau một giai đoạn đủ dài, người nông dân kiên trì chọn các loài động vật để thuần hóa vì một phẩm chất cụ thể:
Thân thiện.
Vì thế, Dmitri đã lập ra một kế hoạch. Ông muốn mô phỏng lại trong vài thập kỉ những gì mà tự nhiên phải mất hàng thiên niên kỉ mới tạo ra được. Ông muốn biến những loài động vật hoang dã thành vật nuôi tại nhà bằng cách nuôi những cá thể dễ thương nhất. Trong nghiên cứu của mình, Dmitri chọn loài cáo bạc, một loài động vật chưa bao giờ được thuần dưỡng, hung hãn đến mức các nhà nghiên cứu chỉ có thể đụng vào chúng khi đã đeo găng dày 5 cm dài tới khuỷu tay.
Dmitri cảnh báo Lyudmila đừng quá hi vọng. Thí nghiệm sẽ mất nhiều năm, có khi cả đời nhưng chưa chắc đã thu được kết quả. Tuy nhiên Lyudmila không nghĩ ngợi gì nhiều. Vài tuần sau, cô lên chuyến tàu tốc hành xuyên Siberia.
Trại nuôi cáo mà Dmitri chọn để tiến hành nghiên cứu là một khu phức hợp rộng lớn, hàng nghìn chiếc chuồng phát ra một bản tạp âm gồm những âm thanh khác nhau. Thậm chí với tất cả những điều cô đã đọc về hành vi của loài cáo bạc, Lyudmila vẫn chưa thực sự sẵn sàng để tiếp xúc trực tiếp với những con cáo hung hãn được nuôi ở đây. Tuần đầu tiên, cô bắt đầu đi một lượt tất cả các chuồng. Đeo găng tay bảo vệ, cô thò tay vào trong để xem những con vật này phản ứng thế nào. Nếu cô cảm thấy sự ngập ngừng dù là nhỏ nhất, Lyudmila sẽ chọn con cáo đó để phối giống.
Khi hồi tưởng lại, cô nhận ra mọi việc diễn ra thật nhanh chóng!
Năm 1964, thí nghiệm phối giống đã tạo ra thế hệ thứ tư, Lyudmila phát hiện con cáo đầu tiên đã vẫy đuôi khi gặp cô. Để chắc chắn rằng bất kì hành vi nào tương tự như vậy đều là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, Lyudmila và nhóm của cô duy trì việc tiếp xúc với những con vật ở mức tối thiểu. Tuy nhiên điều đó ngày càng trở nên khó khăn: Chỉ qua vài thế hệ, lũ cáo đã cầu xin sự chú ý. Và ai nỡ xua đuổi một con cáo con khụt khịt, vẫy đuôi cơ chứ?
Trong tự nhiên, cáo sẽ trở nên hung hãn hơn khi chúng được tám tuần tuổi, nhưng những con cáo do Lyudmila chọn lọc giống thì vĩnh viễn non nớt, chúng chỉ khoái chơi đùa cả ngày. Cô đã viết: “Những con cáo được thuần dưỡng này dường như đang cưỡng lại nhiệm vụ trưởng thành.”[3]
Bên cạnh đó, loài cáo cũng có những thay đổi thể chất đáng chú ý. Tai cụp xuống. Đuôi cong lên và xuất hiện các đốm trên người. Mõm chúng ngắn hơn, xương mỏng hơn và các con đực ngày càng giống con cái. Thậm chí, lũ cáo còn bắt đầu sủa hệt như chó. Và không lâu sau, chúng đã biết phản ứng lại khi có người gọi tên chúng – một hành vi chưa bao giờ thấy ở cáo.
Xin nhớ rằng, Lyudmila không hề có ý định lựa chọn bất kì đặc điểm nào trong số chúng. Tiêu chí duy nhất của cô là sự thân thiện – tất cả những đặc tính khác chỉ là sản phẩm phụ.
Đến năm 1978, hai mươi năm sau khi thí nghiêm này bắt đầu, có nhiều thay đổi diễn ra ở Nga. Các nhà sinh vật học không còn phải che giấu nghiên cứu của họ nữa. Thuyết tiến hóa không còn mang âm mưu của giới tư bản nữa, và Bộ Chính trị Nga đã quyết tâm thúc đẩy nền khoa học của nước nhà.
Vào tháng 8 năm đó, Dmitri đã tìm cách sắp xếp để Đại hội Quốc tế Di truyền học được tổ chức tại Moscow. Khách mời được tiếp đón tại Điện Kremlin – với sức chứa lên đến 6.000 người – với sâm panh miễn phí cùng món trứng cá muối.
Tuy nhiên, những điều đó không gây ấn tượng cho các nhà khoa học bằng bài phát biểu của Dmitri. Sau phần giới thiệu ngắn gọn, ánh đèn mờ đi và một đoạn phim bắt đầu được chiếu. Trên màn hình nhảy ra một sinh vật khác thường: một con cáo bạc đang vẫy đuôi. Cả khán phòng không ngớt tiếng ồ lên đầy kinh ngạc, tiếng lầm rầm đầy phấn khích vẫn tiếp tục vang lên ngay cả sau khi đèn sáng trở lại.
Nhưng Dmitri vẫn chưa kết thúc bài phát biểu của mình. Trong vòng một tiếng tiếp theo, ông trình bày ra ý tưởng mang tính cách mạng của mình. Ông nghi ngờ rằng, những thay đổi ở lũ cáo có liên quan đến vấn đề hoóc-môn. Những con cáo càng thân thiện, sản xuất ra càng ít hoóc-môn căng thẳng và nhiều serotonin (hoóc-môn hạnh phúc) và oxytocin (hoóc-môn yêu thương).
Điều cuối cùng Dmitri nói trước khi kết thúc bài phát biểu đó là điều này không chỉ xảy ra ở loài cáo, mà “dĩ nhiên, có thể xảy ra ở cả loài người.”[4]

Dmitri Belyaev cùng những con cáo bạc của mình tại Novosibirsk, năm 1984. Dmitri qua đời một năm sau đó, nhưng chương trình nghiên cứu của ông vẫn được tiếp tục duy trì cho tới nay. Nguồn ảnh: Alamy.
Khi nhìn lại, đó quả là một tuyên bố có tính lịch sử.
Hai năm sau khi Richard Dawkins xuất bản cuốn sách bán chạy về các gen vị kỉ và đưa ra kết luận rằng con người “sinh ra vốn ích kỉ”, giờ đây một nhà di truyền học vô danh của Nga phản biện lại lập luận này với những bằng chứng đanh thép. Lý thuyết của Dmitri Belyaev cho rằng con người là loài vượn thuần hóa. Trong hàng vạn năm, những con người dễ chịu nhất sinh ra nhiều con nhất. Quá trình tiến hóa của giống loài chúng ta, tóm lại là dựa vào “sự tồn tại của những cá thể thân thiện nhất”.
Nếu lý thuyết của Dmitri là đúng thì cơ thể của chúng ta chắc chắn vẫn còn những manh mối để chứng minh lý thuyết này là đúng. Giống như lợn, thỏ và giờ là cáo bạc, con người trở nên nhỏ nhắn và dễ thương hơn.
Dmitri không có cách gì thử nghiệm giả thuyết của ông, nhưng kể từ đó khoa học đã có thêm nhiều hướng nghiên cứu mới. Vào năm 2014, khi một nhóm các nhà khoa học Mỹ bắt đầu nghiên cứu hộp sọ người qua các thời kì trong hơn 200.000 năm qua, họ đã phát hiện ra một mẫu thức.[5] Họ thấy rằng khuôn mặt và cơ thể con người mềm mại, trẻ trung và nữ tính hơn. Bộ não của chúng ta thu gọn lại ít nhất 10%, răng cũng như xương hàm của chúng ta – theo thuật ngữ giải phẫu học – trở nên paedomorphic (thiếu niên), nói một cách đơn giản là giống trẻ con hơn.
Thậm chí, nếu bạn so sánh đầu mình với đầu người Neanderthal thì sự khác biệt còn trở nên rõ ràng hơn. Sọ của chúng ta ngắn và tròn hơn, với gờ lông mày nhỏ và thấp hơn. Chó giống với chó sói thế nào thì chúng ta với người Neanderthal cũng như thế.[6] Và cũng như loài chó trưởng thành trông giống với sói con thế nào thì con người tiến hóa trông cũng giống như khỉ con vậy.
Sau đây chúng ta hãy gặp giống Homo puppy.

Khoảng năm vạn năm trước, sự biến đổi về hình thức bên ngoài của chúng ta bắt đầu tăng tốc. Thật hấp dẫn, đó cũng là quãng thời gian người Neanderthal biến mất và chúng ta tiến tới một bước chuyển quan trọng trong việc phát minh ra những công cụ lao động mới – như đồ đá sắc bén hơn, dây câu, cung và tên, thuyền độc mộc và những bức tranh hang động. Tuy nhiên, những phát minh đó không có ý nghĩa về mặt tiến hóa. Con người yếu đuối, dễ tổn thương và trẻ con hơn. Bộ não của chúng ta dần nhỏ đi, nhưng thế giới của chúng ta lại phức tạp hơn.
Với những đặc điểm đó thì như thế nào và làm thế nào mà giống Homo puppy lại có thể chinh phục được thế giới?
❀ ❀ ❀
[1] Ngoại trừ chỗ được nói rõ, nguồn chính của tôi về câu chuyện này là Lee Alan Dugatkin và Lyudmila Trut, How to Tame a Fox (and Build a Dog). Visionary Scientists and a Siberian Tale of Jump-Started Evolution (Chicago, 2017).
[2] Lee Alan Dugatkin và Lyudmila Trut, “How to Tame a Fox and Build a Dog”, American Scientist (số 4, 2017).
[3] Dugatkin và Trut, How to Tame a Fox, tr. 58.
[4] Như trên, tr. 124.
[5] Robert L. Cieri chủ biên, “Craniofacial Feminization, Social Tolerance, and the Origins of Behavioral Modernity”, Current Anthropology [No. 4, 2014).
[6] Con người không phải hậu duệ trực tiếp của người Neanderthal (dù nhiều người có DNA Neanderthal, Homo sapiens và Homo neanderthalensis rõ ràng có con cái chung); tuy nhiên, tổ tiên Homo sapien chưa thuần hóa của chúng ta 50.000 năm trước khá giống với người Neanderthal, có nghĩa là họ trông nam tính hơn hẳn. Xem Brian Hare, “Survival of the Friendliest: Homo sapiens Evolved via Selection for Prosociality”, Annual Review of Psychology (2017).