Khi còn trẻ, Jacob Roggeveen đã hứa với cha mình một điều: sẽ có ngày ông tìm thấy Vùng đất phương Nam. Một phát hiện như vậy sẽ bảo đảm được địa vị của ông trong nhóm các nhà thám hiểm nổi bật trong lịch sử, điều này cũng đồng nghĩa với việc gìn giữ được danh tiếng cho gia đình.
Vùng đất đó được cho là nằm đâu đó trên Thái Bình Dương. Là một chuyên gia vẽ bản đồ, cha của Jacob là Arent Roggeveen luôn tin rằng có sự tồn tại một lục địa như vậy để cân bằng các địa khối của bắc bán cầu. Và còn rất nhiều câu chuyện được các nhà hàng hải, lữ khách truyền tai nhau. Nhà hàng hải Bồ Đào Nha Pedro Fernandes de Queirós mô tả Vùng đất phương Nam như một thiên đường trên trái đất, với những cư dân yêu chuộng hòa bình. Nơi đó có nước sạch, đất đai màu mỡ và – chi tiết nhỏ – hàng núi vàng bạc châu báu.
Đúng vào ngày 1 tháng 8 năm 1721, 40 năm sau khi cha ông qua đời, cuối cùng Jacob đã giương buồm. Đích đến chính là Vùng đất phương Nam. Từ con tàu chỉ huy Arend, ông chỉ huy một hạm đội ba chiếc tàu, 70 khẩu thần công và 244 thủy thủ. Vị đô đốc 62 tuổi hi vọng tràn trề sẽ làm lên lịch sử. Và đúng vậy, tuy nhiên ông không ngờ được điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Jacob Roggeveen sẽ không hề tìm thấy một nền văn minh mới nào. Ông phát hiện một nền văn minh cũ.[1]
Những điều xảy ra vào tám tháng sau không bao giờ thôi khiến tôi hết kinh ngạc. Vào Chủ nhật Phục Sinh năm 1722, một trong những chiếc tàu của Roggeveen giương cờ hiệu. Tàu Arend đến cạnh bên để xem thủy thủ đoàn đã nhìn thấy gì. Câu trả lời là gì? Đất liền. Họ thấy một hòn đảo nhỏ bên phải mạn tàu.
Hòn đảo được hình thành từ hàng trăm nghìn năm trước nơi có ba ngọn núi lửa hội tụ. Paasch Eyland (“Đảo Phục sinh”), tên thánh mà thủy thủ đoàn Hà Lan đặt cho hòn đảo, trải dài hơn 100 dặm vuông – giống như một nắm đất nhỏ trên Thái Bình Dương mênh mông. Có rất nhiều điều kì lạ mà Roggeveen tình cờ bắt gặp trên hòn đảo này.

Khi người Hà Lan tiếp cận hòn đảo, họ nhìn thấy một đám đông tụ tập trên bãi biển để đón họ. Roggeveen thấy bối rối. Làm thế nào họ đến được đây? Ông chẳng hề nhìn thấy chiếc thuyền đi biển nào. Thậm chí khó hiểu hơn nữa là những bức tượng lớn nằm rải rác trên đảo – moai, người dân đảo gọi như vậy – là những cái đầu khổng lồ nhô lên mặt đất, phần thân được chôn dưới đất thậm chí còn lớn hơn nữa, một số tượng cao tới gần 10 mét. Roggeveen thú nhận trong nhật kí của mình: “Chúng tôi không hiểu nổi, làm cách nào mà người dân trên đảo có thể dựng được những bức tượng đá lên, trong khi họ không có những cây gỗ chắc chắn, không có cả thừng chão chắc khỏe.”[2]
Khi Roggeveen và thủy thủ đoàn của ông thả neo một tuần sau đó, họ có thêm nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời. Thậm chí cho đến hôm nay, hòn đảo nhỏ xíu ở Thái Bình Dương này vẫn là một trong những địa điểm bí ẩn nhất trên trái đất, là tâm điểm của nhiều cuộc nghiên cứu cũng như suy đoán suốt nhiều thế kỉ qua. Chẳng hạn, có nhiều người cho rằng cư dân đảo là hậu duệ của người Inca, còn các bức tượng được dựng lên bởi một tộc người khổng lồ cao hơn ba mét.[3] Thậm chí, có người còn cho rằng chúng được người ngoài hành tinh thả xuống (một ông chủ khách sạn ở Thụy Sĩ đã tìm cách bán được 7 triệu cuốn sách về giả thuyết đó).[4]
Sự thật thì không li kì như tưởng tượng nhưng cũng không kém cạnh là bao.
Ngày nay, nhờ việc nghiên cứu DNA, chúng ta biết rằng các nhà chinh phục đã tới đây từ lâu trước khi Roggeveen đặt chân lên đảo. Cư dân Polynesia, những người Viking của Thái Bình Dương, tìm thấy đảo này đầu tiên.[5] Với lòng can đảm đến gần như điên khùng, họ được cho là đã khởi hành từ quần đảo Gambier cách đó khoảng 1.600 dặm, trên những chiếc xuồng không mái chèo, bơi ngược những trận gió trong vùng. Việc có bao nhiêu cuộc viễn chinh như vậy, chúng ta sẽ không bao giờ biết được, nhưng trong câu chuyện này, chỉ cần một cuộc vượt biển thành công.
Và những bức tượng moai hoành tráng đó? Khi nhà nhân chủng học Katherine Routledge đến thực hiện điền dã trên đảo vào năm 1914, bà nhận thấy không còn một bức tượng nào đứng thẳng. Thay vào đó, chúng đổ kềnh, một số bị vỡ thành nhiều mảnh, và bị cỏ mọc trùm kín.
Làm thế nào xã hội nhỏ bé này có thể điêu khắc và di chuyển được những khối đá khổng lồ như vậy? Họ sống trên một hòn đảo thiếu cây cối và không hề tìm thấy bánh xe nào có thể sử dụng chứ đừng nói gì đến cần trục. Lẽ nào nơi này từng đông dân cư hơn? Routledge đưa ra thắc mắc của mình với những cư dân già nhất của đảo. Họ kể lại những câu chuyện đã diễn ra ở đây hàng trăm năm trước. Những câu chuyện thật rùng mình.[6]
Họ kể, từ xa xưa, có hai bộ tộc cùng chung sống trên đảo: tộc Tai dài và tộc Tai ngắn. Họ sống với nhau rất hòa thuận và đoàn kết cho tới khi xảy ra mâu thuẫn khiến hai tộc bị chia rẽ, phá hủy sự bình yên đã ngự trị hàng thế kỉ và gây ra một cuộc nội chiến đẫm máu. Tộc Tai dài di chuyển đến khu vực phía đông hòn đảo và đào hầm sâu xuống đất. Sáng hôm sau, tộc Tai ngắn tấn công nơi trú ẩn của tộc Tai dài và châm lửa đốt nơi này, thiêu sống tộc Tai dài trong chính cái bẫy họ đào. Cho đến ngày nay, chúng ta vẫn còn thấy dấu tích của đường hầm đó.
Đó mới chỉ là phần mở đầu của câu chuyện. Những ngày tháng tiếp theo, tình hình trở nên xấu đi, trở thành một cuộc chiến tranh kiểu Hobbes. Thậm chí, cư dân đảo Phục Sinh còn ăn thịt lẫn nhau. Điều gì đã châm ngòi cho toàn bộ thảm cảnh này? Routledge chỉ có thể đưa ra những dự đoán. Nhưng rõ ràng phải có nguyên nhân nào đó dẫn đến kết cục khiến cho một xã hội tự hủy diệt chính nó.
Nhiều năm sau, vào năm 1955, nhà thám hiểm người Na Uy, Thor Heyerdahl đã thực hiện một cuộc thám hiểm đến đảo Phục Sinh. Heyerdahl là một nhân vật nổi tiếng. Vài năm trước, ông cùng với năm người bạn của mình đã tự làm một chiếc bè và vượt qua vùng biển dài 4.300 dặm từ Peru tới Polynesia, sau đó bị gió đánh dạt vào đảo Raroia. Heyerdahl cho rằng chuyến đi bằng bè của ông là bằng chứng chứng minh việc người Inca đã tới được đảo Polynesia trên những chiếc bè thô sơ. Mặc dù hành động này không thuyết phục được các nhà khoa học, tuy nhiên, khi ông xuất bản câu chuyện giả thuyết này, cuốn sách đã bán được 50 triệu bản.[7]
Heyerdahl đã sử dụng toàn bộ số tiền thu được từ việc bán cuốn sách đó để thực hiện cuộc thám hiểm tới đảo Phục Sinh, ông mời một vài nhà khoa học danh tiếng tham gia cùng mình, trong số đó có William Mulloy, một người Mỹ đã dành cả phần đời còn lại để nghiên cứu về đảo Phục Sinh. “Tôi chẳng tin cái chết tiệt gì ngài đã xuất bản,” ông ấy đã nói với Heyerdahl trước khi họ lên đường.[8]
Hóa ra nhà khoa học và kẻ liều mạng lại ăn ý với nhau một cách kinh ngạc. Không lâu sau khi đến đảo Phục Sinh, hai người đã có một phát hiện ngoạn mục. Sâu trong một đầm lầy, nhóm Heyerdahl tìm thấy phấn hoa của một loài cây chưa biết đến. Họ gửi nó về Stockholm để nhờ một nhà cổ thực vật học hàng đầu phân tích. Ít lâu sau nhà cổ thực vật học đã thông báo cho họ kết luận của ông ấy: trên hòn đảo này từng có một cánh rừng rộng mênh mông.
Các mảnh ghép về hòn đảo dần được ráp lại, dù chậm chạp nhưng chắc chắn. Năm 1974, William Mulloy đã xuất bản một câu chuyện thật về đảo Phục Sinh và số phận cư dân trên đảo.[9] Cảnh báo với độc giả: Đó là một cái kết không có hậu.
❀ ❀ ❀
[1] Nội dung về cuộc đời và cuộc phiêu lưu của Roggeveen dựa trên hồi kí tuyệt vời của Roelof van Gelder, Naar het aards paradijs. Het rusteloze leven van Jacob Roggeveen, ontdekker van Paaseiland (1659-1729) (Amsterdam, 2012).
[2] F. E. Baron Mulert, De rets van Mr. Jacob Roggeveen ter ontdekking van het Zuidland (1721-1722), (The Hague, 1911), tr. 121.
[3] H. J. M. Claessen, “Roggeveen zag geen reuzen toen hij Paaseiland bezocht”, NRC Handelsblad (ngày 18 tháng 4 năm 2009).
[4] Vị quản lý khách sạn người Thụy Sĩ này là Erich von Däniken, và cuốn sách của ông có tiêu đề Chariots of the Gods? Unsolved Mysteries of the Past.
[5] Lars Fehren-Schmitz, “Genetic Ancestry of Rapanui before and after European Contact”, Current Biology (ngày 23 tháng 10 năm 2017).
[6] Katherine Routledge, The Mystery of Easter Island. The story of an Expedition (London, 1919).
[7] Reidar Solsvik, “Thor Heyerdahl as world heritage”, Rapa Nui Journal (tháng 5 năm 2012).
[8] Trích trong Jo Anne Van Tilburg, “Thor Heyerdahl”, Guardian (ngày 19 tháng 4 năm 2002).
[9] William Mulloy, “Contemplate The Navel of the World”, tạp chí Rapa Nui (so 2, 1991). Xuất bản lần đầu năm 1974.