Giờ, bạn có thể nghĩ câu chuyện trên thật cảm động. Chắc chắn ai cũng đều cảm thấy như vậy! Nhưng có lẽ nó là một trường hợp ngoại lệ, nằm ngoài hiệu ứng bàng quan. Phải chăng có điều gì đó thật đặc biệt trong văn hóa của người Hà Lan hay ở khu Amsterdam này, hay thậm chí ở bốn người đàn ông đã cứu Sanne, là nguyên nhân dẫn đến cuộc giải cứu bất thường này?
Ngược lại, mặc dù hiệu ứng bàng quan vẫn được nhắc đến trong nhiều cuốn sách giáo khoa, tuy nhiên một phân tích tổng hợp khá đầy đủ được xuất bản vào năm 2011 đã soi chiếu bằng một góc nhìn mới lên những điều mà người ngoài cuộc đã làm trong những tình huống khẩn cấp. Phân tích tổng hợp này là nghiên cứu về các cuộc nghiên cứu, nghĩa là nó phân tích một nhóm rất nhiều nghiên cứu khác nhau. Phân tích tổng hợp này đã rà soát 105 nghiên cứu quan trọng nhất về hiệu ứng bàng quan từ 50 năm qua, bao gồm cả thí nghiệm đầu tiên của Latané và Darley (với những sinh viên trong một căn phòng).[1]
Bản phân tích về các nghiên cứu này đã rút ra hai nhận xét hết sức thấu đáo như sau. Một là hiệu ứng bàng quan có tồn tại. Nhiều khi chúng ta nghĩ mình không cần can thiệp vào các tình huống khẩn cấp vì người khác sẽ làm tốt hơn chúng ta. Đôi khi chúng ta sợ mình làm sai, sợ bị khiển trách nên không dám can thiệp. Và nhiều khi đơn giản là chúng ta không nghĩ có điều gì không ổn vì chúng ta thấy rằng chẳng có ai hành động.
Vậy còn nhận xét thứ hai là gì? Nếu tình huống khẩn cấp đe dọa đến tính mạng (ai đó đang chết chìm hoặc bị tấn công) và nếu những người ngoài cuộc có thể giao tiếp với nhau (họ không bị chia tách trong các căn phòng riêng biệt), thì khi đó sẽ xảy ra hiệu ứng bàng quan đảo ngược. Tác giả bài báo viết: “Nếu có thêm người ngoài cuộc thì nạn nhân sẽ nhận được nhiều sự giúp đỡ hơn, chứ không phải là bớt đi.”[2]
Không dừng lại ở đó. Vài tháng sau khi phỏng vấn Ruben về nỗ lực giải cứu bộc phát của ông, tôi hẹn gặp nhà tâm lý học người Đan Mạch Marie Lindegaard tại một quán cà phê ở Amsterdam. Sau khi rũ bớt những giọt nước mưa vương trên áo, bà ngồi xuống, mở máy tính xách tay, đặt một tập giấy trước mặt tôi và bắt đầu buổi nói chuyện.
Lindegaard là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên hỏi tại sao chúng ta lại nghĩ đến những thí nghiệm, bảng câu hỏi và các cuộc phỏng vấn rối rắm. Tại sao chúng ta không nghiên cứu những thước phim thực về những con người thực trong những tình huống thực? Rốt cuộc, các thành phố hiện đại nhan nhản các máy quay cơ mà.
Các đồng nghiệp của Marie nói đó là một ý tưởng thật tuyệt vời nhưng chúng ta sẽ không bao giờ có thể chạm tay được vào những thước phim ấy. Marie đáp lại: Chúng ta sẽ xem xét việc đó. Hiện tại, Marie có một cơ sở dữ liệu chứa hơn 1.000 video ở Copenhagen, Cape Town, London và Amsterdam. Chúng ghi lại những cuộc cãi lộn, cưỡng hiếp và cả kế hoạch giết người, và những phát hiện của bà là khởi đầu cho một cuộc cách mạng nhỏ trong các ngành khoa học xã hội.
Bà quay máy tính về phía tôi. “Anh hãy xem bài viết này đi, ngày mai chúng tôi nộp nó cho một tạp chí tâm lý học hàng đầu thế giới.”[3]
Tôi đọc tiêu đề: Hầu hết mọi thứ bạn nghĩ là mình biết về hiệu ứng bàng quan đều sai.
Sau đó Lindegaard chỉ vào một bảng: “Xem này, ở đây ta có thể thấy rằng trong 90% các trường hợp khi thấy ai đó gặp khó khăn, những người xung quanh sẽ giúp đỡ nhau.”
Chín mươi phần trăm.
❀ ❀ ❀
[1] Peter Fischer chủ biên, “The bystandereffect: a meta-analytic review on bystander intervention in dangerous and non-dangerous emergencies”, Psychological Bulletin, tập 137, số 4 (2011).
[2] Như trên
[3] R. Philpot chủ biên, “Would I be helped? Cross-National CCTV Shows that Intervention is the Norm in Public Conflicts”, American Psychologist (tháng 3 năm 2019).