Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1172 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Giống Loài Homo Ludens (Du Hí Nhân) - 01

❊ ❊ ❊

Những ngày sau cuộc trò chuyện của tôi với Jos de Blok, tâm trí tôi cứ quay trở lại cùng câu hỏi: Sẽ thế nào nếu cả xã hội sống dựa trên niềm tin?

Để có được một cú thay đổi ngoạn mục, tôi nghĩ rằng chúng ta phải bắt đầu lại từ đầu. Chúng ta phải bắt đầu với trẻ con. Nhưng khi tôi đi sâu vào tìm hiểu những tài liệu giáo dục, tôi nhanh chóng bị sốc với một số điều thật phũ phàng. Trong vài thập kỉ qua, động lực nội tại của trẻ em đã bị kiềm hãm một cách có hệ thống. Người lớn đang lấp đầy thời gian của trẻ em bằng bài tập về nhà, thể dục thể thao, âm nhạc, kịch, học thêm, thi thử – bản danh sách các hoạt động dường như dài vô tận. Điều đó có nghĩa là có ít thời gian cho một hoạt động khác hơn: chơi. Và ý tôi là chơi theo nghĩa rộng nhất – tự do đi bất kì đâu mà trí tò mò dẫn tới. Tìm kiếm và khám phá, thử nghiệm và sáng tạo. Không phải men theo bất kì đường kẻ nào mà cha mẹ hay giáo viên đặt ra, mà chỉ đơn giản là cảm thấy vui thích vì điều đó.

Mọi nơi mà bạn quan sát, sự tự do của trẻ em đang dần bị giới hạn.[1] Năm 1971, 80% trẻ em Anh 7-8 tuổi vẫn tự mình đi bộ đến trường. Ngày nay, con số này chỉ còn 10%. Một thăm dò gần đây được thực hiện với 12.000 phụ huynh ở 10 quốc gia hé lộ cho thấy rằng những người tù còn dành nhiều thời gian ở ngoài trời hơn hầu hết trẻ em.[2] Các nhà nghiên cứu của Đại học Michigan phát hiện ra thời gian trẻ em dành ở trường tăng thêm 18% từ năm 1981 đến năm 1997. Thời gian dành cho bài tập về nhà tăng lên 145%.[3]

Các nhà xã hội học cũng như tâm lý học đều tỏ ra quan ngại với những con số này. Một nghiên cứu của Mỹ cho thấy “điểm kiểm soát bên trong” đang giảm dần ở trẻ em, nghĩa là chúng ngày càng cảm thấy cuộc sống của mình đang bị người khác quyết định. Ở Hoa Kỳ, sự thay đổi này đã gây ra nhiều chấn động đến mức năm 2002 trẻ em trung bình cảm thấy ít “bị kiểm soát” hơn so với 80% trẻ em trong thập niên 60 của thế kỉ trước.[4]

Dù tại đất nước tôi, Hà Lan, con số này bớt gay gắt hơn nhưng xu hướng này cũng đang tăng lên. Năm 2018, các nhà nghiên cứu Hà Lan phát hiện rằng cứ 10 trẻ em thì chỉ có 3 em được chơi ngoài trời một lần mỗi tuần hoặc không lần nào.[5] Trong khi đó, một nghiên cứu do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD tiến hành ở trẻ em đi học tiết lộ rằng học sinh ở Hà Lan ít có động lực nội tại nhất trong tất cả các quốc gia được khảo sát. Các bài kiểm tra đã làm thui chột những động lực nội tại của chúng đến mức sự quan tâm của chúng tiêu tan khi phải đối diện với một nhiệm vụ không được chấm điểm.[6]

Chúng ta còn chưa nói đến sự thay đổi lớn nhất trong tất cả sự thay đổi: phụ huynh dành thêm nhiều thời gian với con cái mình hơn. Thời gian đọc truyện. Thời gian giúp chúng giải quyết bài tập về nhà. Thời gian đưa chúng đi tập thể thao. Ở Hà Lan, lượng thời gian để thực hiện những vai trò làm cha mẹ hiện nay cao hơn 150% so với thập niên 1960.[7] Ngày nay ở Hoa Kỳ, những bà mẹ đi làm dành nhiều thời gian bên con cái mình hơn là những bà mẹ ở nhà hồi những năm 1970.[8]

Tại sao? Và điều gì ẩn sau sự thay đổi này? Hay là phụ huynh đột nhiên có được cả đại dương thời gian. Ngược lại, từ những năm 1980, phụ huynh ở khắp nơi đều làm việc nhiều hơn. Có lẽ mấu chốt nằm ở chỗ: chúng ta phải gắn với công việc nên đã hi sinh mọi chuyện khác. Khi các nhà hoạch định chính sách giáo dục bắt đầu thúc đẩy việc xếp hạng và phát triển cho học sinh, phụ huynh và nhà trường đều miệt mài với việc thi cử và kết quả.

Giờ đây trẻ em đang được phân loại ngay từ độ tuổi nhỏ hơn bao giờ hết, giữa những trẻ có rất nhiều năng lực và hứa hẹn, với những trẻ ít tiềm năng hơn. Phụ huynh lo lắng rằng: Liệu con gái tôi đã vượt qua những thử thách cần thiết chưa? Con trai tôi có theo kịp bạn bè nó không? Chúng có được nhận vào một trường đại học không? Một nghiên cứu gần đây với 10.000 sinh viên Mỹ tiết lộ rằng 80% sinh viên nghĩ rằng cha mẹ lo lắng về chuyện thứ hạng cao hơn là những phẩm chất như lòng trắc ẩn và nhân ái.[9]

Đồng thời có một cảm giác sâu sắc rằng có gì đó rất giá trị đang dần biến mất, như tính tự giác, tính khôi hài. Là những bậc làm cha mẹ, bạn có vô khối “mánh lới” về cách rèn luyện bản thân cho con mình trước những áp lực mà chúng phải vượt qua. Có hẳn một thể loại sách viết về cách làm việc ít hơn, chú tâm và tỉnh thức hơn. Nhưng sẽ thế nào nếu vài ba cuốn sách tự lực (self-help) này chẳng mang lại lợi ích gì?

Để hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra, chúng ta cần định nghĩa xem chơi nghĩa là gì. Chơi là không phải chịu những quy tắc và quy định cố định, có kết thúc mở và không bị kiểm soát. Đó không phải là một sân cỏ nhân tạo có cha mẹ hò hét ở bên; mà đó là trẻ em nô đùa bên ngoài mà không cần cha mẹ giám sát, tự nghĩ ra các trò chơi của chúng.

Khi trẻ em tham gia vào kiểu chơi này, chúng biết nghĩ cho bản thân. Chúng chấp nhận rủi ro và tô màu bên ngoài trang giấy, và trong quá trình ấy chúng rèn luyện tư duy cũng như động lực của mình. Các trò chơi phi quy tắc cũng là một phương thuốc tự nhiên chống lại sự nhàm chán. Ngày nay, chúng ta cho trẻ em đủ loại giải trí do nhà máy sản xuất, từ những trò ghép hình LEGO® Star Wars Snowspeeder™, đi kèm với những chỉ dẫn lắp ráp chi tiết, tới Miele Kitchen Gourmet Deluxe (mô hình nhà bếp mini) với những âm thanh nấu ăn điện tử sinh động.

Câu hỏi là, nếu mọi thứ đều được đúc sẵn thì liệu chúng ta vẫn có thể nuôi dưỡng trí tò mò và sức tưởng tượng của mình được không?[10] Sự nhàm chán có thể là nguồn gốc của sáng tạo. Nhà tâm lý học Peter Gray viết: “Bạn không thể dạy được sự sáng tạo, tất cả những gì bạn có thể làm là để cho nó đơm hoa.”[11]

Các nhà sinh vật học đồng thuận rằng bản năng vui chơi bắt nguồn sâu xa trong bản chất của chúng ta. Gần như mọi động vật có vú đều biết chơi, nhiều động vật khác cũng không cưỡng lại được sức hấp dẫn của nó. Quạ ở Alaska thích lao vút xuống các mái nhà phủ tuyết.[12] Trên một bãi biển ở nước Úc, cá sấu lướt trên các con sóng để vui đùa, và các nhà khoa học Canada đã quan sát được bạch tuộc bắn các tia nước vào những chai thuốc rỗng.[13]

Xét về vẻ bề ngoài, chơi có vẻ giống như việc sử dụng thời gian không có mục đích. Nhưng điều thú vị là những động vật thông minh nhất là những loài hay bộc lộ hành vi chơi đùa nhất. Ở Chương 3 chúng ta thấy rằng những động vật thuần hóa chơi suốt cả đời chúng. Thêm nữa, không giống loài nào thích tuổi thơ bằng giống loài Homo puppy. Chơi giúp cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa, sử gia Hà Lan Johan Huizinga viết hồi năm 1938. Ông đặt tên cho chúng ta là Homo ludens – “du hí nhân”. Mọi thứ chúng ta gọi là “văn hóa” đều khởi nguồn từ việc chơi theo quan niệm của Huizinga.[14]

Các nhà nhân chủng học ngờ rằng trong phần lớn lịch sử nhân loại, trẻ em được phép vui chơi một cách tự do theo ý chúng. Dù các nền văn hóa săn bắt hái lượm có thể có sự khác biệt nhưng văn hóa về việc chơi xem ra khá giống nhau.[15] Các nhà nghiên cứu nhận thấy đáng để lưu ý nhất đó là quyền tự do rất lớn dành cho trẻ em. Bởi vì dân du mục hiếm khi cảm thấy họ có thể điều khiển sự phát triển của trẻ nên trẻ em được phép rong chơi cả ngày, từ sáng sớm cho tới tối muộn.

Nhưng liệu trẻ em có được trang bị những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống nếu chúng không bao giờ đến trường không? Câu trả lời là, ở những xã hội này, chơi và học là một và như nhau. Trẻ nhỏ không cần các bài kiểm tra hay thứ hạng để học đi hay học nói. Điều đó đến với chúng rất tự nhiên, vì chúng rất giỏi khám phá thế giới. Cũng vậy, trẻ em thời săn bắt hái lượm học thông qua việc chơi. Bắt côn trùng, chế tạo cung tên, bắt chước tiếng gọi của động vật – có rất nhiều việc để làm trong rừng. Và để có thể sống sót đòi hỏi chúng phải có kiến thức rất rộng về động thực vật.

Tương tự, bằng cách chơi với nhau, trẻ em học được cách hợp tác. Trẻ em thời săn bắt hái lượm gần như luôn chơi theo các nhóm hỗn hợp, với cả con trai và con gái đủ mọi lứa tuổi chơi chung với nhau. Những em bé học từ trẻ lớn, những đứa cảm thấy có trách nhiệm truyền lại những gì chúng biết. Không có gì lạ khi hầu như các trò chơi cạnh tranh không hề được nghe nói đến trong những xã hội này.[16] Khác với các cuộc thi đấu của người lớn, việc chơi không cần quy tắc và thể lệ đòi hỏi người tham gia phải tự thỏa hiệp với nhau. Nếu ai đó không vui, đứa trẻ có thể dừng trò chơi đó lại (và khi đó niềm vui chấm dứt với tất cả mọi người).

❀ ❀ ❀

[1] Stephen Moss, Natural Childhood Report (National Trust), tr. 5.

[2] John Bingham, “British Children among Most Housebound in World”, Daily Telegraph (ngày 22 tháng 3 năm 2016).

[3] S. L. Hofferth và J. F. Sandberg, ‘Changes in American Children’s Time, 1981-1997’, trong S. L. Hofferth và J. Owens (biên tập), Children at the Millennium: Where Have We Come from? Where Are We Going? (Stamford, 2001).

[4] Peter Gray, “The Decline of Play and the Rise of Psychopathology in Children and Adolescents”, American Journal of Play, tập 23, số 4 (2011), tr. 450.

[5] Jantje Beton/Kantar Public (TNS NIPO), Buitenspelen Onderzoek 2018, jantjebeton. nl (17 tháng 4 năm 2018)

[6] Frank Huiskamp, “Rapport: Nederlandse leerlingen zijn niet gemotiveerd”, NRC Handelsblad (16 tháng 4 năm 2014).

[7] Gezinsrapport. Een portret van het gezinsleven in Nederland, Viện Nghiên cứu Xã hội Hà Lan (The Hague, 2011).

[8] Rebecca Rosen, “America’s Workers: Stressed Out, Overwhelmed, Totally Exhausted”, The Atlantic (ngày 27 tháng 3 năm 2014).

[9] Jessica Lahey, “Why Kids Care More About Achievement Than Helping others”, The Atlantic (ngày 25 tháng 5 năm 2014).

[10] Ví dụ, xem c. Page Moreau và Marit Gundersen Engeset, “The Downstream Consequences of Problem-Solving Mindsets: How Playing with LEGO Influences Creativity”, tạp chí Marketing Research, tập 53, số 1 (2016).

[11] Peter Gray, “The Play Deficit”, Aeon (ngày 18 tháng 9 năm 2013).

[12] How to Tame a Fox (And Build a Dog) (2017), tr. 73.

[13] Sarah Zielinski, “Five Surprising Animals That Play”, ScienceNews (ngày 20 tháng 2 năm 2015).

[14] Johan Huizinga, Homo Ludens. Proeve eener bepaling van het spelelement der cultuur (1938)”

[15] Peter Gray, “Play as a Foundation for Hunter Gatherer Social Existence”, American Journal of Play (mùa xuân năm 2009).

[16] Jared Diamond, The World Until Yesterday. What Can We Learn From Traditional Societies? (London, 2013), tr. 204.

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.