Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1231 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
05

❊ ❊ ❊

Con tàu nô lệ đầu tiên xuất hiện ở đường chân trời vào một ngày u ám năm 1862.

Đảo Phục Sinh là con mồi lý tưởng cho những kẻ buôn bán nô lệ người Peru: hòn đảo nằm biệt lập, cư dân trên đảo khỏe mạnh và thật thà, lại chưa bị bất kì cường quốc nào trên thế giới tuyên bố chủ quyền. Một sử gia tổng kết: “Tóm lại, chẳng ai biết hay bận tâm nhiều về những gì xảy ra với người dân và chi phí di chuyển họ sẽ rất nhỏ”.[1]

Theo như tổng kết, 16 con tàu đã rời đi với tất cả 1.407 người – chiếm một phần ba cư dân đảo lúc bấy giờ. Một số bị lừa với những lời hứa giả tạo, số khác bị bắt phải đi. Hóa ra thủ phạm chính là những kẻ buôn nô lệ đã bắt cóc cư dân đảo Ata (hòn đảo nơi Chúa Ruồi phiên bản đời thực sẽ xuất hiện một trăm năm sau). Khi đã đến Peru, những cư dân đảo bị bắt làm nô lệ bắt đầu rụng như ruồi. Những người nếu không làm việc đến chết trong các hầm mỏ, thì cũng không thể chống chọi được với các bệnh lây nhiễm.

Năm 1863, trước những áp lực của cộng đồng quốc tế, chính phủ Peru buộc phải đồng ý đưa những cư dân đảo Phục Sinh còn sống trở về quê hương. Trong quá trình chuẩn bị trở về, những cư dân đảo được tập hợp tại thành phố cảng Callao của Peru. Họ không có nhiều thực phẩm và tệ hơn nữa, một con tàu săn cá voi của Mỹ đang thả neo tại cảng có một thủy thủ đoàn bị nhiễm bệnh đậu mùa.

Virus lây lan nhanh chóng. Sau đó, suốt hải trình dài trở về đảo Phục Sinh, người ta phải ném các xác chết qua boong tàu. Cuối cùng chỉ còn 15 trong số 470 nô lệ được trả tự do còn sống về đến quê nhà.

Có lẽ sẽ tốt hơn cho hòn đảo nếu tất cả mọi người trên con thuyền đó đều chết trước khi trở về hòn đảo. Vì ngay khi họ trở về, virus đậu mùa nhanh chóng lây lan khắp hòn đảo, reo rắc chết chóc và hủy diệt. Số phận của đảo Phục Sinh đã được an bài. Giờ đây những người châu Âu đặt chân lên đảo thật sự chứng kiến cảnh cư dân đảo quay lưng lại với nhau. Có hàng đống xương và đầu lâu, một thuyền trưởng người Pháp viết, và những người nhiễm bệnh bị xua đuổi trở nên cùng quẫn tới mức hàng chục người đã gieo mình khỏi vách đá tự tử.

Cuối cùng khi dịch bệnh lắng xuống năm 1877, chỉ còn lại 110 cư dân – bằng con số những người đầu tiên chèo thuyền tới bờ biển này 800 năm trước. Truyền thống mai một, các nghi lễ bị lãng quên, nền văn hóa tiêu tan. Cuối cùng chính những kẻ buôn nô lệ và dịch bệnh đã hoàn thành những gì cư dân trên đảo và loài chuột không làm được. Bọn họ hủy diệt đảo Phục Sinh.

Vậy sự thật về câu chuyện trên đảo Phục sinh là gì? Câu chuyện về những cư dân đảo xem mình là trung tâm đã đẩy nền văn minh của chính mình đến diệt vong? Không nhiều thông tin cho biết điều này. Không hề có chiến tranh, không hề có nạn đói, không hề có chuyện ăn thịt đồng loại. Nạn phá rừng không làm cho hòn đảo kém mến khách, ngược lại còn giúp hoạt động sản xuất trở nên năng suất hơn. Không hề có cuộc tàn sát tràn lan vào khoảng năm 1680; sự suy tàn thật sự không xảy ra cho tới những thế kỉ sau này, khoảng năm I860. Và các vị khách nước ngoài tới đảo không hề nhận thấy bất kì dấu hiệu nào cho thấy nền văn minh trên đảo đang suy tàn – chính những vị khách này mới là kẻ hủy hoại nó.

Đấy là chưa nói cư dân không hề gây hại gì cho những vị khách, những người đã đắc tội với cư dân đảo, như vô tình đưa tới một dịch bệnh chuột quét sạch các loài động và thực vật bản địa. Sau khởi đầu chông chênh này, điều nổi bật nhất là khả năng phục hồi và thích nghi của cư dân trên đảo. Hóa ra họ khôn ngoan hơn rất nhiều so với những gì mà thế giới đem đến cho họ.

Vậy phải chăng đảo Phục Sinh vẫn là một ẩn dụ hoàn hảo cho tương lai của chúng ta? Vài ngày sau cuộc trò chuyện giữa tôi với Giáo sư Boersema, tôi đã thấy một tiêu đề báo: “BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐE DỌA CÁC BỨC TƯỢNG TRÊN ĐẢO PHỤC SINH”. Các nhà khoa học đã phân tích ảnh hưởng của mực nước biển dâng lên và tình trạng xói mòn bờ biển, và đây là kịch bản mà họ dự đoán.[2]

Tôi không chút hoài nghi khi nói đến biến đổi khí hậu. Trong tư duy của tôi thì đây rõ ràng là thách thức lớn nhất trong thời đại chúng ta – và thời đại đó đang dần hết. Tuy nhiên, điều tôi hoài nghi là sự khoa trương dựa theo thuyết định mệnh về sự sụp đổ, về quan niệm cho rằng loài người chúng ta vốn ích kỉ, hay tệ hơn là một loại virus trên trái đất. Tôi hoài nghi khi quan niệm này được cho là “hiện thực”, và tôi hoài nghi khi chúng ta nói rằng không có cách nào thoát khỏi nó.

Quá nhiều nhà hoạt động môi trường đánh giá thấp khả năng phục hồi của trái đất. Điều tôi sợ hãi là sự yếm thế của họ có thể trở thành một lời tiên tri tự hoàn thành – một hiệu ứng phản dược làm tê liệt chúng ta bằng nỗi tuyệt vọng, trong khi nhiệt độ vẫn tăng lên không hề giảm xuống. Phong trào về môi trường và khí hậu cũng có thể áp dụng một chủ nghĩa hiện thực mới.

Giáo sư Boersema nói với tôi: “Mọi người không nhận ra rằng không chỉ các vấn đề mà cả các giải pháp cũng có thể tăng lên theo cấp số nhân. Chẳng có gì bảo đảm sẽ như vậy, nhưng chúng có thể.”

Để chứng minh cho điều đó, chúng ta chỉ cần nhìn vào đảo Phục Sinh. Khi cái cây cuối cùng biến mất, cư dân trên đảo đã tái phát triển nông nghiệp bằng cách áp dụng những kĩ thuật mới để gia tăng sản lượng. Câu chuyện thật sự của đảo Phục Sinh là câu chuyện của một dân tộc kiên cường và tháo vát, kiên trì đối mặt với những khó khăn gian khổ. Nó không phải là câu chuyện về ngày tận thế đang lơ lửng, mà là suối nguồn của hi vọng.

❀ ❀ ❀

[1] Henry Evans Maude, Slavers in Paradise: The Peruvian Labour Trade in Polynesia, 1862-1864 (Canberra, 1981), tr. 13.

[2] Nicolas Casey, “Easter Island Is Eroding”, New York Times (ngày 20 tháng 7 năm 2018).

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.