Mùa thu năm 1990, một trung tâm nghiên cứu mới khai trương tại trường đại học nơi Stanley Milgram tiến hành những thí nghiệm gây chấn động của mình 30 năm trước. Trung tâm Nghiên cứu Nhận thức Trẻ sơ sinh Yale (Yale’s Infant Cognition Center) – hay tên gọi phổ biến hơn là Phòng Thí nghiệm Trẻ nhỏ – đã tiến hành một trong những nghiên cứu thú vị nhất. Các câu hỏi được sử dụng ở đây đều có nguồn gốc từ thời Hobbes và Rousseau (thế kỉ 17 và 18). Bản chất con người là gì? Việc nuôi dưỡng có vai trò gì? Bản tính con người vốn là thiện hay ác?
Năm 2007, nhà nghiên cứu Kiley Hamlin của Phòng Thí nghiệm Trẻ nhỏ đã xuất bản kết quả của một nghiên cứu mang tính đột phá. Bà cùng với nhóm nghiên cứu của mình đã chứng minh được rằng trẻ sơ sinh cũng có ý thức đạo đức bẩm sinh. Trẻ sơ sinh chỉ mới sáu tháng tuổi không chỉ có thể phân biệt đúng với sai, mà chúng còn thích điều tốt hơn điều xấu.[1]
Có lẽ bạn đang thắc mắc làm thế nào Hamlin có thể chắc chắn như vậy. Nói cho cùng, trẻ nhỏ không thể tự mình làm được gì nhiều. Chuột có thể vượt qua mê cung, còn trẻ nhỏ thì sao? Chà, có một điều chúng có thể làm được: trẻ nhỏ biết quan sát. Vì thế các nhà nghiên cứu tổ chức một buổi trình diễn múa rối cho các đối tượng nghiên cứu bé xíu của mình (sáu và mười tháng tuổi), với một con rối hành động giúp ích và con kia hành xử như kẻ ngu ngốc. Vậy những đứa trẻ sơ sinh sẽ tiếp cận con rối nào?
Bạn có thể đoán ra: trẻ sơ sinh thích con rối giúp ích. Một nhà nghiên cứu đã viết: “Đây không phải là một xu hướng thống kê tinh vi. Chỉ là tất cả trẻ con đều hướng đến người tốt.”[2] Sau hàng thế kỉ nghiên cứu xem trẻ sơ sinh nhìn nhận thế giới như thế nào, đây là bằng chứng rất đáng được xem xét một cách cẩn trọng để chứng minh rằng chúng ta có một chiếc la bàn đạo đức bẩm sinh và giống loài Homo puppy không phải là một tấm bảng trống trơn. Từ khi được sinh ra, chúng ta vốn đã hướng thiện; điều này nằm trong bản chất của chúng ta.
Và khi tôi đi sâu vào các cuộc nghiên cứu về trẻ em, tôi bắt đầu cảm thấy bớt lạc quan hơn.
Vấn đề là trong bản chất con người vẫn còn một phương diện khác. Vài năm sau thí nghiệm được kể trên, Hamlin và nhóm của bà thực hiện một nghiên cứu biến tấu-khác.[3] Lần này, họ cho lũ trẻ lựa chọn giữa bánh quy giòn Graham Crackers và những hạt đậu xanh để xác định xem chúng thích bên nào. Sau đó họ cho chúng thấy hai con rối: một con trông như bánh quy giòn, con kia như những hạt đậu. Một lần nữa, họ quan sát xem lũ trẻ thích con rối nào.
Không có gì lạ, tất cả đều huớng đến con rối có khẩu vị mà chúng thích. Điều đáng ngạc nhiên hơn là sở thích này vẫn được duy trì, thậm chí sau khi con rối mà các em chọn có khuynh hướng làm những hành động xấu. Một cộng sự của Hamlin nói: “Những gì chúng tôi thấy đi thấy lại là trẻ con sẽ lựa chọn cá nhân có hành động xấu xa nhưng giống với chúng hơn là người tốt bụng nhưng có quan điểm khác với chúng.”[4]
Bạn có cảm thấy chán nản không?
Thậm chí, trước khi chúng ta học nói, thì dường như chúng ta đã có ác cảm với những điều không thân thuộc với mình. Các nhà nghiên cứu tại Phòng Thí nghiệm Trẻ nhỏ tiếp tục thực hiện hàng chục thí nghiệm và nhận thấy rằng trẻ em không thích những gương mặt không quen, những mùi lạ, tiếng nước ngoài hay giọng nói xa lạ. Như thể tất cả chúng ta sinh ra đã là những kẻ bài ngoại vậy.[5]
Thế rồi tôi bắt đầu thắc mắc: Liệu đây có phải là một hội chứng do sự ghép đôi lệch nguy hiểm hay không? Phải chăng sở thích mang tính bản năng của chúng ta đối với những gì chúng ta biết không phải là vấn đề lớn trong phần lớn thời gian tồn tại của con người, mà chỉ mới trở thành một vấn đề đáng suy nghĩ do sự xuất hiện của nền văn minh? Trong hơn 95% lịch sử của chúng ta, chúng ta là những cư dân săn bắt hái lượm. Bất kì khi nào chúng ta bắt gặp một người xa lạ trên đường, chúng ta đều dừng lại trò chuyện và sau đó người ấy không còn xa lạ nữa.
Ngày nay, mọi chuyện rất khác. Chúng ta sống trong những thành phố vô danh, một vài người trong chúng ta thuộc về hàng triệu người xa lạ. Hầu hết những gì chúng ta biết về người khác là do các phương tiện truyền thông và các nhà báo, những người có xu hướng thích phóng đại những thứ xấu xa. Việc chúng ta trở nên nghi ngờ người lạ như vậy có gì đáng ngạc nhiên không? Ác cảm bẩm sinh của chúng ta về những gì không quen thuộc có phải là một quả bom hẹn giờ đang điểm từng hồi?
Kể từ sau khi Kiley Hamlin thực hiện nghiên cứu đó, đã có nhiều nghiên cứu khác được tiến hành để kiểm tra ý thức đạo đức của trẻ sơ sinh. Đó là lĩnh vực nghiên cứu khá thú vị, có lẽ vẫn còn đang trong “độ tuổi sơ sinh”. Trở ngại lớn nhất trong lĩnh vực nghiên cứu này là ở chỗ trẻ nhỏ rất dễ bị phân tâm, điều này khiến cho việc thiết kế những thí nghiệm hiệu quả và thực tế trở nên khó khăn hơn.[6]
May thay, khi trẻ em được 18 tháng tuổi, chúng đã khôn lên rất nhiều, do đó dễ nghiên cứu hơn. Hãy cùng tìm hiểu công trình của nhà tâm lý học người Đức là Felix Warneken. Khi còn là nghiên cứu sinh bậc Tiến sĩ, ông rất quan tâm đến việc tìm hiểu xem trẻ đang chập chững biết đi có khả năng giúp đỡ người khác như thế nào. Các giảng viên hướng dẫn của ông đã cực lực phản đối ý tưởng này, họ tin rằng – vốn là điều rất phổ biến vào đầu thập niên 2000 – trẻ mới chập chững biết đi về cơ bản là những chủ thể bản ngã đang tập đi. Nhưng Warneken không nản chí và đã tiến hành một loạt thí nghiệm mà sau này chúng được lặp đi lặp lại trên khắp thế giới.[7]
Mọi thí nghiệm của Felix Warneken đều cho kết quả giống nhau. Thậm chí, các thí nghiệm còn nhận thấy rằng ở độ tuổi non nớt là 18 tháng, hầu hết trẻ em đều háo hức được giúp đỡ người khác, chúng sẵn lòng và vui sướng đến mức tạm dừng các trò chơi để hỗ trợ, giúp đỡ một người lạ ngay cả khi đó là một mớ hỗn độn.[8] Và sau khi giúp đỡ xong chúng còn chẳng muốn nhận phần thưởng.[9]
Nhưng sau đây là một vài tin không vui. Sau khi biết về nghiên cứu đầy kích thích của Felix Warneken, tôi cũng tìm hiểu thêm một vài nghiên cứu với những phát hiện kém lạc quan hơn, cho thấy trẻ em là đối tượng rất dễ bị sai khiến, xúi giục chống lại nhau. Chúng ta có thể thấy điều này ở Thí nghiệm Động Robbers của Muzafer Sherif (xem Chương 7), và còn được chứng minh bởi một thí nghiệm khét tiếng từ những năm 1960, được khởi động ngay sau ngày Martin Luther King bị ám sát.
Ngày 5 tháng 4 năm 1968, Jane Elliott giao bài thực hành về phân biệt chủng tộc cho các em học sinh lớp ba tại một trưởng học nhỏ ở Riceville thuộc tiểu bang Iowa, Mỹ.
Elliott mở đầu thí nghiệm: “Trong căn phòng này, những em mắt nâu là những người tốt hơn. Các em sạch sẽ hơn, thông minh hơn.” Bà viết bằng chữ in hoa từ MELANIN lên bảng, sau đó giải thích rằng đây là chất làm cho con người thông minh. Vì những đứa trẻ mắt nâu có nhiều chất này hơn nên chúng cũng thông minh hơn, trong khi những bạn mắt xanh biếc chỉ biết “ngồi yên và chẳng làm gì”.[10]
Không mất nhiều thời gian để nhóm Mắt nâu bắt đầu có những hành động và lời nói xem thường nhóm Mắt biếc, và rồi nhóm Mắt biếc dần mất tự tin. Một bé gái có đôi mắt biếc bình thường vốn rất thông minh bắt đầu mắc lỗi trong giờ toán. Trong giờ nghỉ sau đó, ba người bạn mắt nâu đến gần em và nói: “Tốt hơn là mày hãy xin lỗi vì đã dám cản đường bọn tao vì bọn tao ‘ngon’ hơn mày.”[11]
Khi Elliott xuất hiện với tư cách khách mời trong chương trình Tonight Show Starring Johnny Carson (tạm dịch: Trò chuyện đêm khuya với Johnny Carson) nổi tiếng vài tuần sau đó, những người dân Mỹ da trắng rất tức giận với thí nghiệm đó. Một khán giả giận dữ bình luận: “Làm sao bà dám làm thí nghiệm độc ác này với bọn trẻ da trắng. Trẻ em da đen lớn lên đã quen với cách hành xử như vậy, nhưng trẻ em da trắng chẳng thể nào hiểu được chuyện đó. Như vậy rất độc ác với trẻ em da trắng và sẽ khiến chúng phải chịu tổn thương tâm lý rất lớn.”[12]
Jane Elliott tiếp tục đấu tranh với kiểu phân biệt chủng tộc này suốt đời mình. Tuy nhiên có một điều quan trọng mà các độc giả cần lưu ý rằng cuộc đấu tranh của bà không phải là cuộc đấu tranh theo hướng khoa học. Bà đã mất rất nhiều công sức khiến học sinh của mình đấu tranh chống lại nhau, ví dụ như buộc những trẻ mắt biếc ngồi ở cuối lớp học, cho chúng ít thời gian nghỉ hơn và không cho phép chúng chơi với các bạn mắt nâu. Thí nghiệm của bà không trả lời cho câu hỏi: điều gì xảy ra khi bạn chia bọn trẻ thành từng nhóm, nhưng sau đó không can thiệp bằng bất kì cách nào khác.
Mùa thu năm 2003, một nhóm các nhà tâm lý học thiết lập một nghiên cứu để thực hiện chính xác việc đó. Họ đề nghị hai trung tâm trông giữ trẻ ở Texas cho tất cả trẻ của trung tâm, từ ba đến năm tuổi, mặc áo có màu khác nhau, một nhóm màu đỏ và nhóm còn lại có màu xanh lam. Chỉ sau ba tuần, các nhà nghiên cứu đã có thể rút ra một số kết luận.[13] Đầu tiên, chừng nào người lớn không quan tâm đến sự khác biệt về màu sắc thì đám trẻ cũng chẳng hề bận tâm đến điều đó. Tuy nhiên, bọn trẻ lại hình thành ý thức về nhận diện nhóm. Trong các cuộc trò chuyện với các nhà nghiên cứu, các em nói màu của nhóm mình là “khôn hơn” và “đẹp hơn”. Và khi thực hiện một biến thể của thí nghiệm này, trong đó người lớn nhấn mạnh đến sự khác biệt (đơn giản như: “Chào các con, màu đỏ và màu xanh!”), hành động này đã gây ra những tác động mạnh mẽ hơn nhiều.
Trong cuộc nghiên cứu tiếp theo, một nhóm trẻ năm tuổi được ăn mặc giống nhau với áo màu đỏ hoặc màu xanh lam rồi được cho xem những bức ảnh các bạn mình hoặc mặc áo cùng màu hoặc khác màu. Ngay cả khi chẳng biết gì về những cá nhân trong ảnh, các đối tượng nghiên cứu vẫn có thái độ tiêu cực hơn đối với những trẻ mặc áo khác màu với chúng. Các nhà nghiên cứu quan sát thấy nhận thức của chúng bị “bóp méo một cách khá phổ biến bởi vị thế thành viên trong một nhóm xã hội, đây là phát hiện với những hàm ẩn đáng lo ngại”.[14]
Bài học tàn nhẫn là trẻ con không hề mù màu. Hoàn toàn ngược lại: chúng nhạy cảm với sự khác biệt hơn người lớn. Thậm chí, khi người ta tìm cách đối xử với mọi người một cách bình đẳng và hành động như thể những thay đổi về màu da, diện mạo hay tài sản không hề tồn tại thì trẻ con vẫn nhận thức được sự khác biệt. Dường như chúng ta sinh ra với nút công tắc của chủ nghĩa bộ tộc có sẵn trong não bộ. Tất cả những gì chúng ta cần là một điều gì đó để bật công tắc đó lên.
❀ ❀ ❀
[1] J. Kiley Hamlin, Karen Wynn và Paul Bloom, “Social Evaluation by Preverbal Infants”, Nature (ngày 22 tháng 11 năm 2007).
[2] Paul Bloom, Just Babies. The Origins of Good and Evil (New York, 2013), tr. 28.
[3] J. Kiley Hamlin chủ biên, “Not Like Me = Bad: Infants Prefer Those Who Harm Dissimilar Others”, Psychological Science, tập 24, số 4 (2013).
[4] Karen Wynn nói điều này trên chương trình Anderson Cooper 360 của CNN ngày 15 tháng 2 năm 2014.
[5] Bloom, Just Babies, tr. 104-5.
[6] Phân tích lớn đầu tiên, bao gồm 26 nghiên cứu, kết luận rằng sở thích của trẻ nhỏ đối với người tốt là “một phát hiện thực nghiệm đã có từ lâu”. Nhưng không phải ai cũng thuyết phục. Một số nhà khoa học nhắc lại thí nghiệm của Hamlin thấy hiệu ứng tương tự, nhưng những người khác lại không thấy tương quan đáng kể. Xem Francesco Margoni và Luca Surian, “‘Infants’ Evaluation of Prosocial and Antisocial Agents: A Meta-Analysis”, Developmental Psychology, tập 54, số 8 (2018).
[7] Susan Seligson, “Felix Warneken Is Overturning Assumptions about the Nature of Altruism”, tạp chí Radcliffe (mùa Đông năm 2015).
[8] Trong TEDx Talk của Warneken (tiêu đều: “Need Help? Ask a 2-Year-Old”), có sẵn trên YouTube, bạn có thể thấy một video xúc động cảnh một đứa trẻ lên khỏi một hố bóng để giúp ai đó đang cần.
[9] Không chỉ vậy, nếu bạn thưởng cho một đứa nhỏ kẹo hoặc đo chơi, Warneken thấy sau đó chúng ít giúp đỡ hơn, vì đó không phải là động lực của chúng (xem Chương 13 về động lực nội tại). Felix Warneken và Michael Tomasello, “Extrinsic Rewards Undermine Altruistic Tendencies in 20-Month-Olds”, Development Psychology, tập 44, số 6 (2008).
[10] Stephen G. Bloom, “Lesson of a Lifetime”, tạp chí Smithsonian (tháng 9 năm 2005).
[11] Như trên.
[12] Như trên.
[13] Rebecca S. Bigler và Meagan M. Patterson, “Social Stereotyping and Prejudice in Children. Insights for Novel Group Studies”, trong Adam Rutland, Drew Nesdale và Christia Spears Brown (biên tập), The Wiley Handbook of Group Processes in Children and Adolescents (Oxford, 2017), tr. 184-202.
[14] Yarrow Dunham, Andrew Scott Barron và Susan Carey, “Consequences of “Minimal” Group Affiliations in Children”, Child Development, tập 82, số 3 (2011), tr. 808.