Nói về Chủ nghĩa Cộng sản, trước đây có một điều tôi không nhận ra khi đó là Chủ nghĩa Cộng sản – ít nhất theo định nghĩa chính thức – là một hệ thống thành công cả trăm năm, một hệ thống mà Liên Xô đã từng áp dụng. Thực tế, chúng ta vẫn thực hành nó hằng ngày. Thậm chí sau nhiều thập kỉ tư nhân hóa, những lát cắt kinh tế lớn của chúng ta vẫn vận hành theo mô hình Cộng sản Chủ nghĩa. Điều này bình thường và rõ rệt đến mức chúng ta không nhận ra nó nữa.[1]
Ví dụ đơn giản: bạn ngồi bên bàn ăn tối và không thể với được lọ muối. Bạn nói, “Làm ơn chuyển giúp tôi lọ muối” và như thế, có người đưa lọ muối cho bạn, miễn phí. Con người vẫn làm mọi việc theo kiểu Chủ nghĩa Cộng sản thường nhật này, như cách gọi của các nhà nhân chủng học, chia sẻ các công viên, khu mua sắm, âm nhạc và các câu chuyện, các bãi biển và giường ngủ.[2]
Có lẽ ví dụ tốt nhất cho tính hào phóng này là các hộ gia đình. Hàng tỉ gia đình trên toàn thế giới được tổ chức dựa trên nguyên tắc Cộng sản Chủ nghĩa: cha mẹ chia sẻ tài sản của họ với con cái và đóng góp theo khả năng của họ. Đây chính là nơi đầu tiên chúng ta biết đến từ “kinh tế”, vốn xuất phát từ tiếng Hy Lạp oikonomíā, nghĩa là “quản lý một hộ gia đình”.
Ở nơi làm việc chúng ta cũng liên tục thể hiện các dấu hiệu Cộng sản Chủ nghĩa của mình. Chẳng hạn, khi viết cuốn sách này, tôi được lợi từ cặp mắt phê bình của hàng chục đồng nghiệp, những người không đòi hỏi bất kì xu nào cho thời gian của họ. Các doanh nghiệp cũng là những đối tượng rất hâm mộ Chủ nghĩa Cộng sản, đơn giản vì nó hiệu quả.
Nhưng còn những người xa lạ thì sao? Sau cùng, chúng ta không chia sẻ mọi thứ với mọi người. Mặt khác, bạn thường xuyên tính phí với những người nhờ bạn chỉ đường hay không? Hoặc khi bạn giữ cửa mở cho ai đó, hay cho phép người khác cùng trú dưới ô của mình? Đây không phải là những giao dịch có đi có lại; bạn làm vì đó là việc tử tế bạn nên làm và vì bạn tin những người lạ khác sẽ làm cho bạn điều tương tự.
Trong cuộc sống của chúng ta có rất nhiều loại hành động mang tinh thần của Chủ nghĩa Cộng sản. Từ Chủ nghĩa Cộng sản xuất phát từ tiếng Latin là communis nghĩa là “công xã”. Bạn có thể thấy Chủ nghĩa Cộng sản là nền tảng cho những điều khác – thị trường, nhà nước, bộ máy công quyền – tất cả đều xây dựng trên đó. Điều này có thể lý giải cho sự bùng nổ hợp tác và tinh thần vị tha xảy ra sau thiên tai, như trận lũ lụt ở New Orleans vào năm 2005. Trong thảm họa, chúng ta đánh thức lòng trắc ẩn của mình.
Dĩ nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể áp dụng lý tưởng Cộng sản Chủ nghĩa về việc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, cũng như không phải mọi thứ đều có thể quy về giá trị tiền tệ. Tuy nhiên, hãy thử lùi ra xa và bạn sẽ nhận ra rằng, hằng ngày chúng ta vẫn sẵn sàng chia sẻ với người khác nhiều hơn là chúng ta giữ cho bản thân mình.
Nền tảng công xã này là một trụ cột quan trọng của Chủ nghĩa Tư bản. Hãy xem có bao nhiêu công ty hoàn toàn lệ thuộc vào sự hào phóng của khách hàng. Facebook sẽ kém giá trị hơn rất nhiều nếu thiếu những hình ảnh và video mà hàng triệu người dùng chia sẻ miễn phí. Và Airbnb sẽ không tồn tại lâu nếu thiếu những đánh giá mà những người du lịch đăng lên một cách vô tư.
Vậy tại sao chúng ta lại không nhìn thấy Chủ nghĩa Xã hội trong chính mình? Có lẽ đó là vì những thứ chúng ta chia sẻ dường như không phải là những điều đáng chú ý. Chúng ta coi việc chia sẻ chúng là hiển nhiên. Chẳng ai lại đi in tờ rơi để giải thích với mọi người rằng đi dạo trong Công viên Trung tâm rất tuyệt, không khí trong lành. Không cần ai phải hướng dẫn chúng ta hít thở ra sao. Chúng ta cũng chẳng hề nghĩ rằng thứ không khí đó – hay bãi biển chúng ta thư giãn hoặc những câu chuyện cổ tích chúng ta kể lại – là thuộc về một ai đó.
Chỉ khi ai đó quyết định cho thuê không khí, chiếm đoạt bãi biển hoặc tuyên bố bản quyền đối với những câu chuyện cổ tích thì chúng ta mới chú ý. Đợi một phút, bạn sẽ nghĩ rằng, chẳng nhẽ điều này lại không thuộc về tất cả chúng ta sao?
Mọi thứ chúng ta chia sẻ được gọi là của chung. Chúng có thể bao gồm bất kì thứ gì – một khu vườn của khu dân cư, một website, một ngôn ngữ hay một hồ nước – chừng nào nó được chia sẻ và quản lý một cách dân chủ bởi một cộng đồng. Một số của chung là một phần của thiên nhiên chẳng hạn như nước uống, số khác là những phát minh của con người như trang Wikipedia.
Trong hàng nghìn năm, của chung đã cấu thành gần như mọi thứ trên trái đất. Tổ tiên du mục của chúng ta hiếm khi có khái niệm về tài sản tư và chắc chắn chẳng hề biết gì về nhà nước. Những cư dân săn bắt hái lượm xem thiên nhiên như “nơi cho đi” chu cấp cho nhu cầu của mọi người, và họ chẳng bao giờ đăng kí bằng sáng chế cho một phát minh hay một giai điệu. Như chúng ta thấy ở Chương 3, giống loài Homo puppy thành công nhờ thực tế rằng chúng ta là những kẻ đạo văn bậc thầy. Chỉ trong 10.000 năm qua, những phần của chung này càng ngày càng bị doanh nghiệp và nhà nuớc nuốt gọn. Bắt đầu với các thủ lĩnh và vị vua đầu tiên, những kẻ đòi hỏi sở hữu đất đai vốn từng là của chung cho tất cả mọi người. Ngày nay, chủ yếu các công ty, tập đoàn đa quốc gia đã chiếm đoạt mọi của chung, từ nguồn nước tới thuốc chữa bệnh, từ kiến thức khoa học mới tới các ca khúc chúng ta hát. (Như ca khúc kinh điển Happy Birthday vốn là của chung từ thế kỉ 19 cho tới tận năm 2015 khi hãng Warner Music Group sở hữu mọi quyền, nhờ đó kiếm được hàng chục triệu đô la tiền tác quyền).
Hoặc hãy xem sự trỗi dậy của ngành quảng cáo, lĩnh vực chuyên giăng những biển quảng cáo khó coi ở mọi thành phố trên khắp thế giới. Nếu có ai đó phun lên nhà bạn tranh graffiti, chúng ta gọi đó là hành vi phá hoại. Nhưng với các biển quảng cáo, bạn được phép phá vỡ không gian công cộng và các nhà kinh tế sẽ gọi đó là “tăng trưởng”.
Khái niệm “của chung” kiếm ra tiền xuất phát từ một bài viết trên tạp chí Science, do là nhà sinh học người Mỹ Garrett Hardin viết vào năm 1968, thời kì Chiến Tranh lạnh. Hàng triệu người biểu tình trên khắp thế giới xuống đường phản đối, tập hợp với lời kêu gọi: “Hãy thực tế. Đòi hỏi những điều không thể.”
Nhưng nhân vật bảo thủ Garrett Hardin thì không. Bài viết dài sáu trang của ông tạo nên một công trình ngắn về chủ nghĩa lý tưởng hippie. Tiêu đề bài viết là gì ư? Bi kịch về của chung.
Hardin viết: “Hãy hình dung một đồng cỏ mở cửa cho tất cả. Ngay lập tức chúng ta sẽ thấy ngay rằng mỗi người chăn gia súc đều sẽ tìm cách thả nhiều gia súc hết mức có thể trên đồng cỏ đó.” Nhưng những điều có ý nghĩa ở cấp độ cá nhân lại dẫn đến một thảm họa chung, với việc chăn thả quá mức chẳng để lại gì ngoài những đất hoang cằn cỗi. Hardin sử dụng thuật ngữ “bi kịch” theo tiếng Hy Lạp, nghĩa là một sự kiện đáng tiếc nhưng tất yếu, ông nói: “Quyền tự do trong quan hệ chung đã gây ra sự hủy hoại với tất cả”.[3]
Hardin không sợ đi đến những kết luận nghiệt ngã. Trước câu hỏi các quốc gia có nên gửi viện trợ lương thực tới Ethiopia không, câu trả lời của ông là: Thậm chí đừng có suy nghĩ như vậy. Thêm lương thực nghĩa là thêm trẻ em, sau đó là thêm nạn đói.[4] Giống như những người bi quan về đảo Phục Sinh, ông thấy tình trạng quá tải dân số là bi kịch cuối cùng, và giới hạn sinh sản là giải pháp cần thiết (nhưng điều đó không áp dụng cho chính ông: Hardin có bốn người con).
Không hề nói quá khi cho rằng tác động của bài viết này cực kì sâu rộng, bài viết của Hardin liên tục được tái bản nhiều lần trên các tạp chí khoa học, được hàng triệu người trên toàn thế giới đọc.[5] Thậm chí, một nhà sinh học người Mỹ cuối những năm 1980 đã tuyên bố: “Cần yêu cầu mọi sinh viên đọc nó, và nếu tôi có đủ quyền lực, thì tôi sẽ khiến tất cả mọi người đọc được bài viết này.”[6]
Cuối cùng, “Bi kịch của chung” sẽ được chứng minh qua những bằng chứng hiện thực mạnh mẽ nhất về sự tăng trưởng của thị trường và nhà nước. Vì tài sản chung có nguy cơ thất bại thảm hại nên chúng ta cần, hoặc là bàn tay hữu hình của nhà nước làm công việc chính đáng của mình, hoặc bàn tay vô hình của thị trường để cứu chúng ta. Dường như hai hướng giải quyết này – Điện Kremlin hoặc Phố Wall – là những lựa chọn duy nhất và có sẵn. Thế rồi, sau khi Bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, thì chỉ còn một cách duy nhất. Chủ nghĩa Tư bản chiếm ưu thế, và chúng ta trở thành Homo economicus (người kinh tế).
❀ ❀ ❀
[1] “Communism”, oxforddictionaries.com.
[2] Graeber, Debt, tr. 94-102.
[3] Garrett Hardin, “The Tragedy of the Commons”, Science, tập 162, số 3859 (ngày 13 tháng 12 năm 1968).
[4] John Noble Wilford, “A Tough-minded Ecologist Comes to Defense of Malthus”, New York Times (ngày 30 tháng 6 năm 1987).
[5] Ian Angus, “The Myth of the Tragedy of the Commons”, Climate & Capitalism (ngày 25 tháng 8 năm 2008).
[6] John A. Moore, “Science as a Way of Knowing Human Ecology”, American Zoologist, tập 25, số 2 (1985), tr. 602.