Trước khi Thế chiến thứ Hai bùng nổ, Bộ Tư lệnh quân đội Anh nhận thấy họ sắp phải đối diện với một mối đe dọa hiện hữu. London rơi vào tình thế đặc biệt nguy hiểm. Theo Winston Churchill, thành phố này đã trở thành “một mục tiêu lớn nhất thế giới, một con bò mập ú đầy giá trị đang bị trói vào cọc để thu hút những con thú săn mồi”.[1]
Dĩ nhiên, con thú săn mồi không phải ai khác mà chính là Adolf Hitler và cỗ máy chiến tranh của ông ta. Nếu người dân Anh chỉ vì hoảng loạn, khiếp sợ những chiếc máy bay ném bom mà chịu khuất phục Hitler thì điều đó được coi là dấu hiệu cho thấy sự chấm hết của quốc gia này. “Giao thông sẽ tê liệt, những người vô gia cư ngày đêm gào thét để được cứu giúp, thành phố rơi vào tình trạng hỗn loạn”, một vị tướng Anh lo sợ.[2] Hàng triệu dân thường không chịu nổi sự căng thẳng chiến sự, ngay đến cả quân đội cũng khó có thể triển khai chiến đấu vì bị vướng bận với những đám đông cuồng loạn. Churchill dự đoán có ít nhất ba đến bốn triệu người dân sẽ tháo chạy khỏi London.
Bất kì ai, nếu muốn hiểu về tất cả nết hư thói xấu từng được con người phóng thích thì chỉ cần đọc cuốn sách Psychologie des foules[3] được viết bởi một trong những học giả có ảnh hưởng nhất ở thời đại của mình, Gustave Le Bon người Pháp. Hitler cũng đã đọc cuốn sách này từ đầu đến cuối. Mussolini, Stalin, Churchill và Roosevelt cũng vậy.
Cuốn sách của Le Bon cung cấp cho độc giả chi tiết về cách mọi người phản ứng trước khủng hoảng. Ngay gần phần mở đầu, ông viết: “Con người đã tụt xuống vài bậc trên chiếc thang văn minh.”[4] Khi hoảng loạn và bạo lực nổ ra, con người chúng ta sẽ lộ ra bản chất thật của mình.
Ngày 19 tháng 10 năm 1939, Hitler trình bày tóm tắt kế hoạch tấn công của Đức với các tướng lĩnh. Ông ta nói: “Việc Không quân Đức (Luftwaffe) tấn công không khoan nhượng chính là nhằm thẳng vào “ý chí kháng cự” của dân Anh, cuộc tấn công này có thể và sẽ được thực hiện ở một thời điểm nhất định.”[5] Tại Anh, mọi người đều nghe rõ chiếc đồng hồ đang nhích từng tiếng tích tắc. Kế hoạch đào một mạng lưới hầm trú ẩn dưới lòng đất tại London được đưa ra, nhưng cuối cùng lại bị gạt bỏ do những lo ngại rằng dân chúng vốn đang sợ hãi đến mức tê liệt, sẽ chẳng bao giờ dám ra khỏi hầm nữa. Vào phút chót, một vài bệnh viện tâm thần đã được sơ tán ra khỏi thành phố để chuẩn bị đón những bệnh nhân đầu tiên.
Và rồi mọi việc bắt đầu.
Ngày 7 tháng 9 năm 1940, 348 máy bay ném bom của Đức đã tấn công vào eo biển nước Anh. Hôm đó, thời tiết khá đẹp vì vậy mà nhiều người dân ở London đã ra khỏi nhà, và khi còi báo động vang lên lúc 4 giờ 43 phút chiều, mọi ánh mắt đều hướng lên bầu trời.
Những ngày tháng 9 đó sẽ đi vào lịch sử như là Ngày thứ Bảy Đen tối, và những gì diễn ra tiếp theo đó được đặt tên là chiến dịch Blitz. Trong chín tháng ròng, London phải hứng chịu hơn 80.000 quả bom. Toàn bộ các khu dân cư bị xóa sổ. Một triệu tòa nhà ở thủ đô đã bị hư hại hoặc bị phá hủy, hơn 40.000 người dân Anh thiệt mạng.
Vậy người dân Anh đã phản ứng thế nào trong cuộc chiến đó? Điều gì xảy ra khi đất nước này bị ném bom hàng tháng liền? Người dân có bị kích động không? Liệu họ có hành xử như những tên côn đồ không?
Hãy để tôi bắt đầu bằng lời kể của một nhân chứng sống – một bác sĩ tâm thần người Canada.
Tháng 10 năm 1940, bác sĩ John MacCurdy đã lái xe đến khu Đông Nam London để thăm một khu dân cư nghèo, nơi bị tấn công vô cùng ác liệt. Tất cả những gì còn sót lại trên mặt đất là loang lổ những hố bom và các tòa nhà đổ nát. Nếu có một nơi được gọi là địa ngục thì chắc chắn chính là vùng đất này.
Vậy, vị bác sĩ này đã thấy gì vào thời điểm sau khi còi báo động có máy bay không kích vang lên? “Những cậu bé tiếp tục chơi trên vỉa hè, người mua bán vẫn đang mải mặc cả, viên cảnh sát giao thông điều tiết phương tiện trong sự chán nản và uể oải, còn những người đi xe đạp bất chấp tính mạng và coi thường luật giao thông. Theo như tôi quan sát được thì chẳng một ai buồn ngó lên trời.”[6]
Thực tế, nếu chỉ ra một đặc điểm chung trong tất cả những ghi chép về những ngày diễn ra chiến dịch Blitz, thì đó là những mô tả về không khí thanh bình đến kì lạ bao trùm khắp London. Một nhà báo Mỹ đã phỏng một vấn cặp vợ chồng người Anh trong căn bếp của họ, ông thắc mắc rằng tại sao họ có thể ngồi bình thản thưởng trà ngay cả khi các ô cửa đang rung lên bần bật vì những trận ném bom. “Họ không sợ chăng?”, nhà báo rất muốn biết. Và câu trả lời mà ông nhận được là: “Ôi không. Nỗi sợ thì giúp gì được cho chúng tôi cơ chứ?”[7]
Rõ ràng, Hitler đã quên tính đến một điều: những tinh hoa của người Anh. Bình thản. Thích hài hước châm biếm, như cách các chủ cửa hàng đã treo những tấm biển phía trước cơ ngơi đổ nát của mình: MỞ CỬA RỘNG HƠN BÌNH THƯỜNG. Hay người chủ quán rượu vẫn quảng cáo bằng tấm biền hiệu dựng trên đống đổ nát: CỬA SỔ CỦA CHÚNG TÔI ĐÃ VỠ, NHƯNG RƯỢU[8] CỦA CHÚNG TÔI RẤT TUYỆT. MỜI VÀO VÀ THƯỞNG THỨC.[9]
Người Anh đã chịu đựng các cuộc không kích của Đức giống hệt như cách họ vẫn làm với các chuyến tàu trễ. Bực tức, chắc chắn là vậy, nhưng xét cho cùng họ vẫn chịu đựng được. Như thường lệ, tàu hỏa vẫn tiếp tục chạy trong chiến dịch Blitz, và các chiến thuật của Hitler gần như chẳng ảnh hưởng gì đến nền kinh tế trong nước. Điều gây bất lợi cho cỗ máy chiến tranh của Anh lại chính là thứ Hai sau lễ Phục sinh vào tháng Tư năm 1941, khi tất cả người dân Anh không quên nghỉ ngơi.[10]
Chỉ vài tuần sau khi Đức mở chiến dịch không kích, việc cập nhật tình hình chiến tranh chẳng khác gì việc cập nhật tình hình thời tiết: “Tối nay có không kích.”[11] Một nhà quan sát Mỹ đã nhận xét: “Người Anh chóng chán (các cuộc không kích) còn nhanh hơn với bất kì điều gì khác, và khi nghe còi báo động chẳng còn ai buồn tìm chỗ trú ẩn nữa.”[12]
Vậy còn sự tàn phá về tinh thần dẫn đến các bệnh tâm lý? Chẳng phải trước khi cuộc chiến diễn ra, các chuyên gia đã từng dự đoán rằng sẽ có cả triệu người bị tổn thương về mặt tinh thần sao? Thật kì lạ, chẳng thấy ai mắc bệnh tâm thần cả. Chắc chắn là có nhiều người buồn bã và giận dữ; cũng có cả nỗi đau khủng khiếp trước việc những người thân yêu qua đời. Nhưng các bệnh viện tâm thần vẫn trống trơn. Hài hước là, trên thực tế sức khỏe tinh thần của người dân còn được nâng cao hơn rất nhiều. Nạn nghiện rượu giảm mạnh. Các vụ tự tử còn ít hơn thời bình. Biết đâu đấy, sau khi chiến tranh kết thúc nhiều người Anh lại khao khát trở lại những ngày của chiến dịch Blitz, khi tất cả mọi người đều giúp đỡ nhau, chẳng ai quan tâm đến sự khác biệt về quan điểm chính trị hay khoảng cách giàu nghèo.[13]
Sau này, một sử gia Anh đã đánh giá: “Xã hội Anh được chiến dịch Blitz củng cố theo nhiều cách. Ngược lại, tác động (của chiến dịch) lên Hitler là ông ta đã bị vỡ mộng.”[14]
Khi đưa vào thực tế, những lý thuyết mà Gustave Le Bon trình bày trong cuốn Tâm lý học đám đông đã trở nên lạc lõng hơn bao giờ hết. Khủng hoảng chưa chắc khiến con người bộc lộ những tính cách tồi tệ nhất, mà ngược lại còn phát huy những phần tốt đẹp nhất trong họ. Nếu có gì cần lưu ý, thì đó là người Anh đã tiến thêm vài bậc trên chiếc thang văn minh. Một nhà báo Mỹ từng thổ lộ trong nhật kí của bà: “Trong cảnh cùng cực và bi đát nhất, lòng can đảm, tính hài hước và sự tốt bụng của những người dân thường là nguyên nhân gây ra sự kinh ngạc cho biết bao người.”[15]
Các cuộc ném bom của Đức đã tạo ra những tác động ít ai ngờ tới, đồng thời châm ngòi cho một cuộc tranh luận về chiếc lược mà quân Đức đang sử dụng tại Anh. Khi Không quân Hoàng gia chuẩn bị triển khai biệt đội oanh kích nhằm đánh lại kẻ thù, vấn đề được đặt ra là làm thế nào để đạt được hiệu quả một cách tốt nhất.
Thật kì lạ, theo những bằng chứng đã có, các chuyên gia quân sự của Anh vẫn tán thành ý kiến cho rằng tinh thần của một dân tộc có thể bị quật ngã. Bằng bom đạn ư?! Đúng, nhưng nó không thể áp dụng cho người Anh bởi đây là một quốc gia tự cho mình là thượng đẳng. Không một dân tộc nào trên hành tinh này có thể sánh được với sự điềm tĩnh, dũng cảm cùng sức chịu đựng ngoan cường như họ. Chắc chắn không phải người dân Đức vì họ ở trong “tình trạng thiếu tính tinh thần” đồng nghĩa với việc họ sẽ “không thể chịu đựng nổi một phần tư số bom đạn” mà người Anh hứng chịu.[16]
Trong số những người tán thành quan điểm này có một người bạn thân thiết của Churchill là Frederick Lindemann, còn được biết đến với tên gọi: Tử tước Cherwell. Một bức ảnh hiếm hoi chụp Lindemann đã cho thấy ông là một người cao lớn, tay cầm cây gậy ba-toong, đội mũ quả dưa cùng vẻ mặt lãnh đạm.[17] Trong một cuộc tranh luận gay gắt về chiến lược trên không, Lindemann đã kiên quyết cho rằng cần phải: ném bom mọi công trình. Cũng như Gustave Le Bon, ông có cái nhìn không mấy sáng sủa về phẩm chất của những người dân thường, coi họ rất hèn nhát và dễ hoảng loạn.
Để chứng minh cho luận điểm của mình, Lindemann cử một nhóm bác sĩ tâm thần tới Birmingham và Hull, hai thành phố bị quân Đức ném bom ác liệt nhất. Họ phỏng vấn hàng trăm đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị mất nhà cửa sau chiến dịch Blitz, tìm hiểu những chi tiết nhỏ nhất – thậm chí là cả “số lượng rượu bia đã uống và thuốc aspirin mua ở các hiệu thuốc.”[18]
Vài tháng sau, nhóm nghiên cứu đó đã báo cáo về cho Lindemann. Kết luận được in bằng chữ to ngoài bìa là:
KHÔNG CÓ DẤU HIỆU NÀO CHO THẤY NHUỆ KHÍ SUY SỤP.[19]
Vậy Frederick Lindemann làm gì với kết quả rõ như ban ngày này? Ông phớt lờ nó. Lindemann quả quyết rằng ném bom chiến lược mới là ván cược ăn chắc, và không ai thay đổi được quan điểm này của ông.
Trong bản ghi nhớ mà Lindemann gửi cho Churchill, ông đã trình bày điều hoàn toàn trái ngược về kết quả của cuộc điều tra:
Kết luận của cuộc điều tra cho thấy rằng việc phá hủy nhà cửa đã gây ra mối nguy hiểm rất lớn, làm ảnh hưởng đến tinh thần của người dân. Dường như mọi người đã bận lòng về điều đó hơn là việc bạn bè, thậm chí người thân của họ bị giết hại. Ở Hull, những dấu hiệu về sự căng thẳng hiển hiện một cách rõ ràng, dù chỉ có một phần mười những ngôi nhà bị phá hủy. Theo những con số trên, chúng ta có thể tấn công cả 58 đô thị chính của Đức như cách Đức đã làm với chúng ta. Chắc hẳn điều này có thể bẻ gãy tinh thần của người Đức.[20]
Vậy là chấm dứt cuộc tranh luận về việc ném bom có ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân hay không. Và toàn bộ diễn biến về sau, theo lời một sử gia đã mô tả rằng nó “bốc lên thứ mùi đặc trưng của một cuộc săn phù thủy”.[21] Các nhà khoa học có lương tâm vốn phản đối chiến thuật nhắm vào dân thường Đức thì đều bị lên án là những kẻ hèn nhát, thậm chí là kẻ phản bội.
Trong khi đó, những người chủ trương ủng hộ việc ném bom thì cảm thấy kẻ thù đáng bị giáng một đòn mạnh hơn nữa. Khi Churchill đưa ra tín hiệu tấn công, toàn nước Đức trở thành địa ngục. Và sau khi vụ đánh bom kết thúc, người ta thống kê rằng con số thương vong tại Đức cao gấp mười lần con số thương vong trong toàn bộ chiến dịch Blitz tại Anh. Chỉ trong một đêm, tại Dresden, có nhiều đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị thiệt mạng hơn là trong cả chiến dịch tại London. Hơn một nửa các thị trấn và thành phố của Đức bị phá hủy. Đất nước này đã trở thành một đống gạch vụn khổng lồ âm ỉ cháy.
Suốt thời gian đó, chỉ một lực lượng nhỏ của không quân Đồng minh tấn công các mục tiêu chiến lược như các nhà máy và cầu cống. Cho đến tận những tháng cuối cùng, Churchill vẫn tin rằng cách duy nhất để giành được chiến thắng là thả bom vào những nhóm dân thường thì mới bẻ gãy được tinh thần dân tộc của Đức. Trong tháng 1 năm 1944, một bản ghi nhớ của Không lực Hoàng gia đã hài lòng xác nhận: “Chúng ta càng ném bom, hiệu quả càng cao.”
Ngài Thủ tướng đã nhấn mạnh bằng cách gạch chân các từ này bằng cây bút đỏ nổi tiếng của mình.[22]
Vậy các cuộc ném bom có thực sự mang lại hiệu quả hay không?
Tôi sẽ lại bắt đầu với bản ghi chép của một chuyên gia tâm thần đáng kính. Giữa tháng 5 và tháng 7 năm 1945, bác sĩ Friedrich Panse phỏng vấn gần 100 người Đức có nhà cửa bị phá hủy. Một người đã trả lời rằng: “Sau cuộc ném bom, tôi thực sự cảm thấy tràn đầy sinh lực và châm một điếu xì gà.” Như vậy có thể thấy, tâm trạng chung của mọi người sau cuộc thả bom là đầy hưng phấn “giống như bên thắng cuộc trong trận chiến này vậy.”[23]
Không hề có bất kì một dấu hiệu nào cho thấy người dân đang hoảng loạn. Ngược lại, ở những nơi vừa hứng chịu bom đạn, người dân còn cảm thấy nhẹ nhõm. Panse ghi lại: “Những người hàng xóm đã giúp đỡ nhau. Nếu xem xét mức độ khắc nghiệt và thời gian căng thẳng tâm lý vừa qua, thì thái độ chung là ổn định và tự chủ.”[24]
Các bản tin của tờ Sicherheitsdienst, vốn theo sát chân những người Đức, đã phác thảo một bức tranh tương tự. Sau các cuộc tấn công, mọi người giúp đỡ nhau. Họ kéo các nạn nhân ra khỏi đống đổ nát và dập tắt các đám cháy. Các thành viên của tổ chức Thanh niên Hitler hối hả chăm lo cho những người vô gia cư và những người bị thương. Một chủ tiệm tạp hóa còn đùa giỡn treo một tấm biển trước cửa hiệu của mình: Ở ĐÂY BÁN BƠ THẢM HỌA![25]
(Ổn thôi, dường như người Anh hài hước hơn người Đức thì phải).
Không lâu sau khi quân Đức đầu hàng vào tháng 5 năm 1945, một nhóm các nhà kinh tế học thuộc phe Đồng minh đã tới thăm quốc gia bại trận, đồng thời được Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ giao nhiệm vụ nghiên cứu những tác động mà các vụ ném bom đã gây ra. Chủ yếu là người Mỹ muốn biết liệu chiến thuật này có phải là phương án tốt nhất để giành được chiến thắng hay không.
Những phát hiện của các nhà khoa học rất rõ ràng: các cuộc ném bom vào người dân đã cho thấy chiến thuật này đã thất bại. Thực tế, chúng dường như có vẻ củng cố nền kinh tế thời chiến của Đức, qua đó giúp họ kéo dài cuộc chiến. Sau khi so sánh số liệu giữa hai năm 1940 và 1944, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng việc sản xuất xe tăng tại Đức đã tăng lên gấp chín lần, còn số máy bay chiến đấu tăng mười bốn lần.
Một nhóm các nhà kinh tế học người Anh cũng đã đưa ra kết luận tương tự.[26] Tại 21 thị trấn và thành phố bị tàn phá mà họ điều tra, hoạt động sản xuất đã tăng nhanh hơn cả khu vực có nhóm kiểm soát gồm 14 thành phố không bị ném bom. Một nhà kinh tế học người Mỹ đã nhận xét: “Chúng tôi nhận thấy rằng, chúng tôi đã thực hiện một tính toán sai lầm, nhưng có lẽ là sai lầm thú vị nhất trong cuộc chiến này.”[27]
Điều khiến tôi cảm thấy thích thú nhất về toàn bộ vấn đề đáng tiếc này là tất cả những nhân vật chính đều rơi vào cùng một cái bẫy.
Hitler và Churchill, Roosevelt và Lindemann – tất cả những người đó đều đồng ý với tuyên bố của nhà tâm lý học Gustave Le Bon rằng: trạng thái văn minh của chúng ta mới chỉ tồn tại ở lớp vỏ mỏng bên ngoài thôi. Mọi người đều tin chắc rằng các cuộc không kích sẽ thổi bay lớp vỏ mỏng manh này. Nhưng càng ném bom thì nó lại càng trở nên dày dặn hơn. Có vẻ như nó không hề mỏng chút nào, nói đúng hơn đó là một lớp da chai sần.
Rủi thay, các chuyên gia quân sự đã không kịp nhận thức đầy đủ về vấn đề này. 25 năm sau, quân lực Hoa Kỳ đã trút xuống Việt Nam số lượng bom nhiều gấp ba lần những gì họ trút xuống trong toàn Thế chiến thứ Hai.[28] Lần này Mỹ đã thất bại ở quy mô còn lớn hơn trước. Thậm chí, ngay cả khi bằng chứng hiển hiện trước mắt chúng ta, thì chúng ta vẫn cứ tìm cách phủ nhận nó. Cho tới hôm nay, nhiều người vẫn tin rằng sự kiên cường mà người dân Anh thể hiện trong suốt chiến dịch Blitz được cho là phẩm chất rất riêng của dân Anh.
Nhưng nó không phải là phẩm chất của riêng người Anh. Nó là tính phổ quát của toàn nhân loại.
❀ ❀ ❀
[1] Churchill phát biểu tại Hạ viện ngày 30 tháng 7 năm 1934.
[2] J. F. C. Fuller, The Reformation of War (London, 1923), tr. 150.
[3] Cuốn sách được phát hành ở việt Nam với tựa đề Tâm lý học đám đông.
[4] Gustave Le Bon, The Crowd. A study of the Popular Mind (Kitchener, 2001), tr. 19. Xuất bản lần đầu năm 1896.
[5] Richard Overy, “Hitler and Air Strategy”, Tạp chí Contemporary History (tháng 7 năm 1980), tr. 410.
[6] J. T. MacCurdy, The structure of Morale (Cambridge, 1943), tr. 16.
[7] Trích trong Richard Overy, The Bombing War. Europe 1939-1945 (London, 2013), tr. 185.
[8] Nguyên bản tiếng Anh có chơi chữ “spirits”, vừa mang nghĩa “rượu mạnh”, vừa mang nghĩa “cảm xúc, tâm trạng”. (Tất cả chú thích đánh dấu ✻ là của dịch giả, chú thích đánh số là của tác giả)
[9] Angus Calder, The People’s War. Britain 1939-1945 (London, 1991), tr. 174.
[10] Overy, The Bombing War, tr. 160.
[11] Robert Mackay, Half the Battle: Civilian Morale in Britain During the Second World War (Manchester, 2002), tr. 261.
[12] Trích trong Overy, The Bombing War, tr. 145. Đầu năm 1941, chỉ 8% hầm trú ẩn là được sử dụng. Xem Overy, tr. 137.
[13] Sebastian Junger, Tribe. On Homecoming and Belonging (London, 2016).
[14] Richard Overy, “Civilians on the frontline”, Observer (ngày 6 tháng 9 năm 2009).
[15] Mollie Panter-Downes, London War Notes 1939-1945 (New York, 1971), tr. 105.
[16] Overy, The Bombing War, tr. 264.
[17] Thậm chí những người bạn biết rõ Frederick Lindemann cũng mô tả ông ấy như là người “luôn nghĩ rằng mình đúng mọi việc, không bao giờ sẵn sàng nhượng bộ hay thừa nhận thất bại”, “có khuynh hướng coi các quan điểm trái ngược với mình là một sự xúc phạm cá nhân” và “không bao giờ ngại phê phán một chủ đề kể cả khi ông ấy không hiểu”. Xem Hugh Berrington, ‘When does Personality Make a Difference? Lord Cherwell and the Area Bombing of Germany’, Tạp chí International Political Science (tháng 1 năm 1989).
[18] Brenda Swann và Francis Aprahamian, J. D. Bernal. A Life in Science and Politics (London, 1999), tr. 176. Hai nghìn trẻ em được giao viết các bài luận về những trải nghiệm của chúng. Ngày nay đọc những bài luận ấy, sự dũng cảm của chúng thật đáng ngạc nhiên. “Tôi bị vùi lấp, bị thương nhưng tôi vẫn giúp kéo những xác người và người bị thương ra,” một cậu bé 10 tuổi viết về ngôi nhà bị phá hủy của cậu. Xem Martin L. Levitt, “The Psychology of Children: Twisting the Hull-Birmingham Survey to Influence British Aerial Strategy in World War II”, Psychologic und Geschichte (tháng 5 năm 1995).
[19] Solly Zuckerman, From Apes to Warlords. An Autobiography, 1904-1946 (London năm 1988), tr. 405. Trong bản in đầu tiên của cuốn sách này, xuất bản năm 1978, Zuckerman thêm vào trang tiêu đề của báo cáo Hull như một phụ lục, vì thế vi phạm lệnh cấm vận có hiệu lực cho tới năm 2020.
[20] Charles Webster và Noble Frankland, The Strategic Air Offensive Against Germany 1935-1945 (London, 1961), tr. 332.
[21] C. T.R. Snow, “Whether we live or die”, tạp chí Life (ngày 3 tháng 2 năm 1961), tr. 98.
[22] Overy, The Bombing War, tr. 356.
[23] Jorg Friedrich, The Fire. The Bombing of Germany 1940-1945 (New York, 2006), tr. 438.
[24] Friedrich Panse, Angst und Schreck (Stuttgart, 1952), tr. 12.
[25] Friedrich, The Fire, tr. 418-20.
[26] Báo cáo của Anh không được đưa ra cho tới 50 năm sau. Xem Sebastian Cox (chủ biên), Cơ quan Khảo sát Bom đạn Anh, The Strategic Air War Against Germany, 1939-1945. Báo cáo chính thức của Cơ quan Khảo sát Bom đạn Anh (London, 1998).
[27] John Kenneth Galbraith, A Life in Our Times (Boston, 1981), tr. 206. Một câu hỏi trị giá cả triệu đô la, dĩ nhiên là điều gì sẽ xảy ra nếu phe Đồng minh đầu tư ít hơn cho không quân của họ và nhiều hơn cho lục quân và hải quân? Sau Thế chiến thứ Hai, người nhận giải Nobel là Patrick Blackett viết rằng lẽ ra chiến tranh sẽ kết thúc sớm hơn 6 đến 12 tháng. Và người Đức cũng có kết luận tương tự. Albert Speer, Bộ trưởng Bộ Vũ trang và sản xuất Chiến tranh, nói ông ấy lo lắng nhất là các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng của Đức, trong khi tư lệnh Không quân Hermann Göring chủ yếu nhớ các cuộc tấn công vào các nhà máy lọc dầu của Đức. Đến mùa thu năm 1944, dự trữ dầu của Đức giảm sút. Xe tăng chết máy, máy bay bị kẹt trong hầm chứa và pháo được ngựa kéo đi. Nhưng điều đó không ngăn cản người Anh ném bom dân thường Đức. Trong ba tháng cuối năm 1944, 53% vụ ném bom nhắm vào các vùng đô thị, và chỉ 14% nhằm vào các nhà máy lọc dầu. Đến lúc đó, người Anh thực tế đã ngừng sử dụng hỏa tiễn, biết rằng chẳng còn gì nhiều để cháy. Trong khi đó, sản xuất dầu của Đức phục hồi. Xem Max Hastings, Bomber Command (London, 1979), tr. 327-34.
[28] Edward Miguel và Gerard Roland, “The Long Run Impact of Bombing Vietnam”, Tạp chí Development Economics (tháng 9 năm 2011), tr. 2.