Chúng ta tạm thời trở lại với bức tranh mà Thomas Hobbes đã vẽ về những con người đầu tiên đi lại trên trái đất. Ông tin rằng một cuộc sống không bị ràng buộc đẩy tổ tiên của chúng ta vào một “cuộc chiến tranh tất cả chống lại tất cả”. Điều này cũng đồng nghĩa với việc chúng ta nên đón nhận những Leviathan (thủ lĩnh và vua chúa) đầu tiên và sự an toàn mà họ hứa hẹn sẽ mang đến cho chúng ta. Hobbes nói vậy.
Giờ đây chúng ta biết rằng, tổ tiên du mục của chúng ta thực tế đã từng trốn chạy những tên bạo chúa này. Những nhà nước đầu tiên – hãy nghĩ đến Uruk ở Lưỡng Hà hay Ai Cập của các pharaoh – là những nhà nước nô lệ.[1] Người ta không chọn cách sống chen chúc cùng nhau, nhưng luôn bị dồn ép bởi những thể chế lúc nào cũng thèm khát những thần dân mới, bởi vì nô lệ của họ liên tục chết vì đậu mùa và dịch hạch. (Không phải ngẫu nhiên mà Kinh Cựu ước lại vẽ những thành phố bằng thứ ánh sáng tiêu cực như vậy. Từ Tháp Babel bất thành tới vụ phá hủy Sodom và Gomorrah, sự trừng phạt của Chúa đối với các thành phố ngập tràn tội lỗi rất thẳng thắn và quyết liệt).
Thật mỉa mai! Những thứ mà ngày nay chúng ta tán dương là “những dấu mốc đánh dấu sự phát triển của nền văn minh” như việc phát minh ra tiền, sự ra đời và phát triển của chữ viết, hay sự ra đời của các thiết chế pháp lý – khởi đầu đều là các công cụ áp bức. Hãy xem những đồng xu đầu tiên: chúng ta không hề đúc tiền vì chúng ta nghĩ nó sẽ làm cho cuộc sống dễ dàng hơn, mà bởi vì các nhà cai trị muốn thu thuế một cách triệt để và hiệu quả nhất.[2] Hoặc hãy nghĩ về những văn bản viết tay sớm nhất: đây không phải là những cuốn sách về thi ca lãng mạn mà là những danh sách dài dằng dặc các khoản nợ.[3]
Và những thiết chế pháp lý là gì? Bộ luật Hammurabi huyền thoại, bộ luật đầu tiên, chứa đầy những hình phạt đối với các hành động giúp nô lệ trốn thoát.[4] Ở Athens cổ đại, cái nôi của nền dân chủ phương Tây, hai phần ba dân số là nô lệ. Những nhà tư tưởng vĩ đại như Plato và Aristotle tin rằng không có chế độ nô lệ thì không thể có nền văn minh.
Có lẽ, minh họa thuyết phục nhất về bản chất đích thực của các nhà nước là Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, một kì quan thế giới nhằm ngăn chặn “đám man rợ” nguy hiểm tiến vào – nhưng cũng để nhốt thần dân bên trong. Nó đã rất hiệu quả làm cho đế chế Trung Hoa trở thành nhà tù ngoài trời lớn nhất mà thế giới từng biết.[5]
Có một sự kiêng kị đau đớn trong quá khứ của nước Mỹ mà hầu hết các sách lịch sử đều im lặng. Một trong số ít người sẵn sàng thừa nhận điều đó là Người cha Lập quốc Benjamin Franklin. Cũng trong khoảng thời gian Rousseau đang viết cuốn sách của mình, Franklin đã thừa nhận rằng: “Không người châu Âu nào từng nếm trải cuộc sống man rợ, sau đó có thể chịu được việc sống trong xã hội chúng ta.”[6] Ông mô tả những người đàn ông và phụ nữ da trắng “văn minh” bị người da đỏ bắt và sau khi được thả sẽ “chớp lấy cơ hội đầu tiên để trốn vào Rừng”.
Hàng trăm người, vốn đi xâm chiếm thuộc địa lại trốn chạy vào những nơi hoang dã để sống, trong khi điều ngược lại hiếm khi xảy ra.[7] Và ai có thể trách họ? Khi sống như những thổ dân, họ được hưởng nhiều quyền tự do hơn khi là những nông dân và người đóng thuế. Thậm chí với phụ nữ, sự hấp dẫn này còn lớn hơn. “Chúng tôi có thể ung dung làm bất cứ điều gì tùy ý muốn,” một phụ nữ đi khai phá thuộc địa đã cố gắng trốn chạy khỏi những người đồng hương được cử đến để “giải cứu” cô ấy.[8] Một phụ nữ khác lại nói với nhà ngoại giao Pháp rằng: “Ở đó, tôi không có ông chủ. Tôi sẽ kết hôn nếu tôi muốn và độc thân khi tôi thích. Liệu trong các thành phố của ngài, có người phụ nữ nào được tự do như tôi không?”[9]
Trong những thế kỉ gần đây, toàn bộ các tủ sách đều viết về sự trỗi dậy và sụp đổ của các nền văn minh. Hãy nghĩ đến những kim tự tháp bị cây cối phủ kín của người Maya hay các đền thờ bỏ hoang của người Hy Lạp.[10] Để củng cố thêm cho những cuốn sách này là giả thiết cho rằng, khi nền văn minh suy sụp, mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ hơn, đẩy thế giới vào những “đêm trường Trung cổ”.
Các học giả hiện đại gợi ý rằng sẽ chính xác hơn nếu mô tả những đêm trương Trung cổ ấy như một sự cứu giúp tạm thời, khi những người nô lệ giành lại quyền tự do của họ, bệnh lây nhiễm ít hơn, chế độ dinh dưỡng được cải thiện và văn hóa phát triển. Trong cuốn sách tuyệt vời của mình Against the Grain (tạm dịch: Phản đối ngũ cốc), nhà nhân chủng học James C. Scott chỉ ra rằng những kiệt tác như Iliad và Odyssey khởi nguồn từ Thời kì Homeros hay Kỉ nguyên bóng tối (khoảng 1110 TCN – 700 TCN) ngay sau sự sụp đổ của nền văn minh Mycenae. Phải mãi cho đến tận rất lâu sau này, chúng mới được Homer ghi lại.[11]
Vậy tại sao nhận thức của chúng ta về “những kẻ man di mọi rợ” lại tiêu cực như vậy? Tại sao chúng ta lại tự động đánh đồng việc thiếu “văn minh” đồng nghĩa với thời kì mông muội? Lịch sử, như chúng ta biết, được viết bởi bên thắng cuộc. Những tài liệu cổ xưa nhất đầy rẫy chuyện tuyên truyền cho các nhà nước và các vị vua, được ban hành bởi những kẻ áp bức tìm cách tâng bốc bản thân trong khi xem thường tất cả những người khác. Nguồn gốc của từ “mọi rợ” dùng để chỉ bất kì ai không nói tiếng Hy Lạp cổ đại.
Đó là cách cảm nhận lịch sử bị đảo lộn của chúng ta. Văn minh trở thành từ đồng nghĩa với hòa bình và tiến bộ, và mông muội gắn với chiến tranh và suy tàn. Trên thực tế, trong hầu hết tiến trình tồn tại của xã hội loài người, những điều đó có ý nghĩa hoàn toàn khác.
❀ ❀ ❀
[1] Scott, Against the Grain, tr. 27-9.
[2] Để có cái nhìn tổng thể lịch sử sâu rộng, xem David Graeber, Debt. The First 5,000 Years (London, 2011).
[3] Scott, Against the Grain, tr. 139-49.
[4] Như trên, tr. 162.
[5] Owen Lattimore, “The Frontier in History”, trong Studies in Frontier History: Collected Papers, 1928-1958 (London, 1962), tr. 469-91.
[6] Bruce E. Johansen, Forgotten Founders (Ipswich, 1982), Chương 5.
[7] James W. Loeven, Lies My Teacher Told Me. Everything Your American History Textbook Got Wrong (2005), tr. 101-2.
[8] Junger, Tribe, tr. 10-11.
[9] Như trên, tr. 14-15.
[10] Biểu tượng của thế tài này là cuốn The Decline and Fall of the Roman Empire (1776) của Edward Gibbon. Một cuốn sách ăn khách thời hiện đại là Collapse (2005) của Jared Diamond.
[11] Một số học giả đặt câu hỏi rằng liệu Iliad và Odyssey có nên gán hểt cho một cá nhân hay không, gợi ý rằng cái tên Homer nên được xem như một nhãn hiệu gắn với một câu chuyện Hy Lạp hay. Điều này có nghĩa là Homer chưa bao giờ tồn tại.