Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1195 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
03

❊ ❊ ❊

Khi tôi đến văn phòng của ông ấy tại Đại học Leiden, tôi đã nghe thấy bản cantata của Bach. Khi tôi gõ cửa, một người đàn ông mặc chiếc áo hoa hòe hoa sói xuất hiện giữa những chồng sách.

Tuy Boersema là một nhà sinh vật học môi trường, nhưng các giá sách của ông chật ních những cuốn sách về lịch sử, triết học và công việc của ông liên quan đến cả lĩnh vực nghệ thuật và khoa học. Năm 2002, cách tiếp cận này dẫn ông tới một phát hiện tuy đơn giản nhưng sâu sắc trái ngược với tất cả những gì chúng ta biết về đảo Phục Sinh, ông nhận ra điều gì đó mà nhiều nhà nghiên cứu và nhà văn khác đã không thấy – hoặc có thể họ không muốn thấy.

Khi đó, Boersema đang chuẩn bị cho bài giảng đầu tiên của mình với tư cách một giáo sư, ông cần một chút bối cảnh về sự suy tàn của đảo Phục Sinh. Vì không biết cuốn nhật kí của Roggeveen có còn tồn tại không, ông đã đến thư viện để kiểm tra. Nửa tiếng sau, ông đã tìm được cuốn Journal of the Voyage of Discovery of Mr. Jacob Roggeveen (tạm dịch: Nhật kí hải trình về những phát hiện của Ngài Jacob Roggeveen), sau đó ông bắt đầu đọc nó.

“Mới đầu, tôi không tin vào những điều mà tôi đang đọc”. Boersema cho rằng sẽ tìm thấy những chi tiết kinh khủng chẳng hạn như việc tàn sát và ăn thịt đồng loại, nhưng hóa ra điều mà ông đang đọc lại là một nhật kí vui vẻ. “Chẳng hề cho thấy dấu hiệu gì về một xã hội suy tàn.”

Jacob Roggeveen mô tả cư dân đảo Phục Sinh thân thiện, khỏe mạnh, với cơ bắp cuồn cuộn và hàm răng trắng sáng. Họ không xin xỏ thực phẩm, ngược lại họ còn chu cấp thêm cho thủy thủ đoàn Hà Lan. Roggeveen nhận thấy đất đai trên đảo “đặc biệt màu mỡ”, không có chi tiết nào nhắc đến những bức tượng bị kéo đổ thì nói gì đến những vũ khí và tình trạng ăn thịt đồng loại. Thay vào đó, ông mô tả hòn đảo như một “thiên đường trên mặt đất”.

“Cho nên khi ấy tôi đã thắc mắc, không biết chuyện gì đang diễn ra ở đây?” Boersema cười.

Jan Boersema là một trong những nhà khoa học đầu tiên thể hiện sự nghi ngờ trước câu chuyện được chấp nhận rộng rãi về sự suy tàn của đảo Phục Sinh. Khi tôi đọc bài giảng năm 2002 của Boersema, trong tôi hiện lên suy nghĩ rằng lịch sử đảo Phục Sinh giống như một câu chuyện bí mật thú vị: một truyện trinh thám khoa học. Vì vậy, cũng như Boersema, chúng ta hãy từ từ tìm hiểu bí mật này. Chúng ta sẽ xác minh những bài viết của nhân chứng, xem xét từng chứng cứ ngoại phạm của cư dân trên đảo, xác định dòng thời gian chính xác nhất và nghiên cứu kĩ các vũ khí giết người. Chúng ta sẽ phải huy động nhiều ngành tham gia vào cuộc điều tra của mình, từ lịch sử tới địa lý, từ nhân chủng học tới khảo cổ học.[1]

Hãy bắt đầu bằng việc quay trở lại chi tiết: đường hào nơi tộc Tai dài ẩn náu và bị tiêu diệt vào năm 1680. Chúng ta lấy câu chuyện man rợ này từ nguồn nào?

Tài liệu đầu tiên chúng ta có là những kí ức người dân đảo Phục Sinh chia sẻ với Katherine Routledge vào năm 1914. Giờ đây, mọi điều tra viên đều biết rằng trí nhớ con người có thể sai, và chúng ta đang phải xử lý những kí ức được truyền khẩu qua nhiều thế hệ. Hãy hình dung chúng ta phải giải thích những việc tổ tiên mình đã làm cách đây hai hoặc ba trăm năm. Sau đó tưởng tượng chúng ta không hề có sách lịch sử và chỉ có thể dựa vào kí ức về những câu chuyện mà người dân trên đảo nhớ được.

Kết luận là gì ư? Có lẽ những ghi chép của Routledge không phải là nguồn đáng tin nhất.

Tuy nhiên, những lời đồn không phải là bằng chứng duy nhất về vụ tàn sát. Một thành viên trong đoàn thám hiểm của Thor Heyerdahl, nhà khảo cổ Carlyle Smith, bắt đầu khai quật quanh đường hào được cho là địa điểm của vụ tàn sát người Tai dài. Ông lấy hai mẫu than củi và gửi đi xác định niên đại. Một mâu được thu hẹp về năm 1676. Vối Smith, việc này không còn gì phải nói nữa. Vì niên đại tương ứng với thời gian truyền khẩu nhắc đến vụ tàn sát và thiêu tộc Tai dài nên ông tin rằng câu chuyện đã được xác minh.[2]

Mặc dù sau này Smith đã đưa ra một số cảnh báo khi sử dụng cách diễn giải này, và mặc dù những phân tích đã xác định lại niên đại của mẫu than là trong khoảng 1460-1817, và dù không thể tìm thấy bất kì bộ hài cốt nào ở vị trí đó, cùng với việc các nhà địa lý xác định rằng đường hào không phải do con người đào mà là có sẵn trong tự nhiên, nhưng câu chuyện hoang đường về vụ tàn sát năm 1680 vẫn tiếp tục tồn tại.[3] Nó vẫn được Heyerdahl, Mulloy và Diamond nhắc đến.

Còn lý lẽ về việc xảy ra chiến tranh giữa các bộ lạc càng trở nên yếu ớt hơn khi được xem xét dưới ánh sáng của bằng chứng pháp y. Giả thuyết là người dân đảo ăn thịt lẫn nhau vì họ bị đói. Nhưng phân tích khảo cổ gần đây đối với các bộ xương của hàng trăm cư dân đã xác định rằng, thực tế, những quan sát của Roggeveen đều đúng: những người sống trên đảo Phục Sinh ở đầu thế kỉ 18 rất khỏe mạnh và vạm vỡ.[4] Chẳng có dấu hiệu nào cho thấy họ bị đói cả.

Vậy những manh mối cho thấy tình trạng bạo lực tràn lan thì sao?

Một nhóm các nhà nhân chủng học ở Viện Smithsonian gần đây đã kiểm tra 469 hộp sọ từ đảo Phục Sinh và không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy có chiến tranh quy mô lớn giữa những người bản xứ. Thực tế, chỉ có hai hộp sọ có dấu vết tổn thương, nhưng có thể là do họ sử dụng một trong những mata’a (mũi tên đá vỏ chai) khét tiếng, ít nhất giả thuyết là như vậy.[5]

Nhưng giới khoa học không còn tin mata’a là vũ khí. Nhiều khả năng chúng giống như những con dao đẽo gọt thông dụng – giống mảnh đá vỏ chai mà một trong những thuyền trưởng của Roggeveen quan sát một người bản xứ sử dụng để lột vỏ chuối. Năm 2016, sau khi kiểm tra 400 chiếc mata’a, một nhóm nghiên cứu người Mỹ kết luận, nếu chúng đúng là vũ khí thì đó đều là những vũ khí vô dụng: bởi chúng đều quá cùn.[6]

Đấy là chưa nói đến việc cư dân đảo Phục Sinh không hề biết cách chế tạo những vũ khí giết người. Nhưng, như trưởng nhóm nghiên cứu nhận xét: “Họ lựa chọn không làm vậy.”[7]

Vậy nếu họ không giết hại lẫn nhau thì điều gì đã xảy ra với hàng nghìn người từng sống trên đảo? Tất cả bọn họ đã đi đâu? Roggeveen kể với chúng ta chỉ có vài nghìn người sống trên đảo khi ông tới đây, trong khi có thời điểm, theo Jared Diamond, có tới 15.000 người. Thế thì chúng cứ ngoại phạm của họ là gì?

Hãy bắt đầu bằng việc xem xét phương pháp Diamond đã dùng để cho ra được con số này. Trước hết ông phán đoán xem đã từng có bao nhiêu ngôi nhà trên đảo, dựa trên những hài cốt khảo cổ học. Tiếp theo ông ước lượng số người sống trong một căn nhà. Và để hoàn tất tính toán của mình, ông đã làm tròn. Nghe không giống một công thức khoa học lắm.

Chúng ta có thể ước tính dân số chính xác hơn nếu chúng ta xác định khung thời gian mà thảm kịch xảy ra. Ban đầu, có người cho rằng đảo Phục Sinh được con người đến cư trú vào khoảng năm 900, thậm chí là từ năm 300. Nhưng gần đây hơn, công nghệ tiên tiến đã xác định niên đại này muộn hơn nhiều, vào khoảng năm 1100.[8]

Sử dụng niên đại muộn hơn này, Jan Boersema đã làm một phép tính đơn giản, cứ cho rằng khoảng 100 cư dân Polynesian vượt biển đặt chân lên đảo Phục Sinh vào năm 1100. Và cho rằng dân số tăng 0,5%/năm (số tối đa đạt được bởi những xã hội tiền công nghiệp). Điều này có nghĩa là có thể có tới 2.200 cư dân vào thời điểm Roggeveen đến. Con số này hoàn toàn ăn khớp với những ước tính được các nhà hàng hải châu Âu dừng chân trên đảo vào thế kỉ 18 ghi lại.

Điều đó có nghĩa là hàng nghìn cư dân đảo Phục Sinh bị cho là đã tra tấn, giết hại và ăn thịt lẫn nhau đã có chứng cứ ngoại phạm tuyệt vời.

Họ chưa bao giờ tồn tại cả.

Câu đố cần được trả lời tiếp theo đó là điều gì đã xảy ra với các khu rừng trên đảo Phục Sinh. Nếu Jared Diamond, William Mulloy và rất nhiều nhà khoa học khác đáng tin cậy thì toàn bộ cây cối đã bị chặt hạ bởi những cư dân tham lam muốn dựng càng nhiều tượng moai càng tốt. Thậm chí, một sử gia người Canada còn đi xa tới mức cho rằng cư dân trên đảo mắc “chứng cuồng” và “bệnh học ý thức hệ”.[9]

Tuy nhiên nếu bạn chịu khó tính toán một chút, bạn sẽ nhận ra rằng kết luận này có phần hơi hấp tấp. Boersema cho rằng cần khoảng 11 cái cây để lăn một bức tượng đá vào vị trí, như vậy, để di chuyển 1.000 tượng thì cần tối đa 15.000 cây. Vậy có bao nhiêu cây trên đảo? Theo nghiên cứu sinh thái học thì có đến hàng triệu – thậm chí tới 16 triệu cây![10]

Thậm chí, phần lớn các bức tượng này còn chưa hề rời Rano Raraku, mỏ đá nơi chúng được đẽo gọt. Nhưng thay vì cho rằng chúng bị “bỏ mặc” khi đảo đột nhiên rơi vào nội chiến, giờ đây các nhà khoa học cho rằng chúng được bỏ lại đó một cách có chủ ý để làm “những người canh gác” mỏ đá.[11]

Rốt cuộc, 493 bức tượng đã được lăn tới chỗ khác, con số đó nghe có vẻ rất nhiều, nhưng chớ quên rằng suốt hàng trăm năm, đảo Phục Sinh chỉ có cư dân đảo, không người lạ nào. Như vậy, họ chỉ di chuyển nhiều nhất một hoặc hai bức tượng mỗi năm. Tại sao họ không dừng lại với một tá tròn? Boersema ngờ rằng lời giải thích đơn giản là do sự buồn tẻ: “Sống trên một hòn đảo như thế, về cơ bản bạn có rất nhiều thời gian rảnh. Những việc như đục đẽo, vận chuyển như vậy giúp tiêu tốn thời gian trong ngày.”[12]

Tôi nghĩ việc tạo ra moai thật sự được xem là một sự kiện lao động tập thể, giống như việc xây dựng quần thể đền thờ ở Göbekli Tepe diễn ra vào hơn 10.000 năm trước (xem Chương 5). Hoặc gần đầy hơn trên đảo Nias, phía tây Sumatra, nơi vào đầu thế kỉ 20, người ta nhìn thấy có tới 525 người đàn ông kéo một bức tượng đá lớn trên xe trượt tuyết bằng gỗ.[13]

Không nghi ngờ gì nữa, mặc dù những công việc nặng nhọc như vậy có thể được làm theo cách hiệu quả hơn, nhưng đó không phải là mấu chốt. Đây không phải là những dự án lớn mà một kẻ trị vì hoang tưởng tự đại nào đó thèm muốn. Đó là nghỉ thức để cả một cộng đồng tập hợp và kết nối với nhau.

Xin đừng hiểu nhầm: cư dân đảo Phục Sinh đã chặt hạ một lượng lớn cây cối. Không chỉ để di chuyển moai, mà còn để thu hoạch chất nhựa của cây, đóng thuyền và lấy đất trồng trọt. Cho dù vậy, khi phải giải thích về sự biến mất của toàn bộ rừng, có một thủ phạm chắc chắn hơn, tên nó Rattus exulans – loài chuột Polynesia.

Loài gặm nhấm này có lẽ những kẻ đầu tiên đi lậu vé trên những chiếc thuyền để đến được đây, và với việc không có những kẻ săn mồi tự nhiên trên đảo Phục Sinh, chúng được tự do sinh trưởng. Trong phòng thí nghiệm, cứ 47 ngày chuột lại tăng gấp đôi. Điều đó có nghĩa là chỉ trong 3 năm, một cặp chuột có thể tạo ra 17 triệu con cháu.

Đây là thảm họa sinh thái thật sự trên đảo Phục Sinh. Các nhà sinh vật nghi ngờ những con chuột sinh sôi rất nhanh này đã ăn sạch hạt của cây cối, làm chậm sự phát triển của những khu rừng.[14]

Với cư dân đảo Phục Sinh, mất rừng không phải chuyện lớn, bởi vì cứ mỗi cái cây đổ xuống lại có thêm đất trồng trọt. Trong một bài viết được xuất bản vào năm 2013, nhà khảo cổ Mara Mulrooney chứng minh rằng sản xuất lương thực thực tế đã tăng sau khi cây cối biến mất, nhờ vào việc áp dụng các kĩ thuật canh tác điêu luyện như xếp các lớp đá thấp để bảo vệ cây trồng trước những cơn gió biển đồng thời giữ nhiệt và độ ẩm.[15]

Thậm chí, các nhà khảo cổ học cho rằng nếu dân số đạt tới 15.000 người thì vẫn còn thừa lượng thực. Mulrooney còn đi xa tới mức gợi ý rằng đảo Phục Sinh có lẽ “cho thấy sự khéo léo của con người có thể đem đến thành công thay vì thất bại”.[16]

❀ ❀ ❀

[1] Jan J. Boersema, The Survival of Easter Island. Dwindling Resources and Cultural Resilience (Cambridge, 2015).

[2] Carlyle Smith, “The Poike Ditch”, trong Thor Heyerdahl (biên tập), Archeology of Easter Island. Reports of the Norwegian Archaeological Expedition to Easter Island and the East Pacific (Phần 1, 1961), tr. 385-91.

[3] Carl TR. Lipo và Terry L. Hunt, “A.D. 1680 and Rapa Nui Prehistory”, Asian Perspectives (so 2, 2010). Xem thêm Mara A. Mulrooney chủ biên, ‘The myth of A.D. 1680. New Evidence from Hanga Ho’onu, Rapa Nui (Easter Island)’, tạp chí Rapa Nut (tháng 10 năm 2009).

[4] Caroline Polet, “Indicateurs de stress dans un échantillon d’anciens Pascuans” Antropo (2006), tr. 261-70.

[5] Xem Vincent H. Stefan chủ biên (biên tập), Skeletal Biology of the Ancient Rapanui (Easter Islanders), (Cambridge, 2016).

[6] Carl TR. Lipo chủ biên, “Weapons of War? Rapa Nui Mata’a Morphometric Analyses”, Antiquity (tháng 2 năm 2016), tr. 172-87.

[7] Kristin Romey, “Easter Islanders’ Weapons Were Deliberately Not Lethal”, National Geographic (ngày 22 tháng 2 năm 2016).

[8] Terry L. Hunt và Carl TR. Lipo, “Late Colonization of Easter Island”, Science (ngày 17 tháng 3 năm 2006).

[9] Ronald Wright, A Short Histoiy of Progress (Toronto, 2004), tr. 61.

[10] Hans-Rudolf Bork và Andreas Mieth, “The Key Role of the Jubaea Palm Trees in the History of Rapa Nui: a Provocative Interpretation”, tạp chí Rapa Nui (tháng 10 năm 2003).

[11] Nicolas Cauwe, “Megaliths of Easter Island”, Proceedings of the International Conference “Around the Petit-Chausseur Sit” (Sion, 2011).

[12] Các nhà khảo cổ Carl Lipo và Terry Hunt nghĩ một vài bức tượng được “đi” thẳng đứng tới vị trí nhờ dùng chão, không phải cây, theo cách giống như bạn di chuyển một chiếc tủ lạnh hoặc máy giặt. Phương pháp này cũng cần ít người hơn. Xem Carl Lipo và Terry Hunt, The Statues that Walked. Unraveling the Mystery of Easter Island (New York, 2011). Câu chuyện của Lipo và Hunt phổ biến trên truyền thông, nhưng Jan Boersema vẫn tin hầu hết các bức tượng được lăn trên các thân cây bởi những toán người đông đảo, vì hiệu quả không phải là nhân tố khích lệ đằng sau những sự kiện làm việc tập thể như vậy.

[13] E. E. w. Schroeder, Nias. Ethnographische, geographische en historische aanteekeningen en studien (Leiden, 1917).

[14] S. S. Barnes, Elizabeth Matisoo-Smith và Terry L. Hunt, “Ancient DNA of the Pacific Rat (Rattus exulans) from Rapa Nui (Easter Island)’, tạp chí Archaeological Science (tập 33, tháng 11 năm 2006).

[15] Mara A. Mulrooney, “An Island-Wide Assessment of the Chronology of Settlement and Land Use on Rapa Nui (Easter Island) Based on Radiocarbon Data”, tạp chí Archaeological Science (so 12, 2013). Phải chăng chuột không hề gây ra vấn đề cho nông nghiệp trên đảo? Boersema nghĩ là không. “Hầu hết hoa màu lương thực là các loại củ,” ông giải thích, “mọc dưới đất. Và chuối mọc trên những cây nhỏ nên kém thu hút chuột hơn.”

[16] “Easter Island Collapse Disputed By Hawaii Anthropologist”, Huffington Post (ngày 6 tháng 12 năm 2017).

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.